Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

 


Muốn để “dân biết”, điều cốt yếu đầu tiên là phải cung cấp thông tin cho nhân dân; việc cung cấp thông tin phải chân thực, kịp thời và công khai. Có công khai thì mới có dân chủ, vì công khai là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hành dân chủ. Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, nên công khai là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, là một biểu hiện quan trọng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dân bàn” là xu hướng tất yếu sau khi nhân dân đã được cung cấp thông tin đầy đủ, công khai. Với tinh thần “lấy dân làm gốc”, các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp phải biết lắng nghe các ý kiến của quần chúng nhân dân, nắm bắt dư luận xã hội trong nhân dân một cách nghiêm túc, phân tích nội dung các ý kiến của nhân dân một cách khoa học để nắm bắt chính xác, kịp thời tâm trạng, tình cảm, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Muốn thực hiện tốt phương châm “dân bàn”, phải tạo các điều kiện thuận lợi (phương tiện, diễn đàn, cơ chế) để nhân dân có thể nói lên suy nghĩ thật của mình, được bày tỏ quan điểm, chính kiến về những vấn đề mà mình đang quan tâm, vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ và vì sự phát triển chung của mỗi địa phương, của đất nước. Chính quyền các cấp không được phép thờ ơ trước những sáng kiến của quần chúng nhân dân để tránh tình trạng sáng kiến của người dân trong chế độ dân chủ trở thành đặc quyền của một thiểu số người với mục tiêu vụ lợi.

Dân làm” cần được hiểu chủ yếu theo nghĩa của sự chuyển hóa từ nhận thức thành những hành động, việc làm cụ thể của nhân dân. Từ chỗ được cung cấp thông tin một cách công khai, trung thực, kịp thời, thông qua bàn bạc, trao đổi ý kiến để tìm ra tiếng nói chung, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thực hành các quyền dân chủ theo quy định của pháp luật.

Để “dân kiểm tra”, Nhà nước phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được trao những quyền hạn nhất định để quản lý, điều hành một số công việc của Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế “dân kiểm tra” đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách phù hợp để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với các mặt hoạt động của chính quyền cấp xã ở tất cả các địa phương, của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã; chất vấn những cán bộ, công chức có thẩm quyền về những vấn đề người dân quan tâm và quyền nghe trả lời những chất vấn đó, đặc biệt là những vấn đề về đất đai, xây dựng, quy hoạch và quản lý đô thị, nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng,...



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.112

Đại hội X của Đảng tiếp tục phát huy chính sách dân tộc trong thời kỳ mới

 


Các quan điểm và những nhiệm vụ cấp bách, cơ bản trên tiếp tục được khẳng định và làm rõ thêm tại Đại hội lần thứ X của Đảng. Văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc’’12. Đại hội X của Đảng đã đề ra những vấn đề cơ bản nhất về chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta. Để triển khai những vấn đề quan trọng trên đây, trong những năm qua, Chính phủ đã triển khai và ban hành hàng loạt các chương trình dự án nhằm tạo nên sự chuyển biến cơ bản, toàn diện vùng các dân tộc thiểu số. Gần đây, trên cơ sở những thành tựu của Chương trình 135 giai đoạn I, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng như hàng loạt các chính sách, biện pháp về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.

Những vấn đề cấp bách trong công tác dân tộc mà nghị quyết trung ương 7 khóa IX của Đảng đề ra

 


 Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo vệ an ninh, quốc phòng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc, đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ người dân tộc thiểu số.Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc... Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những điểm “nóng’’ về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.

Tiếp tục phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa.

Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới.

Một số quan điểm cơ bản được Đảng ta xác định cùng với việc khẳng định vị trí của vấn đề dân tộc

 


 Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

 Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

 Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

 Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

 

Đại hội IX, dấu son về chính sách dân tộc của Đảng

 

 


Trên cơ sở đạt được, Đại hội lần thứ IX của Đảng cụ thể hóa và đưa ra những chủ trương định hướng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhất quán về nguyên tắc và những luận điểm của các đại hội Đảng đã đề ra trước đó, Đảng ta tiếp tục chủ trương đối với các dân tộc thiểu số cần phải: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí..., thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc và địa phương. Chống kỳ thị chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc’’. Văn kiện cũng đề ra chủ trương: nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

 Tư tưởng công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi là một trong những định hướng rất quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng ta cùng với những nội dung khá toàn diện khác liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đào tạo cán bộ...

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã đề ra một số quan điểm cơ bản và xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2010, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cũng như các giải pháp cụ thể về công tác dân tộc trong thời kỳ mới.

Đại hội VIII, tiếp tục cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đảng

 


Cùng với tiến trình đổi mới, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta tiếp tục được Đảng ta bổ sung và cụ thể hóa. Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định: “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân... Xây dựng Luật dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nay (tức năm 1996 - T.G) đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững mạnh’’.

Chính sách dân tộc trong giai đoạn này đặc biệt chú trọng vào việc xác định mục tiêu phát triển và định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc thiểu số với những trọng tâm rất quan trọng về đời sống và dân trí. Chính vì thế, chủ trương xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai khá rộng khắp ở nước ta tại vùng các dân tộc thiểu số. Cùng với chương trình xóa đói, giảm nghèo, Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa được triển khai đã mang lại những chuyển biến to lớn ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi và không phải ngẫu nhiên sự thành công của chính sách này đã được thế giới đánh giá là tiêu điểm trong sự phát triển kinh tế - xã hội vì con người và mục tiêu thiên niên kỷ của nhân loại.

Đại hội VII phát triển chính sách dân tộc của Đảng

 


Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người’’.

Lần đầu tiên chính sách phát triển kinh tế hàng hóa vùng dân tộc thiểu số đã được đề cập trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ. Trong các văn kiện của Đại hội cũng đã đề cập về chính sách đối với người Hoa và người Khơme nhằm tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Cùng với việc xác định công tác dân tộc ở một số dân tộc cụ thể, Đảng và Nhà nước ta còn đưa ra các chính sách đối với các vùng dân tộc như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên trên cơ sở xem xét tính đặc thù của từng vùng và yêu cầu phát triển đối với khu vực và quốc gia.

Đổi mới chính sách dân tộc ở Đại hội VI của Đảng

 


Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng định: “Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc. Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn’’ và những biểu hiện của dân tộc hẹp hòi’’10.

Để triển khai những định hướng cơ bản đó, ngày 27-11-1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tiếp sau đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-2-1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là hai văn kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc và chính sách dân tộc11.

 

Phát triển kinh tế,xã hội nâng cao đời sống ở miền núi trong những năm qua

 

 


 Chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện chính sách dân tộc trong hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số. Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế... nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, để trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa.

Những vấn đề cơ bản của chính sách dân tộc

 


Trên cơ sở những nguyên tắc trên, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã đề ra những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới của cách mạng. Có thể nói, đây là thời kỳ có không ít tác động đối với các dân tộc thiểu số. Đó là tác động của cơ chế thị trường, của nền kinh tế nhiều thành phần và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đấy là chưa nói đến quá trình toàn cầu hóa và tác động từ bối cảnh chung của tình hình quốc tế phức tạp. Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề dân tộc phải có các chính sách hệ thống, toàn diện đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, phù hợp với quá trình phát triển của đất nước.

CẢM HỨNG CHO KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP

 

Có thể nói chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam, mà thực sự mang tầm vóc lịch sử quốc tế, bởi như lời Tổng Bí thư PT Alberto Anaya Guitiérrez, sau sự kiện ngày 7/5/1954, chiến thắng Điện Biên Phủ cùng khẩu hiệu “Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ” đã vang trên khắp 5 châu, trở thành nguồn cảm hứng cho phong trào giành độc lập của các dân tộc trên thế giới. Nói cách khác, “Điện Biên Phủ” là một tấm gương, một mô hình mà nhiều quốc gia noi theo trên con đường giải phóng dân tộc.

Nhà báo Argentina Gaston Fiorda gọi chiến thắng Điện Biên Phủ là hình mẫu cho công cuộc giải phóng dân tộc tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, góp phần đặt dấu chấm hết cho quá trình thuộc địa hóa - một trong những trang lịch sử đau thương nhất nhân loại đã trải qua. Đây cũng là ý kiến của Tiến sĩ Anatoly Sokolov thuộc Viện Hàn lâm khoa học LB Nga. Là thắng lợi đầu tiên của phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đánh bại một cường quốc thực dân, chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành tấm gương sáng và thiết thực cho nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới, phá tan ách thống trị của thực dân Pháp, buộc các nước thực dân phải tôn trọng quyền của các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Chuyên gia Nga khẳng định chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm thay đổi lịch sử, làm đứt gãy chế độ thực dân và là khởi nguồn của các cuộc cách mạng trên thế giới. Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia luật quốc tế, Giáo sư Joni Asi thuộc Đại học Nablus (Israel) nhận xét: "Chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo ra tác động to lớn tới cuộc đấu tranh tại các nước Nam bán cầu chống lại chủ nghĩa đế quốc và thực dân để giành độc lập và công lý".

Học giả người Anh Kyril Whittaker nhận định chiến thắng Ðiện Biên Phủ mang tính đột phá không chỉ đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do từ tay chủ nghĩa thực dân và đế quốc mà còn đối với các phong trào giải phóng ở Ðông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung. Trước hết, chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của 3 nước Đông Dương. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết. Đại tướng Chansamone Chanyalath, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lào đánh giá chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, của các nước trên Bán đảo Đông Dương nói riêng, mà còn là chiến thắng và niềm tự hào của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới nói chung. Trong khi đó, theo học giả Uch Leang, nhà nghiên cứu tại Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia (RAC), chiến thắng Điện Biên Phủ như một hình mẫu tiêu biểu của tinh thần đoàn kết giữa Việt Nam, Lào và Campuchia, dẫn tới thắng lợi chung trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ. Cả ba nước có cùng nhận thức vì vận mệnh chung, trở thành động lực mạnh mẽ, hình thành khối đoàn kết giữa quân đội và nhân dân 3 nước. Học giả Thái Lan Songrit Pongern cũng khẳng định chiến thắng Điện Biên Phủ đã khơi dậy và khích lệ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới, với mô hình cụ thể từ sự đoàn kết giữa Việt Nam, Lào và Campuchia để có thể giành được thắng lợi chung trước các siêu cường như Pháp và Mỹ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng được xem là sự khởi đầu cho nền độc lập của phần lớn các nước ở châu Phi, là điểm xuất phát của các phong trào giải phóng dân tộc châu Phi thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, Anh, Đức như Tunisia vào năm 1956, Algeria năm 1962. Chủ tịch Hội hữu nghị Algeria - Việt Nam Cherfaoui Tayeb, một cựu quân nhân, khẳng định "Việt Nam là tấm gương cách mạng đối với chúng tôi". Ông hồi tưởng: “Ở miền Bắc Algeria năm 1956, nhiều sinh viên ở độ tuổi 18-20 đã rời trường học, tạm gác giấc mơ trở thành bác sĩ hay kỹ sư để gia nhập đội quân Maquis đi chiến đấu bởi vì họ đã nhận ra rằng chế độ thực dân chỉ là tạm thời và có thể bị đánh bại". Chiến dịch Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến của Việt Nam đã tạo động lực để người Algeria có thể hy vọng, có thể làm cách mạng giành lại đất nước, lấy lại tự tôn dân tộc, kinh tế và cuộc sống của mình. Ông Mourad Lamoudi, quan chức đảng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria thì nhớ lại ba chữ "Điện Biên Phủ" thời kỳ đó “như là một khẩu hiệu hành động, có chất xúc tác”. Người ta sử dụng khẩu hiệu "Điện Biên Phủ" để nhắc nhở rằng mình có thể chiến thắng.

Nêu bật ý nghĩa quốc tế của chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà sử học Pháp Alain Ruscio cho biết, vào thời điểm đó, ở các thuộc địa của Pháp như Madagascar, Algeria, Tunisia, Maroc..., cuộc đấu tranh ở Việt Nam được theo dõi rất chặt chẽ. Theo ông, việc quân Pháp bị thất trận ở Điện Biên Phủ không chỉ được coi là chiến thắng của riêng Việt Nam mà còn là chiến thắng của toàn thể các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức.

 

Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc

 


 Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội là một đặc điểm lớn. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc. Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vô sản. Để thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan trọng. Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ. Có thể coi đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

Bình đẳng là cơ sở để đoàn kết, đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực hiện bình đẳng và đoàn kết. Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta.

Đoàn kết dân tộc là nguyên tắc cơ bản của cách mạng Việt Nam

 


Đoàn kết dân tộc là một nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc mà Đảng ta xác định. Phát triển nguyên tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của Lênin, trên nền tảng truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Hồ Chí Minh đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công’’. Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc. Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng.

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc nhất quán của cách mạng Việt Nam

 


Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc nhất quán của cách mạng Việt Nam, là một nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và các Hiến pháp ở nước ta. Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo’’9. Các Hiến pháp tiếp theo đã thể hiện rõ nguyên tắc quan trọng này. Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Bình đẳng còn thể hiện trong quyền phát triển, được đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác. Để thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải làm giảm, tiến tới từng bước xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc do các điều kiện lịch sử quy định trên thực tế mang lại ấm no hạnh phúc của nhân dân.

Quy định mới về xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu

 

Nghị định số 35/2024/NĐ-CP ngày 2/4/2024 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu "Nhà giáo nhân dân", "Nhà giáo ưu tú" có hiệu lực từ ngày 25/5/2024.

Cụ thể, đối tượng áp dụng là nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục bao gồm: Nhà giáo và cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (gọi chung là nuôi dạy), giảng dạy trong cơ sở giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục; cán bộ quản lý làm nhiệm vụ quản lý tại các cơ quan quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật (gọi chung là cán bộ quản lý tại cơ quan quản lý giáo dục); cán bộ nghiên cứu giáo dục làm nhiệm vụ nghiên cứu về khoa học giáo dục và đào tạo, giáo dục nghề nghiệp.

Cùng với đó là nhà giáo, cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý tại cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục đã nghỉ hưu theo chế độ bảo hiểm xã hội giữa hai lần xét tặng liền kề với năm xét tặng; nhà giáo, cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý tại cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục đã nghỉ hưu theo chế độ bảo hiểm xã hội tiếp tục là giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý cơ hữu tại các cơ sở giáo dục dân lập và tư thục.

 

Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc

 


Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm. Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc thě từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này đã được xác định là“Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI), “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X)8

Vấn đề dân tộc là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta

 


Sự tồn tại lâu dài của vấn đề dân tộc nhất là trong điều kiện quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa là đặc điểm lớn ở nước ta, làđặc trưng diện mạo lịch sử, văn hóa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam (Điều 5).

Khi xác định vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Điều này tiếp tục được khẳng định trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước trong những năm đổi mới, đặt nền tảng quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, giải quyết thành công vấn đề dân tộc.

Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ đại diện hiện nay

 

 


Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thực hiện quyền dân chủ thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội - tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, đại diện cho nhân dân. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Đại hội XII của Đảng khẳng định: Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phải luôn đặt trong mối liên hệ và gắn liền với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội.

Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp hiện nay

 


Dân chủ trực tiếp là hình thức mọi công dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách bình đẳng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo... Đây là hình thức để phát huy dân chủ một cách có hiệu quả nhất, bảo đảm cho nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước, có khả năng tham gia một cách tích cực và chủ động vào các hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng các phương thức: chế độ bầu, bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; chế độ gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; quyền công dân tham gia thảo luận các vấn đề chung, quan trọng của đất nước và của địa phương; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Thể chế hoá và nâng cao chất lượng dân chủ hiện nay

 


Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Thể chế hoá và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải đảm bảo phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hoá xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sang tạo của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; quy định về việc MTTQ, các tổ chức CT-XH và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác nhau.  Phát huy dân chủ đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.