Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

Đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh qua ngòi bút Phạm Văn Đồng

 

Đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh qua ngòi bút Phạm Văn Đồng

 

Là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn tâm niệm trọn đời học tập và làm theo Bác, trong suốt cuộc đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đọc những áng văn Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết về Bác Hồ, nếu nói theo lý thuyết tiếp nhận hiện đại thì đây là những áng văn có giá trị “đồng sáng tạo” rất cao. Dường như, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm đẫm vào cốt cách, tâm hồn của Thủ tướng để từ đó, tái hiện một cách tinh tế những nội dung đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng một văn phong giản dị, trong sáng và đầy hình ảnh, rất Phạm Văn Đồng.

Phát huy vai trò của tổ chức cơ sở Đảng, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong BĐBP

 Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là vấn đề cấp bách, đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nói chung, BĐBP nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này, các tổ chức cơ sở Đảng trong toàn lực lượng BĐBP cần nâng cao bản lĩnh chính trị, nhận thức và hành động cho từng cán bộ, đảng viên và quần chúng.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là quá trình diễn biến bên trong của một bộ phận cán bộ, đảng viên, theo hướng tiêu cực. Nếu không ngăn chặn, khắc phục kịp thời có thể dẫn đến tình trạng thoái hóa, biến chất.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực”.

Hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra rất phức tạp, nguy hiểm nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động về lập trường, quan điểm chính trị, sa sút ý chí chiến đấu, mơ hồ, hoài nghi về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Từ đó, phủ nhận các giá trị truyền thống, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Dẫn đến vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, thậm chí có cá nhân ý thức chính trị kém đã phụ họa, cổ súy cho những quan điểm sai trái, lệch lạc, chống phá sự nghiệp cách mạng, gây tổn hại đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng…

Nguy hiểm hơn, đó là biểu hiện xuyên tạc, cố tình hiểu sai bản chất nền quốc phòng, thay đổi bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, hướng đến thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an. Tuyên truyền, xuyên tạc các vấn đề nội bộ của quốc gia, hướng dư luận quốc tế ủng hộ cho mục đích can dự lật đổ từ bên ngoài của các thế lực thù địch...

Để kịp thời ngăn chặn và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các tổ chức cơ sở Đảng trong toàn lực lượng BĐBP cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, quản lý tốt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, coi lãnh đạo, quản lý chặt chẽ tư tưởng là một chủ trương, biện pháp đặc biệt quan trọng. Các tổ chức cơ sở Đảng, nhất là các đơn vị độc lập cần tập trung quản lý, kịp thời nắm bắt, giải quyết những tư tưởng mới nảy sinh.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả, thực chất Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Duy trì nghiêm túc hoạt động tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng.

Coi trọng khâu đột phá trong giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm tăng cường sức đề kháng, ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân. Phê phán những biểu hiện ngại rèn luyện, lười suy nghĩ, lười học tập chính trị. Bởi vì đây là nguyên nhân trực tiếp làm cho cán bộ, đảng viên trở nên lạc hậu, nảy sinh chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến tình trạng vun vén cho bản thân, gia đình, lợi ích nhóm. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất làm suy giảm nghiêm trọng sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cách mạng chân chính, hết lòng vì nước, vì dân.

Song hành với đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức về lập trường, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Kịp thời thông tin, tuyên truyền cung cấp thông tin chính thống, định hướng tốt về những vấn đề được dư luận quan tâm, không để các thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá tình hình nội bộ. Giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, chi bộ cơ quan, đơn vị...

Việc đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức cơ sở Đảng phải gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thường xuyên tuyên truyền các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt chú trọng 2 tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” và “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Cách tuyên truyền phải vận dụng linh hoạt phương châm “mưa dầm thấm lâu”, mỗi tháng chỉ học tập 1 phần nhưng phải cụ thể, sinh động có vận dụng vào thực tế đơn vị để tránh nhàm chán.

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị, nhất là cán bộ đảm nhiệm công tác giáo dục chính trị phải là người am hiểu về tư tưởng Hồ Chí Minh, có kỹ năng sư phạm, báo cáo có cơ sở lý luận và có tính thuyết phục cao, tuyên truyền gắn với thực tiễn. Xây dựng, ban hành quy định về tự phê bình và phê bình trên tinh thần tự giác, nghiêm túc, nhằm khắc phục triệt để tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, phê bình kiểu nịnh bợ nhau, nói lấy lòng, đồng thuận xuôi chiều, tự phê bình thì quanh co che giấu sai phạm, khuyết điểm rồi đổ lỗi do khách quan… Có cơ chế bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh vì lẽ phải, vì tập thể, vì cái chung, vì mục tiêu cao cả của Đảng.

Như vậy, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết, kết luận và quy định được Đảng ta ban hành gần đây là tấm gương để mỗi cán bộ, đảng viên soi vào trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Đâycũng là cách để tạo ra “kháng thể” phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh về chính trị, lãnh đạo đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Thơ ca giải phóng miền Nam, một hình thái đặc thù của thơ ca giai đoạn 1945-1975

 

Thơ ca giải phóng miền Nam, một hình thái đặc thù

của thơ ca giai đoạn 1945-1975

 

 

Trong bức tranh toàn cảnh thơ ca giai đoạn 1945-1975, không thể không kể đến thơ ca giải phóng miền Nam, một bộ phận thơ ở tuyến đầu chống Mỹ - ngụy, với một đội ngũ nhà thơ triệt để và đầy bản lĩnh trong quan niệm nghệ thuật: lấy thơ ca làm vũ khí chiến đấu (Thơ là súng là gươm - Lê Anh Xuân). Có thể nói, đây là quan niệm chung chi phối cảm hứng và tư thế diễn ngôn của văn nghệ sĩ trong văn học giai đoạn chiến tranh và cách mạng.

Vấn đề tiếp nhận văn học Mĩ viết về chiến tranh Việt Nam ở nước ta hiện nay

 

Vấn đề tiếp nhận văn học Mĩ viết về chiến tranh Việt Nam

ở nước ta hiện nay


          Thơ ca và tiểu thuyết Mĩ về chiến tranh Việt Nam dồi dào là thế, nhưng trong suốt cuộc chiến tranh, và cả ba mươi năm sau cuộc chiến, những tác phẩm đó gần như không đến được với độc giả Việt Nam. Chúng ta có lí do cho sự chậm trễ này. Trong thời chiến, lí do chính trị khiến cho không chỉ dòng văn học về chiến tranh Việt Nam mà toàn bộ nền văn học Mĩ nói chung chỉ đến được với miền Bắc Việt Nam một cách rất hạn chế. Lúc đó độc giả miền Bắc chỉ biết đến những nhà văn Mĩ lừng lẫy như Ernest Hemingway, Jack London, Mark Twain, O’Henry… Chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu tình hình dịch thuật văn học Mĩ ở miền Nam Việt Nam trước 1975, nhưng dưới ảnh hưởng của một nền chính trị “thân Mĩ”, chắc chắn văn học Mĩ ở miền Nam khi ấy phải hết sức đồ sộ. Trong hai mươi năm cấm vận hậu chiến, tình hình tiếp nhận văn học Mĩ ở cả hai miền cũng không khởi sắc hơn miền Bắc trước 1975 là bao. Những tác phẩm văn học Mĩ ở miền Nam trước kia, vì những lí do lịch sử, đã thất tán nhiều nơi, hoặc nếu được lưu lại thì độc giả cũng không dễ dàng tiếp cận. Những tác phẩm dịch mới lại hết sức nhỏ giọt, mặc dù đã có sự xuất hiện của một số tác giả có tính thị trường. Chúng tôi đếm được từ một thống kê chưa đầy đủ của Lê Thị Kim Loan thì trong số 1067 bản dịch văn học Mĩ ở Việt Nam sau 1975 chỉ có 130 (khoảng 12%) bản dịch ra mắt độc giả trước năm 1995, năm mà hai chính phủ Việt - Mĩ chính thức nối lại quan hệ ngoại giao. Trong 130 tác phẩm được dịch trước năm 1995 nói trên, không có tác phẩm nào viết về chiến tranh Việt Nam.

KỶ NIỆM 64 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG (3-3-1959 / 3-3-2023), 34 NĂM NGÀY BIÊN PHÒNG TOÀN DÂN (3-3-1989 / 3-3-2023) Chung tay xây thế vững biên cương

 

KỶ NIỆM 64 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG (3-3-1959 / 3-3-2023), 34 NĂM NGÀY BIÊN PHÒNG TOÀN DÂN

(3-3-1989 / 3-3-2023)

 

Chung tay xây thế vững biên cương

 

“Xây dựng nền biên phòng toàn dân (BPTD) và thế trận BPTD vững mạnh, ổn định lâu dài trong nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và thế trận QPTD gắn với nền an ninh nhân dân (ANND) và thế trận ANND vững chắc” là chủ trương được xác định tại Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia (BGQG) và cụ thể hóa trong Luật Biên phòng Việt Nam.

Phê phán quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Phê phán quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Hiện nay, trên không gian mạng xã hội đang lan truyền quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, với những thủ đoạn che giấu tinh vi của các thế lực thù địch, đã khiến cho không ít người nhẹ dạ cả tin. Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng: Trân trọng và ủng hộ khát vọng vươn lên của mỗi người dân

 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng: Trân trọng và ủng hộ

khát vọng vươn lên của mỗi người dân

 

Sáng 2/3, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 4, Quốc hội khóa XV, ông Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhiệm kỳ 2021-2026.

Rèn luyện nâng cao đạo đức người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh về “trung với nước, hiếu với dân”

“Trung” và “Hiếu” là chuẩn mực cơ bản của đạo đức truyền thống. Trên cơ sở phát huy giá trị truyền thống kết hợp tư tưởng đạo đức cách mạng người cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển thành chuẩn mực đạo đức cách mạng, Người chỉ dẫn: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”. Trung với nước là trung thành với lợi ích của đất nước, lợi ích của nhân dân. Lợi ích của đất nước là độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân; là lợi ích chung của các giai cấp, tôn giáo, dân tộc và các thành phần trong xã hội. Hồ Chí Minh khẳng định, ai đã là người Việt Nam thì ít nhiều cũng yêu nước, nên “trung với nước” là đạo đức của tất cả các thành phần, các cá nhân trong xã hội. Trung với Đảng nghĩa là người cán bộ, đảng viên suốt đời đi theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác”. Trung với Đảng chính là “chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống". Hiếu với dân là sự kính trọng nhân dân, lễ phép với dân, tin vào dân, lắng nghe ý kiến của dân, gần gũi với dân, hòa với dân thành một khối, thương dân, yêu dân, chăm lo lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân hết lòng. Lịch sử Việt Nam mấy nghìn năm là lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhiều thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Sự sống ngày hôm nay là sự tiếp nối của ngày hôm qua nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Bởi vậy “hiếu với dân” là thể hiện lòng biết ơn đối với đất nước, đối với các thế hệ cha ông. Đối với cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt ngắn gọn mục tiêu này là: cán bộ, đảng viên phải có Đức và Tài, trong đó Người khẳng định “Đức là gốc”. Theo Người: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”. Thực tế cách mạng cho thấy, đạo đức của người cán bộ, đảng viên là nhân tố quyết định nhất đến niềm tin của nhân dân với Đảng: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động, tác động nhiều chiều đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của người cán bộ, đảng viên, việc cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, cán bộ, đảng viên thực hiện “trung với nước, hiếu với dân” với các nội dung sau: - Trung với nước phải thể hiện ở sự trung thành tuyệt đối với lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng, của tổ chức mà mình tham gia. Trung với nước trước tiên là phải có niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng của Đảng và phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Niềm tin phải từ ý chí vươn lên thoát khỏi đói nghèo, khát vọng vươn lên hạnh phúc, giàu có và thịnh vượng, khát vọng được cống hiến cho xã hội, như Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Người cán bộ, đảng viên cần xây dựng niềm tin vào sức mạnh của dân tộc, vào sự lãnh đạo của Đảng, vào khả năng của mỗi con người để từ đó phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự chủ của cả dân tộc. Niềm tin đó phải được bồi dưỡng thường xuyên trên cơ sở khoa học và thực tiễn để trở thành niềm tin khoa học mang tính bền vững. Niềm tin đó là cơ sở cho sự trung thành đối với đất nước, dân tộc, đối với Đảng của cán bộ, đảng viên. - Hiếu với dân trong điều kiện hiện nay là tôn trọng nhân dân, chăm lo lợi ích cho nhân dân, đặc biệt là không ngừng mở rộng dân chủ nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân. Cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành nhiệm vụ được giao thì phải dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân. Muốn vậy, phải biết gần dân, hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, làm lợi cho dân. Ngoài phục vụ nhân dân, cán bộ, đảng viên còn cần thể hiện thái độ khiêm tốn, thật thà đối với nhân dân. “Trung với nước, hiếu với dân” không chỉ là trách nhiệm mà còn là đạo lý của cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải chủ động, sáng tạo, hết lòng, hết sức làm tròn những việc được giao, nếu không làm tốt thì phải chịu trách nhiệm về những hậu quả của việc đó. Cán bộ, đảng viên thực hành đạo đức “trung với nước, hiếu với dân” là làm đúng đường lối của Đảng, quy định của pháp luật; làm đúng với đạo lý uống nước nhớ nguồn, mang lại lợi ích cho bản thân và cộng đồng. Thực hiện “trung với nước, hiếu với dân”, cán bộ, đảng viên, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

CHÀO THÁNG BA- THÁNG CỦA TUỔI TRẺ!

 HÁNG THANH NIÊN NĂM 2023 CHỦ ĐỀ TUỔI TRẺ TIÊN PHONG CHUYỂN ĐỔI SỐ

Đặc biệt trong Tháng Thanh niên 2023 sẽ diễn ra 2 sự kiện quan trọng: Hội nghị đối thoại của Thủ tướng Chính phủ với thanh niên (ngày 26/3, tại Hà Nội) và chương trình giao lưu giữa Ban Bí thư T.Ư Đoàn với đoàn viên, thanh thiếu nhi trong và ngoài nước (ngày 18/3, tại Hà Nội).
Ban Bí thư T.Ư Đoàn vừa ban hành kế hoạch Tháng Thanh niên năm 2023 với chủ đề “Tuổi trẻ tiên phong chuyển đổi số”.
Với chủ đề này, Tháng Thanh niên năm nay sẽ tăng cường chuyển đổi số đồng bộ trên tất cả các mặt công tác của Đoàn; phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia tích cực công cuộc chuyển đổi số, vận dụng, ứng dụng công nghệ số trong thực tiễn cuộc sống và nâng cao năng lực số cho thanh thiếu nhi. Đồng thời, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, khả năng sáng tạo của thanh niên trong tham gia thực hiện các công trình, phần việc góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn và tham gia phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, đơn vị. Thông qua hoạt động tình nguyện góp phần tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên; củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn, Hội; khẳng định vị trí, vai trò của tổ chức Đoàn, Hội trong thanh niên và xã hội.
Các nhóm nội dung sẽ được triển khai trong Tháng Thanh niên 2023, như: tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục; các hoạt động phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các hoạt động đồng hành với thanh niên; chăm lo, hỗ trợ thanh thiếu nhi; xây dựng Đoàn vững mạnh, mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên, Đoàn tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị...
Lễ khởi động Tháng Thanh niên năm 2023 sẽ được tổ chức tại Bình Thuận vào ngày 26/2.
Trong Tháng Thanh niên sẽ diễn ra nhiều hoạt động cấp T.Ư: chương trình Tháng 3 biên giới năm 2023 (diễn ra ngày 3/3, tại Lạng Sơn, Quảng Trị, Kiên Giang); Hội nghị trực tuyến học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII và khởi động cuộc thi trực tuyến tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII (ngày 6,7/3, tại Hà Nội); ra quân Ngày cao điểm tình nguyện hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến (ngày 18/3, tại Hà Nội); chương trình tuyên dương cán bộ Đoàn tiêu biểu toàn quốc và trao giải thưởng Lý Tự Trọng năm 2023 (ngày 22/3, tại Hà Nội); lễ trao giải thưởng Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2022 (ngày 23/3, tại Hà Nội); lễ kỷ niệm 60 năm phong trào "Nghìn việc tốt" (ngày 24/3, tại Bắc Ninh); lễ phát động cuộc thi tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII (ngày 30/3, tại Hà Nội).
Tháng Thanh niên 2023 cũng sẽ diễn ra các ngày hoạt động cao điểm, gồm: ngày cao điểm tình nguyện hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến (diễn ra ngày 18/3); Ngày Đoàn viên (diễn ra ngày 26/3).
Ban Bí thư T.Ư Đoàn yêu cầu các hoạt động Tháng Thanh niên năm 2023 phải được triển khai sâu rộng từ cơ sở, có tính hành động cao, đảm bảo thiết thực, hiệu quả và bám sát trọng tâm công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2023; đồng thời, phù hợp với chương trình hoạt động và nhu cầu của địa phương. Các hoạt động, công trình được triển khai ngay sau lễ phát động; phát huy được vai trò xung kích tình nguyện, tinh thần sáng tạo của đoàn viên, thanh niên. Đặc biệt, các cấp bộ Đoàn, Hội chú trọng thực hiện 3 liên kết trong việc thực hiện các hoạt động tình nguyện “liên kết lực lượng, liên kết địa bàn, liên kết cộng đồng”./.
ST






THỐNG KÊ VỀ HOA KỲ

 

▪️Mỹ là nhà sản xuất chiến tranh lớn nhất;
▪️Hoa Kỳ đã không tham chiến chỉ 16 năm trong lịch sử 240 năm của mình;
▪️Mỹ đã khởi xướng khoảng 80% các cuộc xung đột vũ trang trên thế giới kể từ khi Thế chiến II kết thúc;
▪️Hầu hết Hoa Kỳ vi phạm chủ quyền của các quốc gia khác và can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác;
▪️Sau khi Thế chiến II kết thúc, Hoa Kỳ đã cố gắng lật đổ hơn 50 chính phủ nước ngoài;
▪️Đã can thiệp thô bạo vào các cuộc bầu cử ở ít nhất 30 quốc gia và cố gắng ám sát hơn 50 nhà lãnh đạo nước ngoài;
▪️Các cuộc chiến của NATO chống lại Afghanistan, Iraq và Syria dưới sự dẫn dắt của Mỹ đã khiến hơn 900.000 người thiệt mạng và 37 triệu người tị nạn.
▪️ Chừng nào chính sách bá quyền và khuynh hướng hiếu chiến của Mỹ còn tiếp diễn thì thế giới sẽ không có hòa bình./.
ST



TIỂU SỬ TÓM TẮT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG

 Đồng chí Võ Văn Thưởng sinh ngày: 13/12/1970; vào Đảng ngày: 18/11/1993; quê quán: xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Triết học.

Đồng chí Võ Văn Thưởng là Ủy viên Bộ Chính trị: Khóa XII, XIII; Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa X (dự khuyết), XI, XII, XIII; Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương: Khóa XII; Đại biểu Quốc hội: Khóa XII, XIV.
Đồng chí Võ Văn Thưởng từng là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (từ tháng 1/2007); từ tháng 8/2011-4/2014: được Bộ Chính trị phân công giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi;
Từ tháng 4/2014 - 10/2015, đồng chí Võ Văn Thưởng được Bộ Chính trị phân công giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh;
Từ tháng 10/2015 - 2/2016: đồng chí Võ Văn Thưởng tái cử giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; được Bộ Chính trị phân công điều hành công tác Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đồng chí Võ Văn Thưởng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 2/2016, đồng chí Võ Văn Thưởng được Bộ Chính trị phân công tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, giữ chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.
Ngày 30/1/2021, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đồng chí Võ Văn Thưởng được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII.
Ngày 31/1/2021, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đồng chí Võ Văn Thưởng được bầu vào Bộ Chính trị khóa XIII.
Ngày 5/2/2021, tại Quyết định số 01-QĐNS/TW, Bộ Chính trị đã phân công đồng chí Võ Văn Thưởng giữ chức Thường trực Ban Bí thư.
Ngày 02/3/2023, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 4, Quốc hội khóa XV đã bầu đồng chí VÕ VĂN THƯỞNG giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021-2026./.
ST

QUÀ CỦA TƯ LỆNH

 Tại Hội thảo khoa học “Đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên-nhà hoạt động thực tiễn xuất sắc của cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình” diễn ra nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên tại tỉnh Quảng Bình cuối tháng 2 vừa qua, câu chuyện của Đại tá Phạm Văn Việt, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Chiến lược Quốc phòng, Khoa Chiến lược (Học viện Quốc phòng) về kỷ niệm lần đầu tiên được gặp vị Tư lệnh Trường Sơn huyền thoại khiến người nghe không khỏi xúc động.

Trò chuyện với chúng tôi, Đại tá Phạm Văn Việt, hiện đang sinh sống tại thôn Tử Lý, xã Đông Ninh, huyện Khoái Châu (Hưng Yên) cho biết: “Sau lần gặp đầu tiên ấy tôi may mắn còn có một số lần được gặp và nghe Tư lệnh trò chuyện, giao nhiệm vụ. Nhưng cảm xúc và ấn tượng trong lần đầu tiếp xúc với thủ trưởng Đồng Sỹ Nguyên luôn là ký ức không phai mờ trong tôi. Hơn 50 năm đã qua, giờ nhắc lại dường như cái vị ngọt của bát canh-là món quà ông tặng hôm ấy còn vương đâu đây!”, ông cho biết.
Ông Phạm Văn Việt sinh năm 1946. Ngay khi vừa tròn 18 tuổi, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ năm 1964 và được biên chế về Trung đoàn 229 Công binh. Năm 1966, ông được cấp trên điều về Đại đội 3, Tiểu đoàn 77 Công binh trực thuộc Bộ Tư lệnh 559. Thời gian này, đơn vị ông chịu trách nhiệm hoàn thành nốt đoạn đường dài khoảng 20km dẫn vào Sở Chỉ huy Bộ tư lệnh 559 do Trung đoàn 83 Công binh đang thi công dở thì có lệnh điều đi làm nhiệm vụ khác. Quá trình ấy, cấp trên lại điều Phạm Văn Việt, lúc đó đã là Chính trị viên Đại đội 3 dẫn đầu một trung đội tiến hành cải tạo đoạn địa đạo ở gần đó. Và thế là ông cùng đồng đội đã tình cờ được gặp và đón nhận tình cảm của vị Tư lệnh Trường Sơn huyền thoại. Trong sự xúc động, Đại tá Phạm Văn Việt nhớ lại: “Hồi ấy chỉ là một cán bộ cấp thấp tôi có bao giờ nghĩ được gặp người chỉ huy cao nhất đâu. Không ngờ, vinh dự ấy lại đến với mình. Kỷ niệm thì cũng nhỏ bé thôi nhưng nó theo tôi suốt 44 năm quân ngũ”.
Theo dòng hồi ức của người cựu chiến binh, hình ảnh của một buổi trưa cuối năm 1969 đáng nhớ ấy dần hiện về. Hôm ấy, Phạm Văn Việt cùng một trung đội đến sửa chữa khu địa đạo gần Sở chỉ huy theo kế hoạch. Giữa lúc đơn vị nghỉ, tranh thủ ăn trưa thì thấy một người cao to, tóc hoa râm trong bộ quân phục mang quân hàm đại tá từ địa đạo “lừ lừ” bước ra. Khi ông đến gần, phỏng đoán đây hẳn là một lãnh đạo cao cấp của Bộ tư lệnh đi kiểm tra việc thi công, cả đội đứng dậy chào theo điều lệnh, thâm tâm “đoán già đoán non” không biết là ai.
Đại tá Phạm Văn Việt kể: “Dáng vẻ bề ngoài cao lớn thế những tưởng ông cũng sẽ "ăn to, nói lớn" không ngờ phong cách của ông rất gần gũi, thân thiện. Ông bắt tay, chia thuốc lá cho từng người rồi tự nhiên ngồi xuống ngay bên cạnh tôi. Biết chúng tôi là lính công binh, bằng giọng xứ Quảng nhỏ nhẹ, chậm rãi, như người cha đang nói chuyện với các con, ông hỏi han tiến độ công việc, có gặp khó khăn gì và dặn dò chúng tôi khi làm việc phải lưu ý đến bảo đảm an toàn và luôn trong tâm thế ra mặt trận để giải phóng đường nếu địch đánh phá... Đang nói chuyện vui vẻ bỗng nhiên ông quay lưng đi trở vào trong địa đạo. Khoảng mấy phút sau đã thấy ông quay ra, hai tay bưng ra một bát bát canh ra và nói: “Tiêu chuẩn của mình, chia cho các cậu ăn cho vui nhé!”.
Do ở vị trí gần nhất nên đồng chí Phạm Văn Việt vội đứng dậy đón lấy bát canh. Nhìn vào, ông không nén nổi xúc động: Bát canh toàn nước, lõng bõng có mấy miếng bí xanh… Một cảm giác vô cùng ấm áp chợt ào đến. Khi biết bát canh chia cho bộ đội là một nửa tiêu chuẩn của thủ trưởng, ông Việt bày tỏ sự ngại ngùng thì vị đại tá nói ngay: Chúng mình ăn cùng cho vui, chẳng nhẽ phải có cả một nồi to tớ mới được chia cho các cậu à!
Hôm đó, cả đội không hề biết người trò chuyện, tặng canh cho mình là Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên. “Phải đến nửa tháng sau, anh Nguyễn Hoàng Hiếu-Chính trị viên Tiểu đoàn 77 xuống thăm đơn vị. Sau khi nghe tôi mô tả người được gặp và trò chuyện hôm trước, anh Hiếu khẳng định tôi mới biết đó chính là Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên. Sau này tôi còn được biết, việc ông quan tâm, động viên đến từ người chiến sĩ "bé nhỏ" là thường xuyên. "Không nói đâu xa, ngay với Đại đội 3 của tôi, sau này mỗi dịp đi qua vị trí đóng quân của đơn vị, kể cả khi chúng tôi làm nhiệm vụ ở xa, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đều gửi tặng quà là thuốc lá, gói kẹo... Khi thì ông vào tận nơi, khi thì giao cho đồng chí liên lạc mang đến. Mỗi lần như vậy, dù ít dù nhiều chúng tôi chia đều cho các trung đội và công bố rõ: Đó là quà của Tư lệnh"-đồng chí Phạm Văn Việt nhớ lại.
Sự quan tâm, chia sẻ của người chỉ huy bằng hành động thực tế ý nghĩa khiến Đại tá Phạm Văn Việt và đồng đội không bao giờ quên. 8 năm ở chiến trường Trường Sơn, trải qua bao gian khổ, khó khăn nhưng ông luôn cố gắng vượt qua. Ông bảo, Trường Sơn là trường học vĩ đại đã tôi luyện cho mình bản lĩnh, ý chí vươn lên. Và cũng chính Trường Sơn là “ông tơ” đã se duyên để ông gặp được người bạn đời thủy chung là nữ quân y sĩ Nguyễn Thị Mai Hoa của Cục Tham mưu vận chuyển, Bộ tư lệnh 559. Hiện nay, gia đình ông đang sống tại quê nhà Hưng Yên. Mỗi dịp gặp mặt gia đình và đồng đội, trong niềm xúc động, tự hào Đại tá, cựu chiến binh Phạm Văn Việt lại kể về những kỷ niệm là dấu ấn không phai mờ trong cuộc đời quân ngũ của mình./.
ST

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 03/3

  “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.
Đối với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn, gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
ST

VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHÓNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN


Hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lê - nin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ CỐT CÁCH KẺ SĨ

 


Tại cuộc gặp mặt đại biểu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ cả nước tổ chức tại Hà Nội ngày 16-2-2023, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh: Đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ là nguyên khí của quốc gia, là vốn quý của dân tộc.
Đảng, Nhà nước luôn mong muốn đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ tiếp tục tận hiến với quốc gia, dân tộc; giữ vững cốt cách, tinh thần như tùng, như bách...
ĐỂ NGUYÊN KHÍ KHÔNG BỊ TỔN HAO
Từ xa xưa, giới trí thức, những người học cao hiểu rộng, có chí khí được nhân dân vinh danh là kẻ sĩ. Danh xưng kẻ sĩ, ngoài ý nghĩa đề cao đạo học và nhân tài, còn là sự gửi gắm, hy vọng, đặt ra yêu cầu cao về nhân cách, cốt cách người quân tử, dù cạm bẫy, cám dỗ thế nào cũng phải luôn giữ lòng ngay thẳng, tôn trọng, đấu tranh bảo vệ lẽ phải. Lịch sử dân tộc qua các thời kỳ đã chứng minh, hiền tài là nguyên khí quốc gia, là vốn quý của dân tộc. Sự tồn vong của chế độ; cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước phụ thuộc rất lớn vào vai trò của tầng lớp tinh hoa trong đời sống xã hội. Cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) viết: “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt/ Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên...” (Tước có 5 bậc, sĩ được dự vào bậc nhất/ Dân có 4 loại, sĩ đứng đầu...). Bất cứ triều đại nào muốn phát triển thịnh vượng cũng phải coi trọng chính sách xây dựng, trọng dụng hiền tài.
Bởi tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài nên khi đất nước gặp họa xâm lăng, nô dịch, kẻ thù của dân tộc luôn tìm mọi cách tấn công, mua chuộc kẻ sĩ. Mục tiêu của các thế lực xâm lăng là làm cho nguyên khí quốc gia suy yếu để dễ bề thao túng, cai trị, biến đất nước ta thành thuộc địa, nhân dân thành nô lệ. Với tinh thần, cốt cách của tinh hoa người Việt, các bậc sĩ phu, hiền tài trong lịch sử dân tộc luôn đề cao tinh thần yêu nước, không bao giờ chịu khuất phục, cúi đầu trước âm mưu, thủ đoạn của ngoại bang. Các tấm gương kẻ sĩ với tinh thần, cốt cách như tùng, như bách, chí khí hiên ngang đã trở thành những biểu tượng đẹp, sống mãi cùng lịch sử dân tộc, tiếng thơm lưu danh vạn thuở.
Tuy nhiên, lịch sử dân tộc cũng ghi rõ không ít trường hợp người tài trở cờ, phản quốc cầu vinh, để lại vết nhơ, tiếng xấu đến muôn đời. Con đường phản quốc cầu vinh của những kẻ cơ hội mỗi thời một khác, mỗi người một kiểu, nhưng đều xuất phát từ lòng tham, đố kỵ, cơ hội. Họ đều là những người có tài nhưng kém đức, mang tinh thần, tham vọng của kẻ tiểu nhân, lung lay cốt cách...
Lịch sử luôn công bằng. Người có công được vinh danh, kẻ có tội bị trừng phạt. Trong các hình phạt đối với những kẻ phản quốc cầu vinh, sự nguyền rủa của người đời là hình phạt nặng nề nhất. “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ...” là thế!
Thời đại ngày nay, đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang mở ra những vận hội, thời cơ mới, tạo môi trường thuận lợi lý tưởng để nhân tài bộc lộ phẩm chất, tài năng, khẳng định giá trị bản thân và khát vọng, mục tiêu cống hiến. Xây dựng đất nước hùng cường, dân tộc phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, thái bình là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Với vai trò, vị thế là tầng lớp tinh hoa của xã hội, giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ mang trọng trách, sứ mệnh cao cả với khát vọng của quốc gia, dân tộc... Để củng cố, chấn hưng, không ngừng phát triển nguyên khí quốc gia, giữ gìn vốn quý của dân tộc, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng. Việc bổ sung, từng bước hoàn thiện chủ trương, chính sách, giải pháp khuyến khích, trọng dụng và bảo vệ hiền tài vừa để tạo môi trường, cơ hội thuận lợi cho hiền tài phát triển, vừa bảo đảm cho nguyên khí quốc gia không bị tổn hao trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.
Đại hội XIII của Đảng xác định: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ... tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững... Như vậy, mục tiêu lao động và cống hiến của giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong thời đại ngày nay là sự hòa quyện, phản ánh chân thực và sinh động khát vọng dân tộc hùng cường. Mỗi cá nhân kẻ sĩ là một nhân tố quan trọng cấu thành nguyên khí quốc gia, vốn quý của dân tộc. Mọi tư tưởng, hành động của kẻ sĩ cần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết, hướng đích đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường...
Giữ vững cốt cách như tùng, như bách
Điều mong muốn, gửi gắm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đối với giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong dịp đầu xuân mới Quý Mão 2023 không phải là một quan niệm mới, mà là sự nhắc lại, nhấn mạnh để làm sâu sắc thêm, cụ thể hơn quan điểm xuyên suốt của Đảng đối với hiền tài đất nước. Phải nhắc lại và nhấn mạnh thường xuyên vấn đề này để kẻ sĩ không lơ là, sao nhãng, bàng quan với khát vọng dân tộc; không dao động, ngả nghiêng trước những thủ đoạn lôi kéo, kích động, mua chuộc của các thế lực thù địch.
Trong số những đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài có nhiều người từng là trí thức của đất nước, một số người từng giữ cương vị quan trọng trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp. Họ đã được Đảng, Nhà nước đào tạo, được đất nước, nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc. Ấy vậy mà khi đã thành tài, “đủ lông đủ cánh”, được xã hội tôn vinh bằng những danh xưng “luật sư”, “nhà báo”, “chuyên gia”... thì vì tính đố kỵ, hẹp hòi, cơ hội... mà họ đã trở cờ, phản bội. Hằng ngày, hằng giờ, với thân phận của những kẻ lưu vong, họ tận dụng những tri thức đã được học, tận dụng tiện ích không gian mạng, thực hiện các chiến dịch truyền thông chĩa mũi dùi về quê hương, đất nước công kích, xuyên tạc với thái độ trịch thượng, hách dịch, lộng ngôn...
Xưa nay, những kẻ vô ơn với Tổ quốc, phản quốc cầu vinh chưa và không bao giờ có được cái kết tươi sáng-ngoài việc phải sống tha phương, ăn bám xứ người, ngay cả khi còn một chút tàn hơi cho đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn phải nếm trải sự cô đơn, tủi nhục khủng khiếp. Bài học nhãn tiền là thế, nhưng không ít người vẫn cứ ảo tưởng sức mạnh bản thân, thui chột cốt cách, tinh thần, lao vào giành nhau miếng pho mát được các thế lực thù địch bày sẵn trong bẫy chuột.
Trong thế giới ảo của không gian mạng hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, trí thức, văn nghệ sĩ là thành phần chịu ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ. Các thế lực thù địch sử dụng trăm phương nghìn kế để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc kẻ sĩ khiến không ít người bị dao động, ngả nghiêng. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ rõ biểu hiện này, đó là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng...
Những vấn đề Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra đã liên tục được Đảng ta chấn chỉnh, khắc phục bằng các giải pháp kiên trì, quyết liệt trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, càng khi đất nước đạt được những thành tựu to lớn, thì các thế lực thù địch càng ráo riết, mở rộng hơn quy mô, cường độ chống phá. Kẻ sĩ tiếp tục vừa là mục tiêu, vừa là công cụ bị các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Không ít người tiếp tục sập bẫy, bị điều tra, khởi tố vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Phải đưa những đối tượng ấy ra trừng trị trước pháp luật là việc cực chẳng đã, bởi Đảng, Nhà nước ta luôn mong muốn những ai trót nhúng chàm thì hãy tự gột rửa. Khi tất cả giải pháp giúp cho việc “gột rửa” ấy không có tác dụng, cái chất “tùng”, “bách” trong tư tưởng, cốt cách của họ đã bị mất thì mới phải truy tố. Tính nghiêm minh và tính nhân văn của pháp luật là thế.
Bởi vậy, việc nhấn mạnh yêu cầu phải giữ vững cốt cách, tinh thần như tùng, như bách không chỉ là sự mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với trí thức, văn nghệ sĩ, mà còn là lời tự răn, ý thức tự rèn giũa của kẻ sĩ trong đời sống hôm nay.
Tại cuộc họp mặt nêu trên, nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khẳng định: "Chưa bao giờ nghệ sĩ được quyền sáng tạo, bày tỏ phản biện xã hội như hiện nay. Không gian sáng tạo tự do sẽ chắp cánh cho nhà văn bay lên". Sự khẳng định đó góp phần bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cho rằng văn nghệ sĩ ở Việt Nam không có môi trường tự do sáng tạo, tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến...
Khi kẻ sĩ mang trong mình cốt cách như tùng, như bách thì chẳng có thế lực nào có thể lôi kéo, chẳng có thủ đoạn nào có thể khuất phục, chẳng có vũ khí nào có thể hạ gục...

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ “HÒN ĐÁ TẢNG” CỦA HỌC THUYẾT MÁC-XÍT VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI

 


Điều khác biệt căn bản về chất so với các luận thuyết chính trị - xã hội có trong lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác là sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học và tính đảng, tính lý luận và thực tiễn.

ĐOÀN KẾT ĐỂ PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN, KIÊN QUYẾT CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC, LỢI ÍCH NHÓM

 

Đại đoàn kết toàn dân tộc - di sản vô giá, truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

GIÁO SƯ, VIỆN SỸ TRẦN ĐẠI NGHĨA: CHA ĐẺ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

 

GS.VS. Trần Đại Nghĩa là một nhà khoa học kiệt xuất, được mệnh danh là cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Trải qua hai cuộc kháng chiến cứu nước, tên tuổi ông trở thành huyền thoại đối với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế.
Chiều 27/2, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp hội) đã tổ chức Hội thảo "Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - Cuộc đời và sự nghiệp". Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động nhằm hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Liên hiệp hội (26/3/1983-26/3/2023) và 110 năm ngày sinh của GS. VS Trần Đại Nghĩa.
Cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam
Phát biểu tại Hội thảo, TSKH. Phan Xuân Dũng - Chủ tịch Liên hiệp hội cho biết: Giáo sư, Viện sỹ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa là người mang trong mình tình yêu vô bờ với khoa học và tổ quốc, người đã biến tình yêu thành sức mạnh, sức chiến đấu mãnh liệt, góp phần không nhỏ vào công cuộc cách mạng giải phóng đất nước và cống hiến cho sự phát triển của nền khoa học nước nhà.
GS.VS. Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp), huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Ông là một nhà khoa học kiệt xuất, được mệnh danh là cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Trải qua hai cuộc kháng chiến cứu nước, tên tuổi ông trở thành huyền thoại đối với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế. Những đóng góp của ông đối với công cuộc cách mạng Việt Nam vô cùng to lớn, nhưng cuộc đời ông lại hết sức bình dị, khiêm nhường.
Năm 2023 cũng chính là năm kỷ niệm 110 năm ngày sinh của ông. Cha ông là Phạm Văn Mùi, một nhà nho uyên thâm, một nhà giáo giàu lòng nhân ái, thương yêu học sinh, tận tụy với công việc.
Dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, lại mồ côi cha từ khi mới 7 tuổi, song với tư chất thông minh và sự chăm chỉ, chịu khó, cậu bé Phạm Quang Lễ luôn luôn đạt kết quả học tập xuất sắc toàn diện, nhất là toán và các môn tự nhiên.
Năm 1926, Phạm Quang Lễ thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho, được nhận học bổng trong 4 năm học (1926 - 1930). Năm 1930, Phạm Quang Lễ thi đỗ vào Trường Petrus Ký (nay là Trường chuyên Lê Hồng Phong, Tp. Hồ Chí Minh) và được học bổng 3 năm liền. Năm 20 tuổi (1933), Phạm Quang Lễ đã trở thành thủ khoa cả tú tài bản xứ và tú tài Tây, nhưng ông quyết định không ra Hà Nội để học tiếp mà đi làm ở Tòa sứ Mỹ Tho, hy vọng sẽ du học để thực hiện hoài bão còn đang ấp ủ. Tháng 9/1935, Phạm Quang Lễ sang Pháp du học khi tròn 22 tuổi.
Tháng 9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, được Hội Việt kiều giới thiệu và tiến cử. Ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã đề đạt nguyện vọng theo Người về nước để thực hiện ước mơ ấp ủ, biến những kiến thức mà ông đã tích lũy được trong 11 năm thành hiện thực để phục vụ sự nghiệp cứu nước.
Ông là người đầu tiên được Bác Hồ lựa chọn về nước cùng Người vào mùa thu năm 1946. Tài sản, của ông tích hơn mười năm ở nước ngoài khi trở về Tổ quốc là “một tấn” sách và tài liệu được đóng hòm, dán nhãn “ngoại giao” . Tháng 12/1946, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho trọng trách: Cục trưởng Cục Quân giới - Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam) kiêm Giám đốc Nha nghiên cứu Quân giới - Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội (nay là Viện KH&CN Quân sự).
Cũng từ đây, cái tên Trần Đại Nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh. Người nói: “Kháng chiến toàn quốc sắp tới nơi, Bác giao chú nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội. Đây là việc đại nghĩa, vì thế Bác đặt tên chú là Trần Đại Nghĩa. Đây là bí danh từ nay trở đi của chú, để giữ bí mật và cũng là giữ an toàn cho bà con thân thuộc của chú ở trong miền Nam. Bác tin chắc chú sẽ làm tròn nhiệm vụ”.
Với những cải tiến, sáng chế được tạo bởi Trần Đại Nghĩa, vũ khí của Việt Nam đã có sức công phá lớn, trở thành nỗi khiếp sợ của quân thù. Các loại súng lớn, súng phóng bom, các loại mìn nổ chậm…đã gây cho kẻ thù bất ngờ, khiếp vía, kinh hoàng; giới vũ trang, quân sự quốc tế vô cùng ngạc nhiên, thán phục. Càng trong gian khó, tài năng về chế tạo vũ khí của Trần Đại Nghĩa càng tỏa sáng.
Và đặc biệt, với tài năng và đức độ hiếm thấy, Đảng và Nhà nước đã tiếp tục giao cho GS.VS Trần Đại Nghĩa nhiệm vụ quan trọng, đó là tạo dựng và phát triển ngôi nhà chung tập hợp đội ngũ trí thức, nhà khoa học của Việt Nam.
Nhà khoa học hết lòng phụng sự đất nước, Nhân dân
Thượng tướng Phạm Hòa Nam, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chia sẻ: Trên các cương vị công tác, GS.VS Trần Đại Nghĩa luôn tận tụy, đức độ, bản lĩnh cống hiến tài năng, trí tuệ để góp phần xây dựng Ngành Kỹ thuật quân sự và Công nghiệp quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã có đóng góp không nhỏ vào thắng lợi của Quân đội nhân dân Việt Nam trên lĩnh vực kỹ thuật quân sự, công nghệ quốc phòng. Những đóng góp và đức độ của Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đối với ngành Kỹ thuật quân sự và Công nghiệp quốc phòng đất nước là niềm tự hào đối với dân tộc. Đảng, Nhà nước và Quân đội đánh giá cao những đóng góp to lớn của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Theo PGS.TS. Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực với các cương vị, chức vụ công tác khác nhau, dù ở bất cứ nơi đâu hay trong bất cứ hoàn cảnh nào, GS.VS. Trần Đại Nghĩa cũng luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.
Bằng năng lực, trí tuệ và tấm lòng trọn đời vì nghĩa lớn, GS.VS. Trần Đại Nghĩa đã có công lớn trong giai đoạn đầu xây dựng Viện Khoa học Việt Nam, định hướng, hình thành và phát triển các ngành khoa học của Viện, từ đội ngũ cán bộ đến cơ sở vật chất, từng bước khẳng định vai trò và vị trí của Viện trong và ngoài nước.
Cuộc đời và sự nghiệp của GS.VS. Trần Đại Nghĩa là một tấm gương sáng, để lại nhiều bài học sâu sắc cho những người làm khoa học về tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân, với đất nước và nghị lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn để vươn lên đạt đỉnh cao trong khoa học và công tác. Phẩm chất nổi bật của ông là tinh thần tự học và rèn luyện không mệt mỏi. Tài năng, nhân cách và cuộc đời hoạt động của ông đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong tâm khảm của các thế hệ cán bộ, các nhà khoa học nước nhà nói chung và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng.