Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Tháng 12-1986: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

 (TG) - Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu n­ước, miền Nam đ­ược hoàn toàn giải phóng, đất nư­ớc thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong niềm vui chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả n­ước bắt tay vào hàn gắn vết th­ương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, từng bư­ớc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Từ thời chiến chuyển sang thời bình, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư­ duy, thay đổi nội dung và phương thức lãnh đạo cho phù hợp với tình hình mới. Nghị quyết Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, từng bư­ớc xây dựng nư­ớc ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, đất nước vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, việc đổi mới t­ư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới chư­a đư­ợc đặt ra một cách đúng mức. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mặt, tạo ra những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mặt khác, cũng tạo ra tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhận thức của Đảng. Trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, tình trạng Đảng bao biện làm thay khá nghiêm trọng, dẫn đến hệ thống chính trị bị xơ cứng, kém hiệu quả. Hoạt động của Nhà n­ước và các đoàn thể quần chúng nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Tính độc lập, chủ động của Nhà n­ước bị vi phạm, hiệu lực quản lý của bộ máy nhà n­ước bị hạn chế. Kinh tế - xã hội thiếu năng động. Quyền làm chủ của Nhân dân không được coi trọng, phát huy một cách thực chất.

Chiến tranh kết thúc, sự viện trợ của các nước anh em giảm dần và chuyển sang hợp tác, trao đổi theo giá thị trường quốc tế. Các thế lực phản động quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt cách mạng n­ước ta. Chiến tranh bùng nổ ở hai đầu biên giới. Mỹ tiến hành cuộc bao vây, cấm vận n­ước ta ngày càng khắc nghiệt. Sau sự kiện Campuchia, nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong quan hệ đối ngoại, vị thế đất nước bị giảm sút trên tr­ường quốc tế...

Do những sai lầm trong đư­ờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và quản lý kinh tế, tình hình kinh tế - xã hội đất nư­ớc ngày càng khó khăn: tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát phi mã[1], hiệu quả đầu tư­ hạn chế, đời sống Nhân dân không đ­ược cải thiện, thậm chí nhiều mặt còn sa sút hơn... Đất nước dần lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.

Tr­ước tình hình đó, Đảng ta đã có nhiều chủ trư­ơng, biện pháp từng bư­ớc tháo gỡ khó khăn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ư­ơng khóa IV về ph­ương hư­ớng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa ph­ương, tháo gỡ các rào cản, làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 31-1-1981 của Ban Bí th­ư khóa V về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và ng­ười lao động trong hợp tác xã nông nghiệp... đã tạo ra những bước đột phá nhất định, song vẫn không làm thay đổi được đáng kể tình hình kinh tế - xã hội đất nước. Cuộc cải cách giá - l­ương - tiền năm 1985 không những không cải thiện đ­ược tình hình, mà còn làm cho đời sống của Nhân dân khó khăn hơn. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã được triệu tập. Sau những ngày họp nội bộ (từ ngày 5 đến ngày 14-12-1986), từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, Đại hội họp công khai. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng, trong số đó có 925 đại biểu thuộc đảng bộ của 40 tỉnh, thành phố, đặc khu, 172 đại biểu thuộc các đảng bộ trực thuộc Trung ương, 153 đại biểu nữ, 115 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 50 đại biểu là anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 72 đại biểu là công nhân trực tiếp sản xuất... Đến dự Đại hội có 35 đoàn đại biểu quốc tế[2].

Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc Diễn văn khai mạc, đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt đọc Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986 - 1990.

Đại hội khẳng định: “Quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học”[3].

Đại hội đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội.

Đại hội đã hoàn toàn nhất trí với những kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về đánh giá tình hình, tổng kết kinh nghiệm, xác định mục tiêu và phương hướng, chính sách nhằm đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên.

Đại hội nhận định: “Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta. Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn, phức tạp. Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội lần thứ V của Đảng đề ra, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế”[4]. Bên cạnh việc khẳng định những thành tích đã đạt được, Đại hội cũng đã nhận rõ: “Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.

Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân2.

Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội cũng nghiêm khắc nêu rõ, nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủng hoảng là do những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Đại hội nhận định trong những năm 1976 - 1980, trên thực tế, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong những năm 1981 - 1985, Đảng chưa cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế - xã hội, trong đấu tranh tư tưởng, văn hóa, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù. “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện[5].

Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế - xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh, vừa hữu khuynh. “Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng”[6].

Trên cơ sở thực tiễn cách mạng của 10 năm vừa qua, Đại hội nêu lên bốn bài học kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng:

- Phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

- Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

- Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

- Phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa[7].

Về nhiệm vụ chiến lược cách mạng, Đại hội khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”[8].

Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo2.

Trong khi đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội lên hàng đầu, Đại hội vẫn khẳng định phải “đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc”3.

Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chỉ đạo thực hiện thành công những nhiệm vụ đề ra trong Báo cáo chính trị, mà quan trọng là: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (2) Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất (3) Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (4) Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông (5) Xây dựng và tổ chức thực hiện một cách thiết thực và có hiệu quả các chính sách xã hội (6) Tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước (7) Tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại (8) Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa (9) Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một đảng cầm quyền có trọng trách lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược (10) Nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành của bộ máy đảng và nhà nước.

 

Ban Chấp hành Trung ương phải chỉ đạo tiến hành trong toàn Đảng và toàn xã hội “cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội[9].

Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới và bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI, gồm có 124 ủy viên chính thức, 49 ủy viên dự khuyết. Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm có 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ta. Thành công của Đại hội đã mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới.

TG

Kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Nhà máy và 20 năm thành lập Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông

 (TG) - Sáng ngày 27/4, tại Hà Nội, Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông tổ chức Lễ báo công với Bác Hồ nhân kỷ niệm 60 năm Người về thăm công ty và kỷ niệm 20 năm thành lập công ty cổ phần.

Báo cáo tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Đoàn Thăng, Tổng giám đốc Công ty nhấn mạnh, Lễ báo công với Bác Hồ đã trở thành ngày hội truyền thống của Rạng Đông.

Được thành lập từ năm 1961, đến năm 2004, Rạng Đông đã được cổ phần hoá và đến năm 2015 đã không còn vốn cổ phần của Nhà nước.

Hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Rạng Đông đã chuyển từ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo cách truyền thống sang doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học công nghệ và đang hướng đến mục tiêu doanh nghiệp thực số, thực hiện chuyển đổi xanh, đóng góp vào nền kinh tế xanh của đất nước.

Từ việc chú trọng yếu tố này, đội ngũ lãnh đạo Công ty đã có chiến lược huy động tinh hoa đại chúng, liên kết tri thức bên ngoài từ hạt nhân là 4 Trung tâm gồm: Trung tâm Tư vấn chuyển đổi số, Trung tâm R&D chiếu sáng, Trung tâm R&D công nghệ số, Trung tâm R&D các mô hình kinh doanh hiện đại. Từ các trung tâm này, Rạng Đông nhận được chuyển giao tri thức từ Liên minh Chiếu sáng rắn quốc tế, từ các đối tác chiến lược là các tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất LED, các tập đoàn công nghệ hàng đầu Việt Nam, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia chuyên ngành…


Đặc biệt sau 20 năm cổ phần hóa (2003-2023), Rạng Đông đạt doanh thu tăng 24 lần, nộp ngân sách nhà nước tăng 16,8 lần, lợi nhuận thực hiện tăng 34,7 lần. Trong 4 năm 2020-2023, dù chịu nhiều ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, song nhờ chuyển đổi số nên tốc độ tăng trưởng doanh thu của Rạng Đông vẫn giữ mức cao từ 15-20%.

Theo báo cáo tài chính của Rạng Đông, trong quý 1/2024, doanh thu đạt hơn 2.831 tỷ đồng, tăng trưởng 32,6% so quý 1/2023. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 194,6 tỷ đồng, tăng gần 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Hiện giá cổ phiếu RAL của Rạng Đông liên tục tăng và giữ ở mức cao lên tới hơn 131.000 đồng/cổ phiếu.

Năm 2024, Công ty đưa ra mục tiêu doanh thu lên tới 11.000 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2023. Tầm nhìn đến năm 2025 sẽ là trở thành doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp số. Đến năm 2030 đưa thương hiệu Rạng Đông lên tầm khu vực, doanh thu tầm tỷ đô. Vì thế, lãnh đạo Công ty cho biết sẽ chuyển đổi theo hướng phát triển công nghệ cao, tiên phong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...

Trong khuôn khổ chuỗi sự kiện kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Nhà máy và 20 năm thành lập Công ty cổ phần, chiều ngày 26/4/2024, tại Trung tâm hội nghị Quốc gia, Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông tổ chức Ngày công nghệ lần thứ 9 (Techday9) - Triển lãm các thành tựu sau 4 năm chuyển đổi số (2020-2024) và Workshop “Từ nhà máy thông minh đến ngôi nhà thông minh”.

Tại sự kiện, các chuyên gia của Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông đã giới thiệu những thành tựu về ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực Smart home; giải pháp toàn diện cho Smart Building (BMS) - giải pháp tích hợp BMS và nhà thông minh (RalliSmart). Cùng với đó là ứng dụng thực tế của giải pháp Smart home, Smart city của Rạng Đông; chuyển đổi kép nhà máy thông minh Rạng Đông.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế tại sự kiện, nhờ chuyển đổi số mạnh mẽ, hướng đến việc đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước ưu tiên sử dụng sản phẩm xanh, thân thiện môi trường, hạn chế phát thải carbon, Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông đạt được thành tựu tăng trưởng trong những năm gần đây, vượt qua khó khăn của dịch COVID-19.

Nhờ kiên trì con đường phát triển bằng khoa học - công nghệ, đổi mới - sáng tạo, phát huy hiệu quả mô hình sáng tạo mở, chiến lược chuyển đổi số, hoạt động sản xuất kinh doanh của Rạng Đông giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn 2030 đã đạt kết quả tốt đẹp bước đầu.Triển lãm các thành tựu sau 4 năm chuyển đổi số (2020-2024) của Công ty Rạng Đông.

Rạng Đông được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tặng bằng khen “Đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện chuyển đổi số giai đoạn 2020 - 2023”. Được xếp hạng Top 10 doanh nghiệp tiên phong triển khai công nghệ số./.

Tin, ảnh: DUY PHONG

Viettel trình diễn năng lực công nghiệp quốc phòng tại Malaysia

 (TG) - Viettel High Tech, đại diện của Tập đoàn Viettel sẽ tham dự Sự kiện DSA và NATSEC 2024 thuộc Top 5 Triển lãm Quốc phòng và an ninh lớn nhất thế giới. Sự kiện năm 2024 được coi là sự kiện lớn nhất trong 18 năm tổ chức với sự tham gia của hơn 1.200 doanh nghiệp từ 60 quốc gia, gần 400 đoàn từ 45 quốc gia, dự kiến thu hút hơn 50.000 khách tham quan.

Thông tin từ Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel (Viettel High Tech) sáng ngày 3/5 cho biết: Năm 2024, tiếp tục hiện thực hóa tầm nhìn trở thành doanh nghiệp quốc phòng toàn cầu, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) với đại diện là Viettel High Tech sẽ tham dự Hội nghị Quốc phòng châu Á (DSA 2024) và Hội nghị An ninh Quốc gia châu Á 2024 (NATSEC) tại Malaysia từ ngày 6 - 9/5/2024. Đây là 1 trong các thị trường công nghiệp quốc phòng tiềm năng mà Viettel hướng tới.

DSA và NATSEC 2024 thuộc Top 5 Triển lãm Quốc phòng và An ninh lớn nhất thế giới. Sự kiện năm 2024 được coi là sự kiện lớn nhất trong 18 năm tổ chức với sự tham gia của hơn 1.200 doanh nghiệp từ 60 quốc gia, gần 400 đoàn từ 45 quốc gia, dự kiến thu hút hơn 50.000 khách tham quan. Viettel tham dự triển lãm với vai trò là gian hàng quốc gia Việt Nam, hiện diện cùng 33 gian hàng quốc gia trên toàn thế giới trong không gian triển lãm 45.000m2. Nhiều công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực quốc phòng như BAE Systems, Raytheon, SAAB, Thales… thường xuyên tham gia sự kiện, cùng với các công ty hàng đầu của Malaysia là Boustead, DEFTECH, Sapura.

Trong lần xuất hiện này tại DSA & NATSEC, Viettel High Tech không chỉ giới thiệu hệ thống sản phẩm quân sự tiên tiến mà còn trưng bày các module thành phần, phản ánh năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và thiết kế từng cấu phần sản phẩm. Đặc biệt, sau thành công của các hợp đồng triển khai hệ thống 5G tại Ấn Độ, trong đó có hợp đồng được ký kết tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022, Viettel High Tech có được những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực quân sự và sản phẩm lưỡng dụng. Ngay khi công bố tham gia DSA & NATSEC, Viettel High Tech đã nhận được đề nghị hợp hợp tác từ các đối tác lớn ở khu vực Trung Đông và châu Á, mở ra các cơ hội kinh doanh mới, đặc biệt trong lĩnh vực 5G.

Từ chủ đề của DSA & NATSEC 2024 "Xây dựng tương lai vững chắc cho các quốc gia phát triển", Viettel mang đến dải dải sản phẩm quân sự đa dạng và nguồn lực chất lượng cao, cung cấp các giải pháp R&D hoàn chỉnh tới khách hàng quốc tế. Không những thế, gia nhập chuỗi cung ứng quốc phòng thế giới, Viettel High Tech sẵn sàng hợp tác với các đối tác toàn cầu, trở thành nhà đồng phát triển sản phẩm, tuỳ biến sản phẩm theo nhu cầu cụ thể của khách hàng. Khả năng tùy biến là lợi thế của Viettel High Tech so với các doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp quốc phòng lớn trên thế giới.

Sau khi tham dự 2 triển lãm quân sự vào năm 2023 là Triển lãm Công nghiệp Quốc phòng Quốc tế (MSPO) tại Ba Lan và Triển lãm Quốc phòng-An ninh (D&S) tại Thái Lan với 06 hợp đồng hợp tác quốc tế được ký kết, sự xuất hiện của Viettel High Tech tại Malaysia lần này hứa hẹn những cơ hội hợp tác tiềm năng trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Sự bắt tay giữa Viettel High Tech với các doanh nghiệp quốc phòng trên thế giới sẽ tiếp tục ghi dấu ấn thương hiệu công nghiệp quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế. Trước khi triển lãm DSA và NATSEC 2024 chính thức bắt đầu, Viettel High Tech đã nhận lời mời làm việc đến từ gần 40 đối tác khắp năm châu như Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Pháp, Singapore, Indonesia…

Gian hàng Viettel hiện diện tại vị trí 8360, Hall 8, Tầng 2, Trung tâm Thương mại và Triển lãm Quốc tế Malaysia (Malaysia International Trade and Exhibition Centre - MITEC) ở Kuala Lumpur, Malaysia./.

Duy Hưng

Hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam hiện nay là thành quả của tiến trình đổi mới, đồng thời phản ánh quỹ đạo “tiến hóa tất yếu” của mô hình kinh tế thị trường đương đại. Thông qua tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những luận giải, bổ sung nhiều quan điểm mới, góp phần hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM  

Năm 1986, trước bối cảnh nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, trì trệ trầm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Công cuộc đổi mới không đơn thuần là tìm ra giải pháp trước mắt cho nền kinh tế, mà thực chất là tìm ra mô hình phát triển mới và con đường phù hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9/1979) được xem là dấu mốc khởi đầu quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước với những chủ trương mới là “phát súng hiệu” về phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần…, thể hiện qua những việc “bỏ ngăn sông, cấm chợ”, cho “sản xuất bung ra”, thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế(1).

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chủ trương đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, bao cấp, tạo lập cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong cơ cấu nền kinh tế, ngoài thành phần kinh tế XHCN, với khu vực quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, Đảng thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế khác, gồm: tiểu sản xuất hàng hóa, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp.

Trên cơ sở những thành công bước đầu trong phát triển nền kinh tế đa thành phần, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiếp tục lộ trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với cơ cấu gồm năm thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể tiểu chủ, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước). Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) bắt đầu định hình các thành tố cơ bản về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái"(2).

Mặc dù từ Đại hội VI của Đảng đến Đại hội VIII của Đảng, Đảng đã có những bước phát triển nhất định về lý luận kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tuy nhiên, thị trường chỉ được coi là một cơ chế để điều tiết nền kinh tế, chưa xác lập là một chỉnh thể, bao gồm cả cấu trúc nội tại lẫn thiết chế vận hành. Về thực chất, chưa coi kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chuyển từ nhận thức thị trường như một công cụ, cơ chế quản lý kinh tế sang nhận thức thị trường là một chỉnh thể, cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội"(3)

Về cơ bản, đến Đại hội IX của Đảng, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã được định hình. Theo đó, mô hình này vừa phản ánh tính phổ quát của nền kinh tế thị trường hỗn hợp (thị trường và nhà nước), vừa mang tính “định hướng XHCN”, với những đặc trưng là: nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, có sự quản lý của nhà nước XHCN, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở: “Từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”(4).

Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước hết cần nắm vững định hướng XHCN. Trong đó, tính định hướng XHCN được thể hiện là nền kinh tế được xây dựng ở một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”(5). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục bổ sung và luận giải rõ hơn về nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là mô hình kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất chủ nghĩa xã hội”(6).

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục hoàn thiện về nội hàm trên cơ sở gắn kết từng cấu phần “bên trong” với mục tiêu và phương thức vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là: “Nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7). Đến Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(8).

NHỮNG THÀNH TỰU ĐÁNG TỰ HÀO

Việt Nam đang chứng kiến bức tranh kinh tế đầy khởi sắc, giai đoạn 1986-2020, mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm 2023, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.300 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 7.500 USD). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2023 đạt gần 700 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỷ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỷ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỷ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng 46/132 nước được xếp hạng(9).

Không những tăng tốc về lượng, trên cơ sở ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, chiều sâu nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này cũng được cải thiện ấn tượng. Xét trên bình diện tổng thể theo cấu trúc ba yếu tố đầu vào nền kinh tế: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP(10) cho thấy, đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn. Cụ thể: Tính chung cả giai đoạn 2016 - 2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt 45,57%, cao hơn mức 32,88% của giai đoạn 2011-2015. Năm 2021, đóng góp của TFP vào tăng trưởng tiếp tục được duy trì và đạt 37,13%(11).

Thành tích ấn tượng nhất trong tiến trình đổi mới của Việt Nam được ghi nhận là công cuộc xóa đói giảm nghèo. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, hầu hết các xã nông thôn mới đều có đường ô-tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và mạng điện thoại. Quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tỷ lệ đô thị hóa đã đạt khoảng 43%; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả nông thôn và đô thị, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, bưu chính viễn thông đều có bước phát triển mạnh mẽ; đã đưa vào sử dụng nhiều sân bay, bến cảng hiện đại, hơn 1.900km đường cao tốc và phủ sóng rộng rãi mạng 4G, 5G(12).

Việt Nam đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Bên cạnh đó, Việt Nam đã mở rộng diện bảo hiểm y tế cho toàn dân, đạt mức 93,35%, trong đó, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiệm y tế miễn phí; đồng thời, tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn... Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm các nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng(13).

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”(14). Để đạt được mục tiêu đó, cần phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(15). Trong đó, Tổng Bí thư tập trung luận giải, nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:

Về quan hệ sở hữu. Tương ứng với quá trình vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nước ta từng bước được xây dựng phù hợp, tiến bộ, với nhiều hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Về tổ chức, quản lý. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Về quan hệ phân phối. Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN có mối quan hệ chặt chẽ, không mâu thuẫn với nhau. Phát triển kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu XHCN và định hướng XHCN có vai trò định hướng cho nền kinh tế thị trường. Đây là điểm đặc sắc trong mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”(16); đây là “yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(17). Đồng thời, mô hình kinh tế này cũng hướng đến giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội, cụ thể:

Một là, Nhà nước đóng vai trò bảo đảm thị trường và xã hội thực hiện đúng chức năng của nó. Nhà nước không “làm thay” mà sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình để định hướng và điều tiết nền kinh tế không làm méo mó thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Hai là, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Kinh tế thị trường không phải vốn dĩ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là kết quả của tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Alvin Toffler - nhà tương lai học người Mỹ - khẳng định: Thị trường là một mạng lưới trao đổi được ví như một tổng đài, mà ở đó, hàng hóa, dịch vụ (cũng như tin tức) sẽ tìm tới nơi có nhu cầu. Do đó, nó không chỉ thuộc về tư bản, mà thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa, cũng như bất kỳ đâu có hệ thống công nghiệp quy mô lớn gắn với động cơ lợi nhuận(18).

Ba là, xã hội là điểm nổi bật trong mục tiêu phát triển của Việt Nam, do đó Đảng Cộng sản chủ trương kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Các vấn đề xã hội không phải đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt các vấn đề xã hội cũng chính là tạo điều kiện, động lực cho tăng trưởng.

Bên cạnh đó, trong cuốn sách, Tổng Bí thư còn có những bài viết quan trọng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như: xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thanh niên, lực lượng công an, quân đội lớn mạnh…, đồng thời nhấn mạnh cần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; khơi dậy khát vọng hùng cường, thịnh vượng Việt Nam… để có thể xây dựng, phát triển thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./.

TS. NGUYỄN VĂN ĐIỂN - HÀ THỊ VIỆT THÚY
Học viện Chính trị khu vực II

Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương: Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên

 (TG)- Trong 15 năm qua, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương và các cấp ủy đảng trực thuộc đã triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới”. Cán bộ, đảng viên nhất là bí thư cấp ủy, cấp ủy viên các cấp trong Đảng bộ Khối đã nhận thức được ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên.

NHẬN THỨC RÕ VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN

 Ngay sau khi Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 17-CT/TW, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tổ chức quán triệt, triển khai các nội dung Chỉ thị số 17-CT/TW tới thường trực, trưởng ban tuyên giáo, cán bộ làm công tác tuyên giáo các đảng ủy trực thuộc và đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng ủy Khối tại Hội nghị tổng kết công tác Đảng năm 2007; phân công các đồng chí trưởng các ban, đơn vị Đảng ủy Khối trực tiếp theo dõi, chỉ đạo việc tổ chức quán triệt, triển khai nội dung Chỉ thị trong toàn Đảng bộ.

Trong 15 năm qua, chất lượng công tác tuyên truyền miệng trong toàn Đảng bộ Khối được nâng lên rõ rệt. Cụ thể, nội dung thông tin luôn được đổi mới, phong phú, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tế. Trong từng nội dung tuyên truyền đều kết hợp chặt chẽ những nội dung tuyên truyền tình hình chung của đất nước gắn với tình hình đặc thù của Đảng bộ Khối, đảm bảo thông tin vừa có nội dung chuyên sâu vừa có tính toàn diện, đáp ứng nhu cầu thông tin kịp thời từ Đảng ủy Khối đến các đảng bộ trực thuộc.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ báo cáo viên, những năm qua, Đảng ủy Khối và cấp ủy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng đội ngũ báo cáo viên, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay; việc đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các sự kiện quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước tới cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động ngày càng được quan tâm. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, tạo sự đồng thuận trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan Trung ương, xây dựng Đảng bộ Khối trong sạch, vững mạnh.

Đội ngũ báo cáo viên các cấp trong Đảng bộ Khối đi vào hoạt động có nền nếp, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền, tổ chức triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng nghiêm túc, kịp thời tới các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn Đảng bộ. Tuyệt đại đa số báo cáo viên trong Đảng ủy Khối có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, ý thức tổ chức kỷ luật cao, nhất là kỷ luật phát ngôn; nhiệt tình tâm huyết với nhiệm vụ được phân công; gương mẫu về đạo đức, lối sống; có bề dày kinh nghiệm, đã trải qua nhiều chức danh lãnh đạo, công tác ở nhiều lĩnh vực và đóng vai trò hạt nhân trong việc quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng.

Công tác kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, chế độ chính sách cho báo cáo viên được bảo đảm. Việc cung cấp thông tin phục vụ công tác tuyên truyền miệng trong Đảng bộ Khối luôn được quan tâm, nội dung thông tin luôn được cập nhật thường xuyên, kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tế.

 Hiện nay, đội ngũ báo cáo viên cấp Đảng bộ Khối có 30 đồng chí, trong đó 10 báo cáo viên ở cơ quan Đảng ủy Khối, 20 báo cáo viên ở các đảng ủy trực thuộc (8 đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối, 14 đồng chí là phó bí thư các đảng ủy trực thuộc, 8 đồng chí là trưởng ban, phó ban, lãnh đạo cấp phòng) đủ số lượng theo quy định, cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính đại diện giữa các đảng bộ trực thuộc, các ban, đơn vị Đảng ủy Khối.

Có 32/34 đảng bộ cấp trên cơ sở trực thuộc Đảng bộ Khối thành lập, chỉ định đội ngũ báo cáo viên, số lượng báo cáo viên cấp đảng ủy trực thuộc hiện có 148 đồng chí. Số lượng báo cáo viên cấp cơ sở trong toàn Đảng bộ Khối là 325 đồng chí.

Đội ngũ báo cáo viên của các đảng ủy trực thuộc được thành lập đảm bảo tính đại diện các lĩnh vực, là các đồng chí lãnh đạo cấp bộ, cấp vụ có trình độ và nhiệt huyết, trách nhiệm với công tác tuyên truyền miệng.

 

Các cấp ủy trực thuộc thường xuyên quan tâm xây dựng, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các cấp đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý, đưa hoạt động của đội ngũ báo cáo viên các cấp ngày càng hiệu quả hơn, đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong hoạt động, đội ngũ báo cáo viên các cấp trong Đảng bộ Khối luôn chấp hành và thực hiện tốt quy chế hoạt động và giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, cung cấp thông tin trong nội bộ Đảng; chủ động nghiên cứu tài liệu, cập nhật thông tin, chuẩn bị chu đáo các nội dung được phân công truyền đạt tại hội nghị; nhiều báo cáo viên có phương pháp truyền đạt dễ hiểu, hấp dẫn, nội dung thông tin mang tính thời sự, có liên hệ sát với tình hình thực tiễn ở cơ quan, đơn vị, tạo được uy tín và hấp dẫn người nghe.

Có thể nói, đội ngũ báo cáo viên trong Đảng bộ Khối luôn cố gắng, nỗ lực, xứng đáng trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phát huy tốt vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với cán bộ, đảng viên. Đồng thời, góp phần đấu tranh phòng ngừa, phản bác âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

ĐỂ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIEN NGÀY CÀNG NỀN NẾP, ĐI VÀO CHIỀU SÂU

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động của đội ngũ báo cáo viên trong Đảng bộ Khối còn bộc lộ một số tồn tại như:

Đội ngũ báo cáo viên trong Đảng bộ Khối hầu hết là kiêm nhiệm nên chưa đầu tư thời gian thỏa đáng cho nghiên cứu, nắm bắt, cập nhật thông tin, thời sự, kiến thức mới, sự phát triển tiến bộ của khoa học và công nghệ; chưa quan tâm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ hoạt động tuyên truyền miệng. Chưa có sự phối hợp liên thông, thống nhất giữa đội ngũ báo cáo viên cấp Đảng ủy Khối với đội ngũ báo cáo viên cấp Trung ương và báo cáo viên cấp cơ sở trong hoạt động tuyên truyền miệng.

Đội ngũ báo cáo viên thường xuyên biến động, phương thức hoạt động còn mang tính một chiều, chưa phát huy tốt hình thức đối thoại, trao đổi, giải thích các tình huống với người nghe nhất là những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, vì thế hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, trong thời gian qua chưa cao, chưa tương xứng với vai trò, vị trí của mình.

Một số báo cáo viên phương pháp tuyên truyền còn sơ cứng và nội dung còn thiếu thuyết phục, chưa gắn kết chặt chẽ việc phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và đấu tranh kịp thời, quyết liệt với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Một số ít báo cáo viên còn hạn chế về năng lực công tác, thiếu nhiệt tình, trách nhiệm, chưa vững vàng về bản lĩnh và kỹ năng nghiệp vụ; chưa tích cực học tập, bồi dưỡng, cập nhật thông tin, do đó chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Một trong những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên là một số cấp ủy ở các cơ quan Trung ương chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền miệng và ý nghĩa, hiệu quả của đội ngũ báo cáo viên; còn coi nhẹ và thiếu sự kiểm tra, chăm lo, bồi dưỡng, định hướng nội dung và bố trí sắp xếp thời gian cho đội ngũ báo cáo viên hoạt động. Chưa có chính sách khen thưởng, tôn vinh theo định kỳ đối với các đồng chí báo cáo viên có thành tích xuất sắc và cống hiến lớn. Một số báo cáo viên thay đổi trong nhiệm kỳ nhưng không được rà soát, bổ sung, kiện toàn kịp thời.

Do đó, để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đồng thời tiếp tục phát huy những ưu điểm, thành tích đạt được để hoạt động của đội ngũ báo cáo viên ngày càng nền nếp, đi vào chiều sâu, Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương xác định cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc các văn bản hướng dẫn của Trung ương và các văn bản của Đảng ủy Khối nhằm thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ báo cáo viên và ý nghĩa của công tác tuyên truyền miệng trong tình hình hiện nay. Làm cho các cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên thống nhất quan điểm cả hệ thống chính trị làm công tác tư tưởng, mỗi cán bộ, đảng viên là một tuyên truyền viên, trong đó lực lượng báo cáo viên là nòng cốt.

Thứ hai, thường xuyên rà soát, bổ sung, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên; định kỳ hằng năm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; đổi mới hình thức, nội dung, phương pháp hoạt động của đội ngũ báo cáo viên; tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy chế hoạt động báo cáo viên; thường xuyên tổ chức, duy trì và nâng cao chất lượng hội nghị báo cáo viên; tăng cường trao đổi kinh nghiệm công tác tuyên truyền miệng giữa các đảng ủy trực thuộc và đội ngũ báo cáo viên.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động tuyên truyền miệng, đáp ứng nhanh nhu cầu thông tin, nâng cao tính định hướng và sức thuyết phục của hoạt động tuyên truyền miệng, nhất là đối với những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm của phần lớn dư luận xã hội. Gắn công tác tuyên truyền với trao đổi, đối thoại, vừa truyền tải trực tiếp những thông tin cần thiết, vừa nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy tối đa ưu thế của mạng xã hội để hỗ trợ truyền tải thông tin phục vụ công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên.

Thứ tư, gắn kết chặt chẽ công tác tuyên truyền miệng với hoạt động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đây là môi trường, phương tiện hiện nay các thế lực thù địch đang khai thác triệt để nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Vì vậy, cần tăng cường cung cấp, trao đổi thông tin thường xuyên giữa lực lượng làm công tác tuyên truyền miệng và lực lượng đấu tranh trên không gian mạng; bố trí để báo cáo viên thực hiện nhiệm vụ của thành viên lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch nhằm tuyên truyền, định hướng tư tưởng và đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường sự phối hợp với ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo các cơ quan Trung ương nhằm cung cấp thông tin chính thống nhanh chóng, kịp thời cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ, đảng viên và Nhân dân khi xuất hiện thông tin “xấu”, “độc” trong dư luận xã hội, trên mạng xã hội.

Ban tuyên giáo cấp ủy cần chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên của lực lượng báo cáo viên; thực hiện nghiêm quy chế hoạt động của đội ngũ báo cáo viên; thường xuyên kiểm tra để kịp thời uốn nắn, định hướng công tác tuyên truyền. Hằng năm, tổ chức đánh giá, tổng kết công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên; đề ra nhiệm vụ, giải pháp cụ thể...

Thứ năm, đối với đội ngũ báo cáo viên các cấp cần không ngừng nỗ lực vượt khó, trau dồi kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, tiếp cận với các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng các phương pháp tuyên truyền miệng phù hợp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động. Đầu tư thời gian, trí tuệ nghiên cứu sâu nội dung các nghị quyết, chương trình hành động, các kế hoạch, đề án,… thực hiện nghị quyết đại hội Đảng để truyền đạt hiệu quả, sinh động, liên hệ các vấn đề một cách linh hoạt, phù hợp với đối tượng./.

Vũ Văn Chỉnh
Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

VIỆT TÂN – KẺ “BÁN NƯỚC, CẦU VINH” ĐÚNG NGHĨA

 


Vừa qua, trên trang Facebook của Việt Tân tiếp tục đăng tải các bài viết nhiều kỳ, không có hồi kết với nội dung chính: xuyên tạc mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, khi chúng cho rằng chính trị nước ta đang chịu chi phối, là “tay sai cho chính quyền Trung Quốc”. Đây là những  nhận xét, suy diễn hết sức phản động, không có căn cứ.

Dân tộc Việt Nam luôn yêu chuộng hoà bình, có ý chí tự lực, tự cường, tinh thần quật khởi trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Lịch sử nước ta cho thấy, mặc dù thường xuyên bị các thế lực bên ngoài nhòm ngó, xâm lấn, đô hộ, đồng hoá, song dân tộc Việt luôn tự biết đứng lên đấu tranh gìn giữ, bảo vệ đất nước, giữ vững nền văn hoá của người Việt Nam. Chính điều kiện khó khăn ấy đã hun đúc lên lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, tinh thần ấy được hình thành từ rất sớm, bắt nguồn từ tình cảm yêu mến, gắn bó tha thiết với quê hương, xứ sở, từ lòng tự hào, tự tôn dân tộc và dần phát triển thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành động lực tinh thần to lớn trong mỗi giai đoạn dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu hòa bình, ý chí tự lực, tự cường của Đại Việt được thể hiện ở lòng khoan dung với kẻ thù, mối bang giao với các quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước đã từng xâm lược Việt Nam, không những được lịch sử nhân loại ghi nhận mà còn được cha ông ta thể hiện trong các áng văn thơ như  bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi, … Đến thời đại Hồ Chí Minh cùng với Đảng cộng sản Việt Nam, ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua việc lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên đánh đuổi kẻ thù, xóa bỏ ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mang lại độc lập, tự chủ cho đất nước. Truyền thống tự tôn, tự chủ, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam ngày càng được giữ vững, phát triển và luôn được bồi đắp, để cho đất nước Việt Nam có được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nhân dân được ấm no, hạnh phúc, khẳng định rằng “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. 

 Bước vào thời kì hội nhập, Đảng ta đã xác định nhân dân Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước để hợp tác, thúc đẩy nền kinh tế, giữ gìn hoà bình, an ninh trên thế giới, trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, độc lập, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đặc biệt, Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, một nền kinh tế lớn của Thế giới. Lãnh đạo Đảng, nhà nước Việt Nam và Trung Quốc  thường xuyên có những chuyến thăm lẫn nhau để thúc đẩy sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trên mọi mặt, cùng nhau phát triển kinh tế, giữ gìn hoà bình, an ninh trong khu vực. Sự hợp tác này cũng tuân thủ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Trung Quốc không thể can thiệp vào chính sách, thể chế chính trị của Việt Nam. Đây là mối quan hệ đã được lãnh đạo hai nước thống nhất chung, được thể hiện qua các văn kiện được ký kết chính thức giữa hai Đảng, hai nhà nước.

Những cá nhân, tổ chức phản động, thù địch trong các tổ chức phản động lưu vong mà Việt Tân là một trong những tổ chức tiêu biểu nhất, chúng thường xuyên xuyên tạc, vu khống trắng trợn đường lối, chính sách của Đảng, phủ nhận thành quả của toàn dân tộc Việt Nam. Mục đích đê hèn của chúng không gì khác ngoài “bán nước cầu vinh”, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Việt Nam với các quốc gia, dân tộc khác, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực nhìn chung diễn biến theo chiều hướng phức tạp; khó khăn, thách thức ngày càng gia tăng.

Hiện nay, trong khi Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền cùng toàn thể nhân dân đang toàn tâm toàn lực, đồng lòng xây dựng đất nước, loại bỏ những sâu, mọt tham ô, tham nhũng ra khỏi bộ máy chính quyền thì những cá nhân, tổ chức phản động, thù địch luôn lợi dụng, đẩy mạnh sự chống phá đất nước. Chúng thường xuyên vu khống, chia rẽ tinh thần đoàn kết dân tộc, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã dày công xây dựng. Cũng giống như cha ông chúng ta đã từng làm, chúng ta quyết không cho bọn “Phản quốc, bán nước cầu vinh” đạt được mục đích của mình và phải bị trừng phạt đích đáng.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 


Như lập trình định sẵn cứ mỗi dịp lễ Tết hay trong những sự kiện quan trọng của đất nước. Các hội nhóm cộng đồng chống cộng, phản động lưu vong, cơ hội chính trị lại gia tăng các bài viết xuyên tạc chống phá trên mạng xã hội. Các thế lực thù địch trên các trang mạng như Việt Tân, RFA, BBC Tiếng Việt…đã nhanh chóng quy chụp, lập luận, suy diễn để chống phá Đảng, Nhà nước. Thật nực cười và giờ cũng chẳng còn xa lạ với chiêu trò phủ nhận, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội

 Trước những thành tựu không thể phủ nhận trong công cuộc phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch lại “vin cớ” từ những vụ việc xử lý vi phạm về tham nhũng của các cá nhân, tổ chức để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; chúng cho rằng ở đất nước ta không có “tam quyền phân lập”, không có các Đảng phái đối lập giám sát các hoạt động của đất nước như các nước tư bản nên tình trạng tham nhũng, lãng phí là vấn đề phổ biến và không thể chống lại; tiếp tục rêu rao vấn đề đất nước cần phải đa đảng, xóa bỏ chế độ “độc quyền” của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là những luận điệu nhằm mục đích “hạ thấp” vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

Tuy đất nước Việt Nam chỉ có duy nhất một Đảng nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đã đưa ra những cơ chế để giám sát các hoạt động của đất nước. Ngoài việc giám sát của nhân dân, của các tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân thì còn có sự giám sát của các tổ chức, cơ quan chính trị xã hội khác. Trong tác phẩm “phòng chống tham nhũng” Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân”. “ Dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc tiếp thu cái đúng”.

 Thực tế đã chứng minh rằng, ở các nước tư bản với chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị trên thế giới, tình trạng tham ô, tham nhũng còn xảy ra nhiều và mức độ còn “kinh khủng” hơn rất nhiều so với nước ta. Vì vậy, việc có làm tốt công tác phòng chống tham nhũng hay không, hiệu quả chống tham nhũng của một đất nước có cao hay không đều không phụ thuộc vào việc đất nước đó có nhiều đảng hay ít đảng. Dân chủ, công bằng, văn minh phụ thuộc vào bản chất của Đảng cầm quyền và sự lãnh đạo tài tình của Đảng chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.

CẢNH GIÁC VỚI “CHIÊU TRÒ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM” CỦA VIỆT TÂN

 


Vấn đề đảm bảo việc làm cho người trong độ tuổi lao động là chủ đề nóng bỏng, luôn được cả xã hội quan tâm. Đối với Việt Nam, là quốc gia đang phát triển với lượng người trong độ tuổi lao động cao; Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, thực hiện nhiều giải pháp thiết thực từ đào tạo nghề, tạo thuận lợi cho thị trường lao động và bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người lao động.

 Tuy nhiên, trên Trang Facebook Việt Tân ngày 16 tháng 4 năm 2024 có đăng 1 video dài 8 phút 57 giây với tựa đề “Thực trạng người lao động trẻ tại Việt Nam và giải pháp. Video “phóng sự” trình bày về thực trạng số người trong độ tuổi lao động ở Việt Nam năm 2023 và đưa ra phương hướng giải quyết.

 Phải khẳng định, “phóng sự” được dựng rất bài bản, tuy nhiên nội dung đưa thông tin mang tính định hướng lệch lạc; đồng thời tiềm ẩn những mục đích mang tính phản động. Điều này được vạch trần bởi việc nhận thức đầy đủ thông tin chính xác và tìm hiểu bản chất nội dung trong video.

 Sự thật thông tin đưa ra trong video đúng không? Đúng rất ít ở một số nội dung không quan trọng nhưng sai phần lớn ở những nội dung trọng điểm nhằm “dắt mũi” người xem và hoàn toàn mang tính bịa đặt, nhằm hù doạ người xem. Chúng cố tình đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước là không quan tâm, quan liêu đối với quá trình giáo dục, đào tạo nghề cho đối tượng thanh, thiếu niên. Trong khi đó, chủ trương “tạo động lực cho thanh niên xung kích trong học tập, lao động, sáng tạo, khởi nghiệp, làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại, phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII. Chính phủ cũng đã phê duyệt các chương trình lớn về “đào tạo, đào tạo lại nâng  cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” và “chuyển đổi số và dạy học trực tiếp trong giáo dục nghề nghiệp”. Thấy được, Đảng và Nhà nước đang tiến hành đồng bộ, toàn diện và quyết liệt đối với giáo dục nghề nghiệp, nhằm nâng cao trình độ, tay nghề đối với người lao động. Điều này là hoàn toàn trái ngược với nội dung phân tích được trình bày trong “phóng sự” của Việt Tân.

 Cũng trong phóng sự này, 3 giải pháp được nên lên lại tiềm ẩn những hiểm hoạ, hệ luỵ trực tiếp tác động sai lệch đến nhận thức của giới trẻ Việt Nam và tạo cơ hội cho các hoạt động phản động của các phần tử cơ hội chính trị. Chúng đòi hỏi yêu sách dựng các “nhóm giúp đỡ phi chính phủ”, xây dựng “cơ sở đào tạo nghề” không có sự quản lý của cơ quan chức năng và thành lập các đoàn thể xã hội, không có ràng buộc của công nhân... Dù được miêu tả bằng từ ngữ mỹ miều như “tự giúp đỡ lẫn nhau”, “tự đào tạo”, “tự bảo vệ quyền lợi”... nhưng thực chất là đang cố tìm cách hợp thức hoá cho việc tạo ra hội nhóm để xúi giục, lôi kéo thanh thiếu niên phản đối, chống lại sự quản lý của Nhà nước, tạo sự chia rẽ trong xã hội từ đó thuận lợi cho các mưu đồ chính trị lớn hơn của những phần tử phản động.

 Do đó, mọi người khi xem các video tương tự như trên cần phải kiểm chứng bằng nhiều nguồn thông tin; tránh chia sẻ những thông tin sai lệch, tiếp tay cho những kẻ mưu đồ phá hoại Đất nước./.

VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

 


Tôn trọng và bảo vệ quyền con người là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững. Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người, góp phần thực hiện hiệu quả việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam luôn nỗ lực để bảo đảm quyền con người ở mức cao nhất. Ngay sau khi Việt Nam là thành viên của Liên Hợp Quốc (năm 1977), vào những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Vào những năm 1981, 1982 và 1983 Việt Nam đã gia nhập 7 công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm: Công ước quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR)... Tính đến nay (2024), Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên Hợp Quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của ILO, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, chúng ta đều cam kết thực hiện và coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước.

Với mong muốn đóng góp hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất được ASEAN đề cử.

Cùng với việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó tích cực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người; bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế.

Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người không chỉ như là một yêu cầu trọng tâm trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn là một yếu tố cốt lõi để bảo đảm sự ổn định chính trị dựa trên sự lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch luôn luôn âm mưu, dùng nhiều thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ...; đồng thời, tuyên truyền những quan điểm dân chủ và nhân quyền với mục đích để người dân theo đuổi xu hướng vô chính phủ, không tuân theo pháp luật, trật tự kỷ cương xã hội.

Do vậy, cần nhận thức rõ và sâu sắc hơn tầm quan trọng, ý nghĩa của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người trong giai đoạn tới, xem đó như là những nội dung cốt lõi trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển nói chung của đất nước.

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN - CHIÊU BÀI QUEN THUỘC CỦA VIỆT TÂN

 


Ngày 7/5 đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi bằng vàng với chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng này đã buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán ký hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở 3 nước Đông Dương. Trong những ngày tháng 5 lịch sử, tại Việt Nam đã và đang diễn ra rất nhiều các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thu hút được sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân. Với mỗi người dân Việt Nam, đó là ngày không thể nào quên. Tuy nhiên, lại có những kẻ lại nảy sinh tư tưởng chống phá nhân dịp sự kiện này diễn ra.

Trái với không khí tưng bừng, phấn khởi của đông đảo quần chúng nhân dân trong cả nước thì bên phía trời Tây kia, các thế lực thù địch với danh nghĩa là “những người Việt Nam yêu nước” cũng “dự kiến” tổ chức các sự kiện, nhưng không phải để ăn mừng cho chiến thắng oanh liệt của dân tộc Việt Nam mà là để xuyên tạc, bịa đặt, chúng cố tình cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền. Các thế lực thù địch dự định ngày mà chúng tổ chức biểu tình nhằm đúng ngày 7/5/2024, địa điểm tại Giơnevơ. Ngoài ra bọn chúng còn lên tiếng kêu gọi sự tham gia từ phía cộng đồng trên fakebook của Việt Tân ngày 2/5/2024. Đây là hành động không thể chấp nhận được của những kẻ phản động, chúng cố tình xuyên tạc, phủ nhận thực tiễn về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Do đó, hành động của chúng sẽ không thu hút được sự quan tâm của người dân mà chỉ làm cho người dân cả nước cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới hiểu rõ hơn bản chất phản động của những kẻ “vô gia cư”, “khát nước” mà thôi!

Thực tiễn đã chứng minh, ở Việt Nam, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng trên cơ sở quyền và lợi ích của người dân. Quyền con người, quyền công dân không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp, mà còn đồng thời được bổ sung, điều chỉnh trong các luật, bộ luật và các văn bản dưới luật. Điều này không chỉ phản ánh đúng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn tạo thuận lợi để mọi người dân đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như để các cơ quan nhà nước hoạt động, phục vụ tốt hơn nhu cầu của các tầng lớp nhân dân. Với nhưng nỗ lực không mệt mỏi đó, Việt Nam trúng cử và trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc lần thứ hai, nhiệm kỳ 2023-2025.

Một câu hỏi đặt ra: Nếu như Việt Nam thực sự vi phạm nhân quyền thì liệu rằng có được Liên Hợp quốc tín nhiệm như vậy không? Chắc chắn là không!

Do vậy, thêm một lần nữa cho thấy, Việt Nam không chỉ nhận thức sâu sắc quyền con người là giá trị chung của các quốc gia, dân tộc được cộng đồng quốc tế ghi nhận, tôn trọng, mà còn là một trong những minh chứng khẳng định rằng nhân quyền được tôn trọng và đảm bảo ở Việt Nam. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta.