Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

Nhận diện đúng về quan điểm sai trái, thù địch?

 Những năm gần đây, các thế lực thù địch gia tăng tốc độ, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình" để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong chiến lược này, chúng tập trung tấn công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và chúng coi đây là mũi đột phá. 

Trước hết, quan điểm sai trái là cách nhìn nhận thiên lệch, phiến diện, không đúng với lẽ thường, hoặc xa lạ với cách nhìn nhận của cộng đồng, xã hội. Quan điểm sai trái đi chệch hoặc ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc điểm của quan điểm sai trái thể hiện:

(1) Nhận thức và nhìn nhận phiến diện, méo mó, sai lệch vấn đề nào đó so với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói sai, nghĩ sai về các vấn đề trong đời sống xã hội, thường là cường điệu hóa, “vơ đũa cả nắm".

(2) Việc hình thành các quan điểm sai trái là một quá trình tích tụ lâu dài, âm ỉ, do sự tác động của các yếu tố bên ngoài, nhất là các thế lực thù địch. Do thiếu hiểu biết, nhận thức kém, nên dao động về ý thức và nhận thức chính trị; thiếu hoặc không có thông tin chính thống, trong khi lại tin vào thông tin sai lệch, tràn lan trên mạng xã hội.

(3) Những quan điểm sai trái có tác động đến tâm trạng và suy nghĩ của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tùy mức độ ảnh hưởng mà có thể tác động trực tiếp, gián tiếp, nhanh hay chậm, sâu sắc hay chừng mực nào đó.

Quan điểm thù địch là quan điểm của các thế lực phản động, kẻ thù của giai cấp, của dân tộc, của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang phấn đấu xây dựng. Đó là những quan điểm đối nghịch, điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình", nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Quan điểm thù địch do các tổ chức phản động và các cá nhân đưa trên các phương tiện truyền thông phản động, trên internet, mạng xã hội.

Trên thế giới hiện nay có hàng trăm mạng xã hội khác nhau, trong đó Facebook có số lượng người sử dụng đứng hàng thứ nhất, với hơn 2,4 tỷ người. Ở Việt Nam, một quốc gia có dân số khoảng 98 triệu người, nhưng có đến 145,8 triệu thuê bao di động và 68,1 triệu người sử dụng internet. Việt Nam hiện có trên 800 mạng xã hội được cấp phép, đáng chú ý là Facebook, YouTube, Zalo... 

Từ khi du nhập vào Việt Nam năm 1997 đến nay, bên cạnh những mặt tích cực, internet đã và đang trở thành môi trường màu mỡ cho hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Có thể khẳng định rằng, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông phản động và mạng xã hội. Qua đó chúng phủ định các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ định, xuyên tạc các giá trị lịch sử dân tộc và thành quả cách mạng; bôi nhọ, hạ uy tín cá nhân các lãnh đạo Đảng, Nhà nước; truyền bá tư tưởng chính trị đối lập; tác động vào quá trình xây dựng pháp luật của Nhà nước ta...

Vì vậy, trong quá trình thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW, cần xác định rõ đâu là quan điểm sai trái, đâu là quan điểm thù địch để khoanh vùng đấu tranh, phản bác, nhất là phân biệt cho được quan điểm sai lầm và quan điểm sai trái.

 Quan điểm sai trái là những quan điểm phản ánh không đúng hiện thực khách quan, tức là sai lầm nhưng trái với đường lối, quan điểm của Đảng. Như vậy, quan điểm sai lầm khác với quan điểm sai trái ở mức độ và tính chất. Ai cũng có thể mắc sai lầm vì năng lực, tư duy, vì phương pháp nhận thực thiếu khoa học, thiếu dữ kiện. 

Nhưng quan điểm sai lầm đối lập với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là sai lầm có phạm vi ảnh hưởng lớn, có tính chất nghiêm trọng, trở thành sai trái cần phải đấu tranh, phản bác.

Quan điểm thù địch bao hàm cả những quan điểm sai trái, nhưng khác nhau về mục đích và mức độ. Mục đích của quan điểm thù địch là có chủ ý, mang tính phá hoại. Cho nên phải kiên quyết đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc trong đồng bào Khmer

 Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, chung sống từ lâu đời với nhiều nét văn hóa, phong tục, tập quán có sự đan xen, liên kết chặt chẽ giữa cộng đồng các dân tộc, trong đó có cộng đồng Kinh - Khmer nên việc tồn tại các vấn đề về dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử đất nước là một quy luật, mang tính lịch sử. Chính vì vậy, cùng với giai cấp, dân tộc là một vấn đề tồn tại song hành trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.


Triệt để lợi dụng các vấn đề do lịch sử để lại, cũng như những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng người Khmer và mâu thuẫn xã hội phát sinh thời gian qua, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cực đoan về dân tộc, tôn giáo hoặc các tổ chức, cá nhân không ngừng gia tăng hoạt động tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch tác động đến nhận thức, hành động của đồng bào dân tộc người Khmer để lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc, chống phá, làm sụt giảm niềm tin của người Khmer đối với việc triển khai, tổ chức thực hiện  các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước trong vấn đề dân tộc.

Các đối tượng tiến hành bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, vừa công khai, vừa bí mật, đa dạng, phức tạp bằng nhiều kênh, phương tiện khác nhau; giữa các hoạt động có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau để các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch dễ dàng tiếp cận, lan tỏa, tác động đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm của người Khmer, tập trung chủ yếu ở một số dạng thức sau:

- Sử dụng không gian mạng để tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch: Hiện nay, đây là một hình thức trọng yếu, dễ dàng tiếp cận được các đối tượng sử dụng để tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch. Theo đó, các đối tượng thiết lập hệ thống nhiều loại hình báo chí, đài phát thanh, truyền hình Internet; các trang web, blog, tài khoản cá nhân mạng xã hội với hạ tầng kỹ thuật, hệ thống máy chủ đặt ở nước ngoài, nhiều loại hình có sự đầu tư lớn về tài chính, đội ngũ kỹ thuật và bảo mật riêng…

- Tán phát các tài liệu chứa thông tin xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch: Kết hợp với Internet, các đối tượng không chỉ dừng lại ở những hoạt động có tính chất tác động đến tâm lý, tư tưởng… mà còn thông qua các ấn phẩm văn hóa, mang màu sắc tôn giáo, sử dụng ngôn ngữ Khmer để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch trong dân tộc Khmer.

- Lợi dụng, lồng ghép với hoạt động của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền: Đây là một hoạt động phức tạp, diễn ra từ lâu, được sự hậu thuẫn của một số tổ chức, quốc gia cụ thể. Được sự hậu thuẫn về mặt tài chính, các đối tượng thường chủ động liên hệ hoặc được các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ liên hệ để tuyên truyền  về “quyền dân chủ”, “quyền dân tộc tự quyết”, “quyền dân tộc bản địa”, “quyền tự do hoạt động tôn giáo”...; thông qua các hoạt động của các tổ chức này để tán phát các ấn phẩm có nội dung, quan điểm sai trái, thù địch tập trung vào nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên người Khmer; các hộ gia đình người Khmer có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, đời sống; số đối tượng có quan điểm cực đoan về dân tộc hoặc có mâu thuẫn về lợi ích trong đời sống sinh hoạt với các cộng đồng dân tộc khác tại địa phương…

- Tài trợ tiền, hàng dưới các danh nghĩa khác nhau để móc nối, lôi kéo người Khmer phục vụ hoạt động tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch: Hình thức, thủ đoạn này thường tập trung vào các hội nhóm “tự xưng”, tăng sinh, phật tử, học sinh, sinh viên và người Khmer gặp khó khăn, chưa am hiểu về các vấn đề chính trị, xã hội, có quan điểm, lập trường chính trị không rõ ràng. Thực hiện các hoạt động được các đối tượng đưa vào Việt Nam bằng con đường hợp pháp, thường với danh nghĩa hồi hương, thăm thân, du lịch, trao đổi kinh nghiệm, học tập, điều tra xã hội học… để tạo “vỏ bọc” nhằm tiếp xúc, gặp gỡ các đối tượng mà chúng nhắm đến, có thể lợi dụng, phục vụ cho các âm mưu, hoạt động tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch trong dân tộc Khmer.

Những năm gần đây, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc Khmer tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện ngày càng đa dạng, phức tạp với nhiều loại hình, phương thức, thủ đoạn tuyên truyền khác nhau dễ dàng tiếp cận với người Khmer. Đó là những quan điểm, tư tưởng trái với đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; vừa để tuyên truyền, kích động, vừa để khai thác lợi dụng các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tác động, lôi kéo người Khmer phục vụ cho các âm mưu, ý đồ của chúng.

Từ tình hình trên, để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh phản bác việc lợi dụng các vấn đề dân tộc Khmer để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch; tác giả mạnh dạn đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này như sau:

Một là, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tiếp tục thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo và các chính sách góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer, nhất là ở cấp cơ sở. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người đồng bào dân tộc Khmer; sắp xếp, bố trí vào các vị trí quan trọng để một mặt phát huy thế mạnh của nguồn nhân lực này, mặt khác thể hiện sự quan tâm, bình đẳng, công bằng của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào dân tộc. Đây là vấn đề mang tính cốt lõi, vừa có tính cấp thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài. Thực hiện tốt nội dung này sẽ làm tăng niềm tin của người Khmer đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; từ đó hạn chế các nguyên nhân, điều kiện mà các đối tượng có thể lợi dụng các vấn đề dân tộc Khmer để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về tính chất, nguy hiểm của các âm mưu, phương thức, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc Khmer để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch. Để đấu tranh ngăn chặn, hạn chế tiến tới vô hiệu hóa các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc Khmer tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch; mỗi cán bộ, đảng viên là một tuyên truyền viên, giúp quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, nhận thức được bản chất phản động, thù địch và mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước của các đối tượng, từ đó không tham gia vào các hoạt động này, góp phần giữ vững ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại các địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Bên cạnh đó, cần tích cực chăm lo xây dựng đời sống văn hóa, an sinh xã hội, chú trọng giữ gìn những nét đặc sắc về văn hóa, dân tộc phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước, tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức cố kết cộng đồng giữa các dân tộc Kinh - Khmer - Hoa - Chăm, nhất là ở khu vực Nam bộ. Qua đó, tạo nên gắn kết bền chặt, trên cơ sở tôn trọng, bình đẳng, cùng phát triển giữa các cộng đồng người mỗi địa phương, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước và dân tộc.

Ba là, phát huy vị trí, vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào Khmer, các sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer trong việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức người Khmer, chấp hành Hiến pháp, pháp luật, tuyệt đối không tham gia vào các hoạt động chống Đảng, chống Nhà nước hay các hoạt động gây phức tạp về an ninh trật tự tại địa phương. Đây là nội dung mang tính đột phá, góp phần thúc đẩy quá trình cải tạo các quan hệ dân tộc tại Việt Nam nói chung, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, cùng tiến bộ giữa các dân tộc trên cơ sở sự tự nguyện, nhanh chóng đi tới phồn vinh, hạnh phúc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ có sự vận động mới, biến đổi liên tục theo xu hướng ngày càng tiến bộ, văn minh.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Thấm nhuần tư tưởng và lời dạy của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được Đảng ta xác định là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh, sợi chỉ đỏ xuyên suốt làm nên sức mạnh vô địch của mọi thành công. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Nhìn lại chặng đường vẻ vang của cách mạng, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhằm phát huy truyền thống Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, năm 1986 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã quyết định lấy ngày 18/11/1930 làm ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Để tiếp tục xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới Ngày 1/8/2003, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra Nghị quyết số 04/NQ/ĐCT-MTTW về việc tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc” và quyết định lấy ngày 18/11 hằng năm làm ngày tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư”.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc hằng năm được tổ chức rộng rãi, ý nghĩa trên khắp mọi vùng, miền của Tổ quốc, với nhiều hình thức phong phú, phù hợp với từng địa phương, thực sự đã trở thành ngày hội toàn dân, trở thành diễn đàn dân chủ của nhân dân, là tiền đề quy tụ, tăng cường và phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân; góp phần củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước của Đảng, Nhà nước, các địa phương, các cấp, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng – an ninh ở từng địa phương và trên cả nước.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư đã trở thành nét đẹp truyền thống, khơi dậy những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, là biểu hiện sinh động của thế trận lòng dân và ngày càng thể hiện sức sống bền vững trong các tầng lớp nhân dân, trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, thắm đượm tình làng, nghĩa xóm.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư đã thể hiện “Ý Đảng hợp lòng dân”, đưa công tác mặt trận về với cộng đồng dân cư, hướng đến từng gia đình và mỗi người dân; là một bước thể chế hoá và thực hiện tốt phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng" theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.

Trong những ngày này, các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước; các ban, bộ, ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền các cấp đã về từng địa bàn dân cư tham dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, thăm hỏi, động viên, lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, tiếp thu những đóng góp tâm huyết của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

Không chỉ đem lại giá trị tinh thần cho Nhân dân, ý nghĩa lan tỏa của ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư còn làm giàu ý chí cách mạng, tôn vinh sức mạnh cộng đồng, góp phần thực hiện hiệu quả mọi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh; đồng thời làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ngay từ thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố trên khắp mọi vùng, miền của Tổ quốc.

Thấm nhuần tư tưởng và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế.

Chính vì lẽ đó, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng trở thành trọng điểm để các thế lực thù địch tập trung chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhằm xuyên tạc đường lối đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước, phủ nhận vai trò của Mặt trận Tổ quốc, phủ nhận ý nghĩa, tầm quan trọng của Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc; gây chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà đất nước ta, Nhân dân ta đã dày công xây dựng, vun đắp.

Những luận điệu xuyên tạc của chúng trở nên lạc lõng, đã chạm phải “bức tường thành”, khi ở Việt Nam, đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành di sản vô giá làm nên sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam, được kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của lớp lớp các thế hệ “Con Lạc, cháu Hồng”.

Kiên quyết đấu tranh với lối sống thực dụng, ích kỷ

 Đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, thực dụng, ích kỷ của mỗi cơ quan, tổ chức là việc làm vừa cấp bách, vừa lâu dài bền bỉ, kiên trì mới có thể thành công. Bởi căn bệnh này hiện khá phổ biến, có khi đang tồn tại ngay trong mỗi con người để chờ thời cơ trỗi dậy. Do vậy, chúng ta không chỉ đẩy lùi mà cần phải quét sạch những người mắc căn bệnh trầm kha này ra khỏi tổ chức, làm trong sạch bộ máy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, bệnh ích kỷ được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một trong 12 bệnh mà nếu mắc phải sẽ làm hỏng việc. Bác coi bệnh ích kỷ cũng như bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi là kẻ địch của tổ chức Đảng và nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhiều lần nhắc nhở “danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất”. Người biết trọng danh dự, liêm sỉ luôn đối nghịch với người có lối sống thực dụng, ích kỷ. Người đảng viên cộng sản chân chính luôn gìn giữ thanh danh, phẩm giá trước mọi cám dỗ vật chất, tiền bạc, không có gì có thể đánh đổi, mua chuộc được họ.

Đấu tranh với những người thực dụng, ích kỷ vô cùng khó khăn, phức tạp vì ranh giới giữa người công minh, chính trực vì lợi chung của Đảng, của dân tộc với người có bản tính ích kỷ, hẹp hòi rất gần nhau. Đôi lúc khó nhận biết, khó phân biệt bởi những chiêu trò tinh vi, xảo trá lồng luồn, đan xen lẫn nhau. Người có thói ích kỷ, thực dụng thường không coi trọng thanh danh, phẩm giá mà thường “yêu của, ghét người”. Các cơ quan, tổ chức mà không nhận biết rõ, sử dụng những con người này, nhất là vào làm những công việc nhạy cảm, liên quan nhiều đến nhân sự, vật chất, kinh phí, xăng dầu, đất đai, tài nguyên thì việc người đó lo vun vén cá nhân chỉ là sớm hay muộn.

Một số cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cấp cao trong thời gian vừa qua bị kỷ luật, bị truy tố trách nhiệm hình sự đã để lại những bài học sâu sắc về tinh thần đấu tranh của đảng viên, tổ chức Đảng. Nhiều người không dám lên tiếng, không dám đấu tranh, thậm chí còn làm ngơ trước những sai trái của đồng chí, đồng đội. Trong các tổ chức Đảng, có đảng viên vi phạm nếu mỗi đảng viên phát huy được tinh thần đấu tranh, có dũng khí, dám đương đầu  với những biểu hiện sai trái, lệch lạc bất kể người đó là ai; đấu tranh từ trong trứng nước, từ việc nhỏ, thì sẽ giữ được cán bộ và giúp người đó không mắc phải những sai phạm lớn, không bị khai trừ ra khỏi Đảng, không bị “bóc lịch” trong chốn lao tù.

 Hằng năm, các tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở đều tổ chức đánh giá, bình xét tổ chức Đảng và đảng viên nhưng vẫn không tìm ra khuyết điểm của đồng chí, đồng đội mình, hay là đã “ngậm miệng ăn tiền”. Phải chăng do không phát hiện ra hay cố tình không nhận ra? Rất cần mỗi đảng viên có đủ bản lĩnh, dũng khí đấu tranh, thẳng thắn phê bình, góp ý cho đồng chí mình sửa chữa, khắc phục. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần tự giác, trách nhiệm rất cao với tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình. Như vậy mới đạt kết quả vững chắc thực sự.

Các tổ chức Đảng cần làm tốt công tác giám sát, kiểm tra, tuyên truyền, giáo dục, quản lý đảng viên; thực hiện tốt quy chế lãnh đạo các mặt trọng yếu, không để cá nhân lạm dụng hoặc lộng quyền trong thực thi công vụ; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những "khoảng trống", "kẽ hở" để không thể tham nhũng, tiêu cực; từng bước xây dựng cơ chế để không dám và không cần tham nhũng.

Quan tâm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; thực hiện nghiêm túc quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh cải cách hành chính trong tổ chức Đảng, chính quyền; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định, nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; làm tốt việc đấu tranh phê bình và tự phê bình. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả kiểm tra, giám sát; đề cao trách nhiệm người cán bộ chủ trì; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân; kiên quyết thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản hằng năm của cán bộ, đảng viên, nhất là trước khi bầu cử, bổ nhiệm, điều động cán bộ; công khai, minh bạch tài sản của cán bộ theo đúng quy định. Tiến hành số hóa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ); hạn chế giao dịch bằng tiền mặt, tăng cường các biện pháp quản lý tài sản công.

 Chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên phải luôn gắn chặt với đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Để Đảng ta đủ “tâm”, đủ “tầm” và đủ “tín” lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là việc gì lý thuyết, cao siêu mà là những công việc, nhiệm vụ rất cụ thể để mỗi tổ chức Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, có những đảng viên gương mẫu, tiên phong. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xóa bỏ thói hư tật xấu hay xử lý kỷ luật, truy tố cán bộ, đảng viên vi phạm là công việc thường xuyên, cần phải làm như là quét nhà, rửa mặt hằng ngày. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “Đảng ta là Đảng của Bác Hồ, không có mục đích nào khác là vì nước vì dân”.

QUAN ĐIỂM “SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, CÁC Ý KIẾN KHÁC”


Khi tham gia mạng xã hội, chúng ta sẽ bắt gặp các bài viết, file hình ảnh, video, âm thanh… thể hiện các quan điểm khác nhau về một sự kiện nào đó của Đảng, Nhà nước, Nhân dân… Về mặt nhận thức, người tham gia mạng xã hội cần hiểu rõ các khái niệm có liên quan như: Quan điểm sai lầm, quan điểm sai trái, quan điểm thù địch và các ý kiến khác với đường lối, quan điểm của Đảng ta.

Trước hết, quan điểm sai lầm là ý kiến của một cá nhân hay nhóm người nhằm bảo vệ một tư tưởng nào đó không phản ánh đúng bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng. Nguyên nhân do năng lực tư duy, phương pháp tiếp cận, do thiếu thông tin, do thành kiến của con người… Người có quan điểm sai lầm có thể tự mình hoặc có người khác chỉ bảo mà ngộ ra lẽ phải (hay chân lý).

Quan điểm sai lầm theo quan điểm của Đảng ta là những quan điểm hình thành từ việc không hiểu đúng quan điểm, đường lối của Đảng, đánh giá sai thực tiễn, bị cảm xúc chi phối và ảnh hưởng của tâm lý đám đông… Chẳng hạn khi nói về dân chủ, có ý kiến cho rằng đã dân chủ thì không thể tập trung, đã tập trung thì không thể có dân chủ. Đó là một quan điểm sai lầm.

Thứ hai, quan điểm sai trái cũng là những quan điểm sai lầm nhưng không chỉ phản khoa học mà còn trái với lẽ thường, trái với đạo lý và pháp lý. Người có quan điểm sai trái thường đưa ra những quan điểm sai lầm làm tổn hại cho Đảng và Nhà nước, cho cộng đồng và xã hội. Trong lĩnh vực chính trị, quan điểm sai trái là những quan điểm không đúng đường lối, quan điểm của Đảng và được sử dụng để chống đối, phá hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Ví dụ, những người không thừa nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng, từ đó khẳng định Đảng ta là độc đoán, chuyên quyền. Đó là một dạng của những quan điểm sai trái.

Thứ ba, quan điểm thù địch là quan điểm của những người vốn là kẻ thù của giai cấp và dân tộc. Quan điểm thù địch không căn cứ vào thực tiễn, bất chấp đúng sai, bao gồm cả những nhận định, kết luận xuất phát từ những thông tin bịa đặt, xuyên tạc với mục đích duy nhất là phá hoại thành quả cách mạng của Đảng, Nhà nước ta. Chẳng hạn, họ thừa nhận Chính phủ Việt Nam đã thành công trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, nhưng lại phê phán Chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền, bởi lẽ Chính phủ đã theo dõi, giám sát công dân chặt chẽ nên mới thực hiện cách ly những người có nguy cơ lây nhiễm sớm và triệt để như vậy.

Thứ tư, quan điểm được gọi là “ý kiến khác” là những người có ý kiến khác không phủ nhận những thành tựu, ưu điểm của Đảng và chế độ nhưng do bức xúc, sốt ruột với những hạn chế, yếu kém trong thực tiễn, từ đó cá nhân muốn đề xuất một cách thức giải quyết mà cách thức đó còn có những điểm chưa đúng với quan điểm, chủ trương của Đảng. Về cách thức, những người có ý kiến khác thường trình bày quan điểm của mình thông qua báo chí chính thống, các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, trong các cuộc tiếp xúc cử tri… Có ý kiến được đưa lên mạng xã hội nhưng với thái độ khách quan, văn phong lịch sự, từ tốn.

Để phân biệt ý kiến khác với các quan điểm sai trái, thù địch trước hết cần xem xét động cơ của người có ý kiến khác. Mục đích của những người này không phải là phá hoại hay chống Đảng, Nhà nước, mà xuất phát từ nhận thức mang tính cá nhân của họ với mong muốn Đảng và chính quyền mạnh hơn, đất nước ổn định và phát triển hơn.

Phát động cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 T


Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, phát biểu chỉ đạo và phát động cuộc thi. (Ảnh: TTXVN)

Sáng 1/2, tại Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp cùng Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Họp báo phát động Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ ba, năm 2023. Cuộc họp báo được kết nối trực tuyến tới các tỉnh, thành ủy.

Phát biểu chỉ đạo và phát động Cuộc thi, Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Cuộc thi, nêu rõ để tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới," đồng thời triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương quyết định tổ chức “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Ba, năm 2023."

Cuộc thi là sự tiếp nối thành công của hai Cuộc thi viết chính luận về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” năm 2021, 2022 và tiếp tục có sự mở rộng về quy mô tổ chức, thành phần tham gia và thể loại tác phẩm dự thi.

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng đề nghị Thường trực các tỉnh ủy, Thường vụ, Ban Tuyên giáo, Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh, thành phố vào cuộc khẩn trương. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy nơi nào quan tâm, nơi đó sẽ đạt kết quả tốt trong cuộc thi. Các bài viết cần có tính phát hiện, không chỉ về nội dung mà còn phát hiện lực lượng, nhân tố, xây dựng mạng lưới bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng bày tỏ mong muốn nhận được sự tham gia đông đảo của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước, người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam, để tiếp tục thể hiện nhận thức, tình cảm, tâm huyết và trách nhiệm của mình đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần tạo những chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị thời gian tới.

Đối tượng dự thi là người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, người nước ngoài có bài viết chính luận phù hợp với tiêu chí của cuộc thi. Các tác phẩm thuộc thể loại bài viết, mỗi tác giả/nhóm tác giả được gửi tối đa hai tác phẩm gồm một bài viết chính luận loại hình tạp chí (tạp chí in hoặc tạp chí điện tử) và một bài viết chính luận loại hình báo (báo in hoặc báo điện tử). Mỗi bài viết gửi tham gia dự thi gồm bản in (khổ A4) và file mềm (định dạng Microsoft Word).

Các tác phẩm thể loại âm thanh, hình ảnh, mỗi tác giả/nhóm tác giả được gửi tối đa ba tác phẩm dự thi gồm một tác phẩm loại hình báo nói (phát thanh); một tác phẩm loại hình báo hình (truyền hình) và một tác phẩm dưới dạng video clip. Mỗi tác phẩm dự thi gồm file âm thanh/hình ảnh và bản in kịch bản văn học (định dạng Microsoft Word).

Tác phẩm dự thi là tác phẩm sáng tạo lần đầu, chưa từng được đăng tải/công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội trước thời điểm phát động cuộc thi.

Các tác phẩm dạng viết phải bảo đảm tỷ lệ không trùng lặp theo quy định (không trùng lặp quá 20% đối với thể loại tạp chí, không trùng lặp quá 25% đối với thể loại báo so với các công trình đã đăng tải/công bố của chính tác giả/nhóm tác giả hoặc của tác giả/nhóm tác giả khác).

Sau khi gửi tác phẩm dự thi về ban tổ chức, tác giả/nhóm tác giả có thể đăng tải/công bố tác phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng phải thông báo cho cơ quan đã nhận tác phẩm dự thi và gửi minh chứng kèm theo.

Ông Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, tại buổi phát động cuộc thi. (Ảnh: TTXVN)Ông Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, tại buổi phát động cuộc thi. (Ảnh: TTXVN)

Chủ đề tác phẩm tập trung vào những vấn đề cơ bản, trọng tâm về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, như giá trị khoa học, cách mạng và thời đại của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những đề xuất bổ sung, phát triển; bảo vệ, lan tỏa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự nghiệp đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay; nhận diện và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở các ngành, địa phương, lĩnh vực.

Ban Tổ chức nhận tác phẩm dự thi bắt đầu từ khi phát động Cuộc thi (ngày 1/2/2023) cho đến hết ngày 31/7/2023 (tính theo dấu bưu điện).

Địa chỉ thu nhận tác phẩm và hồ sơ dự thi ở cấp Trung ương: Văn phòng Ban Chỉ đạo 35 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, số 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Điện thoại: 080.41053 hoặc 0909.581.987; Email: thiviet35hcma@gmail.com.

Lễ công bố và trao giải Cuộc thi được tổ chức vào tháng 10/2023, nhân dịp sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới."

Ban Tổ chức cuộc thi sẽ trao giải theo ba loại hình tác phẩm dự thi gồm loại hình bài tạp chí, loại hình báo và loại hình phát thanh/truyền hình/video clip. Mỗi loại hình gồm một giải Đặc biệt, ba giải A, 5 giải B, 7 giải C, 10 giải Khuyến khích.

Ban Tổ chức sẽ trao 15 giải Tập thể xuất sắc cho các cơ quan, tổ chức, địa phương có quá trình tổ chức triển khai cuộc thi sâu rộng, sáng tạo tại cơ sở, phục vụ có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII tại địa phương, cơ quan, đơn vị; có nhiều sản phẩm tham gia dự thi đạt chất lượng tốt, trong đó có ít nhất một tác phẩm đoạt giải B trở lên.

Ngoài giải chính thức, Ban Tổ chức Cuộc thi trao tặng 15 giải Triển vọng cho tác phẩm dự thi của tác giả/nhóm tác giả là đoàn viên, thanh niên, sinh viên lọt vào vòng chung khảo và có số điểm cao nhất trong số tác phẩm của đoàn viên, thanh niên, sinh viên.

Theo TTXVN

BẢN CHẤT CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    Trước những luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch đã và đang hiện hữu, rất nhiều câu hỏi đặt ra cho chúng ta và cho cả bạn bè quốc tế là: Bản chất, vai trò của hoạt động tuyên giáo - tuyên truyền là gì? Phải chăng chỉ có Cộng sản, chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên truyền? Công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta, liệu có giống như lời rêu rao của các thế lực thù địch...?

Thứ nhất, về bản chất của hoạt động tuyên truyền.

Theo Từ điển Tiếng Việt thì tuyên truyền là “Giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”. Như vậy, tuyên truyền (propagate) là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng; thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động tuyên truyền không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng.

Rõ ràng, bản chất, vai trò của công tác tuyên truyền là một hoạt động thiết yếu của bất cứ tổ chức, quốc gia nào. Nếu không có hoạt động này thì tất yếu tổ chức, chính quyền, quốc gia đó sẽ tự cô lập chính mình với nhân dân trong nước, cô lập mình với các tổ chức, chính quyền, quốc gia khác. Và khi đã không có sự kết nối, nguy cơ đe dọa về tính chính danh, về sự an toàn… sớm muộn cũng sẽ hiện hữu.

Thứ hai, phải chăng chỉ có Việt Nam mới có công tác tuyên giáo, tuyên truyền?

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, với tư cách là chủ thể về lãnh thổ, chính quyền, dân cư, về khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia khác, về quyền dân tộc tự quyết… đương nhiên trong hoạt động đối nội và đối ngoại, phải tiến hành các hoạt động tuyên truyền để đảm bảo về quyền và lợi ích của mình.

Ví dụ như, ở Trung Quốc, công tác tuyên truyền luôn được nước này xem là một bộ phận quan trọng trong công tác Đảng; luôn coi tuyên truyền và quản lý thông tin là ưu tiên hàng đầu, dành nguồn lực vật chất và bộ máy nhân lực đáng kể cho công tác tuyên truyền; chú trọng việc kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao văn hóa để định hướng và quản lý dư luận. 

Tại Nga, hoạt động tuyên truyền được hiểu là sự lan truyền thông tin đại chúng nhằm thúc đẩy quan điểm, nhận thức hoặc chương trình nghị sự của chính phủ. Theo đó, Chính phủ nước này tăng cường đầu tư cho các kênh tuyên truyền như Rossiya Segodnya (tổ hợp truyền thông chính thống của Nga, trong đó có đài Sputnik và hãng thông tấn RIA), mạng lưới truyền hình RT (Russia Today) và nhiều các kênh báo chí, truyền hình khác.

 Anh, hoạt động truyền bá hình ảnh của vương quốc được tiến hành ở hầu hết các lĩnh vực. Riêng lĩnh vực truyền thông thì hãng BBC (thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) đóng vai trò chủ đạo. Cùng với ngôn ngữ tiếng Anh, tất cả các hoạt động tuyên truyền của vương quốc này đã mang đến cho họ một hình ảnh “siêu cường văn hóa, và London được mô tả như một thủ đô văn hóa thế giới”.

Tại Áo, nhắc đến đất nước này, hầu như cả thế giới đều cho rằng đây chính là kinh đô thế giới về âm nhạc cổ điển. Sở dĩ như vậy là vì quốc gia này cũng đã sử dụng các cơ quan, tập đoàn báo chí - truyền thông (đặc biệt là 3 tập đoàn: Đài Truyền hình quốc gia Áo - ORF, Báo Wiener Zeitung, Hãng thông tấn xã Áo - APA) thường xuyên tiến hành tổ chức các chương trình văn hoá, nghệ thuật nhằm tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, đất nước con người và âm nhạc cổ điển Áo ra thế giới…

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác tuyên truyền còn diễn ra rất mạnh mẽ và sôi động trên không gian mạng Internet. Hầu hết các quốc gia, tôn giáo, tổ chức xã hội… đã khai thác triệt để ưu thế của công nghệ số để xây dựng các website, cổng thông tin điện tử, các trang mạng xã hội… để tuyên truyền, hướng người dân và công chúng theo mục đích, con đường phát triển của mình. Dù khác nhau về hình thức, cách  thức tương tác (thực, ảo)... nhưng bản chất vẫn là hoạt động tuyên truyền, quảng bá. Như vậy, với bất cứ quốc gia nào, để người dân tin tưởng và làm theo chính quyền, để khẳng định được vị thế quốc gia trên trường quốc tế thì tất yếu phải có công tác tuyên truyền.

Thứ ba, công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước ta liệu có như những lời rêu rao của các thế lực chống đối, thù địch?

Có thể thấy rằng, đối với công tác tư tưởng của Đảng ta, tuyên truyền là một trong ba bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng (lý luận, tuyên truyền, cổ động), có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Công tác tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin cho mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ, động viên, thúc đẩy và biến nhận thức, niềm tin, nhiệt huyết của quảng đại quần chúng thành hành động cách mạng, góp phần xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tuyên truyền đã cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước giúp bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; giúp uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kể từ khi ngành tuyên giáo ra đời (1/8/1930) đến nay, công tác tuyên truyền đã khẳng định vai trò và sức mạnh của mình trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, công tác tuyên truyền của chúng ta không phải tự nhiên sinh ra, mà trải qua một chặng đường lịch sử, trong đó “có sự cống hiến, đóng góp công sức của các thế hệ cán bộ tuyên huấn, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nghệ sĩ, nhà khoa học... đã vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, làm nên những thành tích vẻ vang, đóng góp vào công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới, phát triển đất nước”(1). Đặc biệt, trong đối nội và đối ngoại, công tác tuyên truyền của Đảng ta được tiến hành bài bản, khoa học, đem lại những hiệu quả, lợi ích to lớn, quan trọng cho quốc gia - dân tộc.

Công tác tuyên truyền - thông tin đối ngoại đã góp phần tạo sự lan tỏa hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, giúp bạn bè quốc tế biết đến một Việt Nam Khát vọng hòa bình và Phát triển bền vững; biết đến một Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử, có nền văn hóa mang bản sắc riêng và độc đáo, có truyền thống tốt đẹp; là quốc gia có đóng góp tích cực góp phần nâng cao vai trò của Liên hợp quốc trong thời kỳ mới; là nơi an toàn lý tưởng để các nhà đầu tư quốc tế lựa chọn, là nơi mà du khách có thể cảm thấy an toàn, thân thiện và hạnh phúc khi đặt chân đến… và là “Điểm đến của thiên niên kỷ mới”!

Cũng từ các hoạt động định hướng, tuyên truyền thiết thực, khoa học mà chất lượng tuyên truyền biển, đảo và biên giới trên đất liền ở nước ta được nâng cao, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Nội dung công tác tuyên truyền biển, đảo và biên giới trên đất liền luôn được thực hiện đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn; được bạn bè, cộng đồng quốc tế ủng hộ, thừa nhận tính chính danh và chính nghĩa của Việt Nam.

Công tác tuyên truyền - thông tin đối nội cũng đã đạt được nhiều thành tựu vẻ vang đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, “góp phần giáo dục, tuyên truyền và bảo vệ đường lối Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội của cách mạng nước ta”(2) đồng thời bảo vệ, gìn giữ sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực tư tưởng - lý luận, tuyên truyền, khoa giáo, văn hóa - văn nghệ; là vũ khí đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Có thể thấy, nhờ có hoạt động tuyên truyền mà chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã đến với nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả và thiết thực. Các vấn đề quan trọng của đất nước, từ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, văn hóa… cho đến đời sống tư tưởng tình cảm, thực hành tôn giáo tín ngưỡng… của nhân dân được phản ánh kịp thời, sinh động. Đây chính là vai trò “cầu nối” giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” của ngành tuyên giáo; góp phần tăng cường bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; góp phần nâng cao vị thế quốc gia, lòng tự hào dân tộc, khát vọng Việt Nam.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ không ngừng xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội của chúng ta. Trong bối cảnh đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng được xác định là nhiệm vụ và nội dung tất yếu, cơ bản, hệ trọng, quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta. Trong đó công tác tuyên truyền phải luôn được xác định là nòng cốt, tự giác, thường xuyên và thiết thực như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một phần việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm, nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”(3)./.

 Để tìm hiểu về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam, bà con ta ở hải ngoại không thể chỉ dựa vào những thông tin đến các cơ quan "truyền thông đen" trong cộng đồng, hay những báo cáo của các "tổ chức quốc tế về nhân quyền" mang tính phiến diện, một chiều. Theo tôi, bà con ta hãy đi về Việt Nam, tự đi tìm câu trả lời từ thực tiễn sinh động đang diễn ra tại đây.

Nghi thức cúng bái tổ tiên mở đầu cho Tết cổ truyền Ramưwan của đồng bào Chăm theo đạo Bà Ni ở Bình Thuận. (Ảnh TTXVN)

Ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại bang xâm lược, di sản chiến tranh để lại vô cùng ác liệt. Vậy, tại sao khi Việt Nam giành được hòa bình, độc lập, từng bước đi lên, Nhà nước, Chính phủ luôn nỗ lực tìm mọi cách, điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình chung của xã hội, bảo đảm quyền con người cho mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có lĩnh vực tôn giáo, lại vẫn bị một bộ phận người Việt ở hải ngoại xuyên tạc, chống phá? Sự kích động tạo ra những bất ổn, hoang mang là nguồn gốc tạo nên tâm lý hận thù chống lại nhà nước.

Cuối tháng 12/2013, trong vai trò nhà báo, tôi có cơ hội tháp tùng phái đoàn của nghị viên Al Hoàng của thành phố Houston (Bang Texas, Mỹ) đến thăm Việt Nam. Trong lịch trình làm việc tại thành phố Ðà Nẵng, nghị viên Al Hoàng đã yêu cầu được đi thăm giáo xứ Cồn Dầu, nơi đã xảy ra vụ tranh chấp về mặt đất đai và bất động sản khá ồn ào vào năm 2008. Tại đây, nghị viên cũng được gặp gỡ Giám mục Châu Ngọc Tri, phụ trách Giáo phận Ðà Nẵng, được nghe chính vị chủ chăn nói về những điểm chính của vụ việc, đó là những tranh chấp về kinh tế, dân sự với sự không đồng thuận của một số giáo dân với chính sách địa phương, đã bị chính trị hóa, biến thành một "vụ án tôn giáo" nghiêm trọng, kích động người dân hải ngoại thêm mâu thuẫn, căm thù chế độ Cộng sản. Ðức cha cũng mời đoàn chúng tôi tham dự Thánh lễ Giáng sinh tại nhà thờ lớn ở Ðà Nẵng "Ðể các anh thấy tận mắt thấy sinh hoạt Công giáo ở Ðà Nẵng".

Buổi lễ nửa đêm diễn ra ngoài trời thật trang trọng. Nghị viên Al Hoàng và tôi đều là người Công giáo. Chúng tôi đã choáng ngợp bởi các nghi thức được tiến hành rất đầy đủ và ấn tượng hơn hết, là số lượng giáo dân tham gia thánh lễ đến hơn một nghìn người, rất trang nghiêm và trật tự. Nghị viên Al Hoàng nhận xét, nếu ở Mỹ, một buổi tụ tập đông người như thế này, vấn đề an ninh phải được đặt ra để bảo đảm, không dễ được phép như vậy đâu. Sau khi ở Ðà Nẵng, đoàn chúng tôi còn có cơ hội vào miền nam, thăm gia đình bên vợ của nghị viên Al Hoàng ở là khu xứ đạo Dốc Mơ, Gia Kiệm, tỉnh Ðồng Nai. Ðây là xứ đạo Công giáo nổi tiếng ở Việt Nam. Năm 1954, khoảng 3.000 giáo dân gốc giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm đã di cư về Ðồng Nai, lập nên giáo xứ Dốc Mơ. Thấy đoàn về thăm, có cả người nước ngoài cùng về, nhiều người thân, hàng xóm đến thăm hỏi, chúc mừng sự hội ngộ. Nghị viên gốc Việt Al Hoàng có cơ hội hỏi thăm người thân của mình về đời sống, về sinh hoạt tôn giáo ở xứ đạo, những câu trả lời thành thật, thực tế của bà con về sự ổn định cuộc sống, đã mang lại cho nghị viên Al Hoàng một câu trả lời xác đáng qua thực tiễn về tiền đề "tự do tôn giáo" nơi gia đình anh sinh sống ở trong nước.

Về phần mình, trong những dịp lễ quan trọng của người Công giáo như lễ Giáng sinh (25/12), lễ Phục Sinh (Chủ nhật cuối tháng 3, đầu tháng 4), nếu thu xếp được thời gian, tôi vẫn thường về quê nội và ngoại của mình ở huyện Vụ Bản, thành phố Nam Ðịnh để thăm hỏi người làng. Tôi có những cuộc gặp mặt thân tình với người thân, các giáo hữu bên nội, bên ngoại để tìm hiểu thật sâu về đời sống và sinh hoạt tôn giáo của nhiều hộ gia đình ở đây. Tôi cũng có nhiều dịp tham dự các thánh lễ ngày trọng đại cũng như ngày thường. Nói chung, các tín đồ Công giáo quê tôi, đều tuân thủ phương châm "tốt đời, đẹp đạo"; luôn chấp hành đúng đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo của Ðảng, pháp luật của Nhà nước. Các hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của luật pháp đều được tôn trọng và khuyến khích phát huy. Các hoạt động từ thiện, nhân đạo và các phong trào thi đua, yêu nước đều được người dân chung tay đóng góp, xây dựng thật hài hòa, trong đó có khá nhiều sự đóng góp của nhiều gia đình xa quê, đang ở nước ngoài.

Ðại gia đình tôi ở Mỹ, năm nào cũng góp tiền cho họ đạo tu sửa nhà thờ, đóng quỹ giúp người khó khăn, hoạn nạn trong giáo họ. Ðồng thời, các sinh hoạt tại vùng quê cũng được tường trình cụ thể qua các phương tiện mạng xã hội như Facebook, Zalo, Viber. Bố tôi đang muốn từ Mỹ về Việt Nam sống tuổi già cuối đời, một phần cũng vì nhớ quê, muốn trở lại nơi ông sinh ra ở Nam Ðịnh, nay đã thành những vùng quê "nông thôn mới" trù phú, đời sống kinh tế được nâng cao đến mức đáng kinh ngạc. Trên những khoảng ruộng xanh ngắt, hình ảnh những chóp thánh giá của vô số những ngôi nhà thờ kiến trúc kiểu Gothic mới mọc lên, hay những ngôi nhà thờ cũ được tôn tạo, sửa sang lại to đẹp hơn trước nhiều lần. Hình ảnh ấy thật vô cùng đẹp và ấn tượng với tôi.

Không riêng ở quê Nam Ðịnh, tôi còn có dịp đi tìm hiểu đời sống tôn giáo ở nhiều địa phương khác, từ vùng cao cho tới miền xuôi, đâu đâu cũng thấy mọi người sống bình an để hành đạo. Tôi đã có dịp sống ở Yên Bái, và dành nhiều thời gian để lên các vùng Tây Bắc, Ðông Bắc. Các tỉnh như Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La,… tôi đều đi qua và ghi nhận nhiều hoạt động thể hiện đời sống tâm linh phong phú của bà con.

Sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần vừa qua, tôi có dịp đi qua Sơn La, được gặp lại Giám mục Châu Thanh Tri, hiện đang là Giám mục cho 9 tỉnh Tây Bắc, quyền quản lý thuộc giáo phận Hưng Hóa. Ðứng bên khu Tòa giám mục đang được chỉnh trang, trùng tu rất lớn, nhiều công trình, công viên, tượng các thánh đang xây dựng, Giám mục Tri cho chúng tôi biết thêm rất nhiều thông tin về đời sống, hoạt động mục vụ của ngài trong hoạt động tôn giáo tại địa phương. "Công giáo nói riêng, là tôn giáo lớn nhất ở Tây Bắc hiện nay, đã thành một phần thiết yếu trong sinh hoạt văn hóa và đời sống tinh thần của cư dân ở đây. Công giáo đã trở thành một thiết chế tạo liên kết chặt chẽ, ổn định, tồn tại xuyên thời gian và các thể chế chính trị" (Theo TS Ngô Quốc Ðông-Viện Nghiên cứu tôn giáo).

Theo điều 24, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: "1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Ðiều này cho thấy nếu là một công dân của nước Việt Nam, cho dù theo một tôn giáo nào, vẫn phải thượng tôn pháp luật, và trên hết, vẫn phải đặt lợi ích, an ninh, kỷ cương của quốc gia lên trên hết. Ðối với bà con ta ở nước ngoài, dù cho rời nước ra đi với hoàn cảnh lịch sử nào, cũng cần phải có trách nhiệm và thiện chí với sự ổn định về an ninh, xã hội, chính trị của đất nước, để người dân bình yên trong cuộc sống.

Xét về khía cạnh tự do tôn giáo, tín ngưỡng, theo tôi, hiện nay người dân trong nước được tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi. Nhiều nhà thờ, chùa chiền mới, các khu du lịch tâm linh, được xây dựng. Các lễ hội mang màu sắc tín ngưỡng dân gian cũng được phục hồi, hoạt động sôi nổi. Về Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán, ai cũng phải ngạc nhiên khi thấy người Việt ta đi lễ, hội đông, vui, nhộn nhịp. Có đến hơn 8.500 lễ hội mang tính chất tín ngưỡng, tôn giáo được tổ chức hằng năm. Ðền thờ, chùa, miếu, nhà thờ,… nơi nào cũng đông kín người. Tôi có dịp về Bạc Liêu, đi ngang qua nhà thờ Tắc Sậy, nơi có mộ linh mục Trương Bửu Diệp, tôi ngạc nhiên vì cơ sở tôn giáo này được xây cất, trùng tu, mở rộng liên tục và rất quy mô. Số người tới kính viếng, cầu xin cha ban phước rất đông. Có cả những kiều bào cũng về đây để hành hương, tạ ơn ngài. Những hàng cột có ghép vô số những viên đá tạ ơn, đa số là người cầu ơn ở Mỹ! Những ngôi chùa lớn ở Ninh Bình, Tam Chúc (Hà Nam) mới xây, đạt nhiều kỷ lục trong khu vực Ðông Nam Á đã và đang phục vụ cho nhu cầu du lịch tâm linh của nhiều bà con trong và ngoài nước.

Việt Nam là nước đa tôn giáo với 95% có đời sống tín ngưỡng, có 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận với 43 tổ chức tôn giáo, hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm 28% dân số cả nước với nhiều nghìn cơ sở thờ tự. Vì có nhiều tôn giáo cùng hoạt động chung trên đất nước, Chính phủ Việt Nam đã lập ra Ban Tôn giáo Chính phủ, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Nội vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo trong phạm vi cả nước. Nhờ có Ban Tôn giáo Chính phủ thực hiện công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, đồng thời bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hài hòa và đúng luật pháp.

Nếu chỉ đem những giá trị về tự do, tín ngưỡng từ ngoài vào trong nước, mà không phân định, đánh giá kỹ lưỡng về lịch sử, về tình hình đất nước, việc thực thi quyền tự do tôn giáo sẽ không tránh khỏi những nhận định, đánh giá không khách quan, thiếu chính xác, dễ dẫn đến những kết luận sai lạc, ảnh hưởng đến uy tín và thể diện quốc gia trên trường quốc tế. Do đó, việc nhận diện đúng những âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng để đấu tranh là rất cần thiết, qua đó việc khảo sát sinh hoạt tự do tôn giáo ở Việt Nam cần phải đi, đến tận nơi, lắng nghe, chứng kiến những gì đang diễn ra trong thực tế, mới có được bức tranh toàn cảnh một cách chân thực, chính xác, khách quan và công bằng.

Theo-(Báo Nhân dân)

TOÀN VĂN BÀI PHÁT BIỂU CỦA TÂN CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG!

     Sau khi được bầu giữ chức Chủ tịch nước sáng 2/3, ông Võ Văn Thưởng thực hiện nghi thức tuyên thệ và có bài phát biểu nhậm chức. Xin được đăng tải toàn văn bài phát biểu nhậm chức của Tân Chủ tịch Nước Võ Văn Thưởng!
     Kính thưa đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.
     Kính thưa các đồng chí lãnh đạo nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
     Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước.
     Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội đã tin tưởng trao cho tôi cơ hội được phụng sự tổ quốc phục vụ nhân dân trên cương vị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trân trọng cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã tin cậy tiến cử tôi đảm nhận cương vị này. Đây là vinh dự lớn lao và cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề đối với tôi.
     Trong giờ phút đặc biệt quan trọng này, tôi xin bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người sáng lập và là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguyện không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.
     Mãi mãi ghi ơn những hy sinh, công lao to lớn của các bậc lãnh đạo tiền bối, của các thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người Việt Nam yêu nước, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế uy tín quốc tế như ngày nay.
     Tự hào về cơ đồ tiềm lực vị thế uy tín của đất nước, càng nhận thức sâu sắc về yêu cầu, nhiệm vụ khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, càng quyết tâm để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đầu đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước CHXHCN Việt Nam, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
     Để thực hiện được mục tiêu đó, tôi nhận thức sâu sắc rằng vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn, nền tảng vững chắc đối đất nước ta, chế độ ta là phải kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: Bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.
     Trong hành trình từ một sinh viên và là chủ nhiệm CLB Lý luận trẻ của Khoa Triết học, Trường đại học Tổng hợp TP.HCM cho đến hôm nay, được vinh dự tuyên thệ trước Quốc hội, đồng chí, đồng bào, cử tri cả nước, tôi đã từng chứng kiến nhiều người dao động, rời hàng ngũ khi các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ và từng bước nhận thức được đầy đủ, sâu sắc hơn về tầm quan trọng của lòng trung thành, sự kiên định về mục tiêu lý tưởng và con đường đi tới của dân tộc mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Tôi may mắn được trưởng thành trong nghĩa Đảng, tình dân, được truyền cảm hứng từ bàn tay, khối óc, sự cần cù, chịu thương chịu khó và nỗ lực vươn lên của người dân ở cả 3 miền đất nước. Tôi luôn tâm niệm phải nỗ lực, cố gắng để làm nhiều hơn nữa những điều có ích, kiên trì theo đuổi những giá trị tốt đẹp.
     Trong hành trình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thời gian tới, tôi sẽ không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ Chủ tịch Nước theo quy định của Hiến pháp, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức phấn đấu vì Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH.
     Không ngừng chăm lo xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chân thành lắng nghe các ý kiến vì dân, vì nước của mọi người Việt Nam yêu nước; quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, lấy lợi ích hợp pháp và chính đáng của nhân dân là điểm xuất phát, là mục tiêu quan trọng của các quyết sách.
     Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh.
     Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững; xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh; cổ vũ cho tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Trân trọng và ủng hộ khát vọng vươn lên của mỗi người dân, tạo môi trường để mọi người nhất là thế hệ trẻ được tiếp cận công bằng, minh bạch với những cơ hội phát triển và cống hiến cho đất nước.
     Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về mọi mặt, thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
     Tích cực đóng góp cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới, trên tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
     Tôi xin mượn câu thơ của nhà thơ Xuân Diệu mà tôi yêu thích từ thời trung học để nói thay lòng mình về cam kết của tôi với Quốc hội, đồng bào, chiến sỹ, cử tri cả nước trong hành trình sắp tới:
     "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
     Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
     Của triệu người yêu dấu gian lao."
     Một lần nữa, tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, đồng chí, đồng bào và cử tri cả nước!
Yêu nước ST.

 Kế tục xuất sắc truyền thống anh hùng

Đọc loạt 5 bài “Bộ đội thời bình-những phẩm chất cao quý, không thể phủ nhận”, đăng trên Báo QĐND, tôi thực sự xúc động. Những câu chuyện về sự cống hiến, hy sinh như sống lại một thời trai trẻ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” của mình và đồng đội.

Loạt bài viết phản ánh một cách chân thực đời sống của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam hiện nay, giúp chúng ta hiểu hơn những giá trị, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Tôi cũng từng là người lính Cụ Hồ, có mặt ở khắp Bắc, Trung, Nam, từ địa đầu Móng Cái đến đất mũi Cà Mau, cũng nếm trải đủ gian nguy, vất vả của người chiến sĩ. Thế nhưng quả thực, khi chứng kiến hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ ngã xuống trên đường vào cứu trợ người dân gặp nạn ở miền Trung; biết tin có thêm những sự hy sinh trong thời bình, tôi không thể nào kiềm chế được xúc động. Bao giờ cũng thế, ở đâu khó khăn, hoạn nạn, ở đâu xảy ra thiên tai địch họa, thì ở đó có quân đội. Và sự hy sinh của họ càng chứng tỏ truyền thống không bao giờ thay đổi của QĐND Việt Nam: Quân đội của Bác Hồ, quân đội của nhân dân và từ nhân dân mà ra. Sự hy sinh của những người lính thời bình đã kế tục xuất sắc trang sử anh dũng, bất khuất của những thế hệ cha anh đi trước, cũng đã từng xả thân vì trách nhiệm với nhân dân, với đất nước trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Có thể dễ dàng nhận thấy: Càng trong khó khăn, gian khổ, trong mất mát, đau thương, chúng ta càng khắc ghi hình ảnh đẹp đẽ và những cống hiến, hy sinh cao quý của Bộ đội Cụ Hồ!

Hy sinh và cống hiến hết thảy vì nhân dân

Chúng tôi nhìn thấy bóng dáng của chính mình trong loạt bài “Bộ đội thời bình-những phẩm chất cao quý, không thể phủ nhận” nên thật sự xúc động và biết ơn Báo QĐND đã nói hộ tình cảm và tâm nguyện của bộ đội trong thời bình.

Nhắc đến Quân đoàn 3, người ta nghĩ ngay đến khó khăn, gian khổ, vì địa bàn đóng quân của các đơn vị chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội còn nhiều thiếu thốn. Nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, xây dựng địa bàn luôn đặt ra yêu cầu cao. Trong khi đó, phần lớn cán bộ của quân đoàn có quê hương, gia đình ở phía Bắc; nhiều đồng chí cả năm, thậm chí là vài năm mới về thăm quê, thăm bố mẹ được một lần.

Mặc dù vậy, các thế hệ cán bộ, sĩ quan của quân đoàn luôn đoàn kết, đồng lòng gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trở thành điểm tựa vững chắc cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng nông thôn mới, củng cố, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh. Hình ảnh cán bộ Quân đoàn 3 chỉ huy bộ đội “cõng” những ngôi nhà sàn nặng hàng chục tấn trên vai để di dời, quy hoạch xây dựng làng nông thôn mới; giúp nhân dân khai hoang, phục hóa ruộng lúa, thu hoạch mùa màng; dũng cảm, kiên cường trước “giặc lửa” để cứu rừng, cứu dân; tiên phong đi đầu trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19”... là những minh chứng sáng ngời, tô đẹp thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.

Đội ngũ cán bộ Quân đoàn 3 phần lớn không sinh ra và lớn lên ở Tây Nguyên nhưng luôn xem Tây Nguyên là quê hương, đồng bào các dân tộc như anh em ruột thịt; giúp nhân dân không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm mà còn là sự tri ân, đền đáp tình cảm yêu thương, đùm bọc của đồng bào đối với quân đoàn trong hơn 46 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành. Càng trọng dân và yêu Tây Nguyên, chúng tôi càng quyết tâm đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng phá hoại cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ... 

LOẠT BÀI VIẾT ĐĂNG TRÊN CHUYÊN MỤC  BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN