Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

SỨC MẠNH VẬN TẢI CỦA QUÂN TA TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ QUA GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI PHÁP

 

Khả năng bảo đảm và tiếp tế hậu cần của bộ đội và dân công ta là một trong những điều bất ngờ đối với quân Pháp ở chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đại tướng Catơru, Trưởng phái đoàn điều tra của Chính phủ Pháp, sau khi hoàn thành nhiệm vụ điều tra về “vụ thất thủ Điện Biên Phủ” đã viết trong cuốn sách Hai màn của tấn bi kịch Đông Dương. Hà Nội - Điện Biên Phủ (Deux actes du drame indochinois. Hanoi – Dien Bien Phu) (Nhà xuất bản Plon, Paris, 1959) đã viết: “...Một việc hình như hết sức lạ lùng là một tướng vào loại Nava mà cũng phạm sai lầm về nhận định, khi không lường được khả năng mà Việt Minh có thể làm được về mặt cung cấp. Nava đã chịu ảnh hưởng của những tư tưởng được các bộ tham mưu truyền bá như những chân lý cho rằng việc sử dụng lực lượng vận chuyển, cung cấp của Việt Minh chỉ có hạn...”.

"Những hạt kim cương lấp lánh trong đêm"

Nhận định về các công trình phòng ngự của Pháp ở Điện Biên Phủ, Nava cho rằng: "Các công trình phòng ngự của Pháp được tổ chức theo những nguyên tắc hiện đại nhất, đặc biệt là có sự giúp đỡ của người Mỹ, là bất khả xâm phạm. Pháo binh của Việt Nam dù sao đi nữa vẫn thua kém pháo binh ta, không thể nào leo lên đến các đỉnh núi cao viền quanh lòng chảo. Các lực lượng của tướng Giáp không thể nào tiếp tế được vũ khí đạn dược và lương thực. Vận chuyển hàng ngàn vạn tấn qua rừng rậm là một việc kì dị. Chúng ta làm chủ trên không và chúng ta bắn phá các con đường giao thông của Việt Minh, họ không thể nào tránh được”.

Nhưng trên thực tế, nhà sử học Alanh Ruytxiô trong tác phẩm của mình lại cho rằng “số súng và đại bác mà người Việt đưa đến thung lũng nhiều hơn hẳn số mà cơ quan quân báo Pháp nghĩ đến… Người Pháp cũng tỏ ra bất lực trong việc ngăn chặn tiếp tế. Với một ruột tượng gạo cuốn quanh cổ, 75.000 con người bé nhỏ, ròng rã ngày đêm đẩy những chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Pháp thồ tới 300kg đạn pháo, lựu đạn, đạn bộ binh, lương thực, thực phẩm. Mùa đông 1953, họ lội qua suối lạnh giá, leo lên các sườn núi và kéo các khẩu đại bác đặt lên trên các chóp đỉnh. Khi mùa xuân đến, những dãy dài dân công và xe đạp dắt bộ trải thành một chiếc băng dài vô tận. Tất cả có đến 8.286 tấn đồ tiếp tế được chuyển đến Điện Biên Phủ. Về phía Pháp, trọng lượng chỉ lên tới 3.405 tấn”.

Tác giả Van Ghe trong cuốn Đường mòn Hồ Chí Minh có đoạn miêu tả về cuộc chiến vận tải của quân và dân ta: “Khi mặt đất đã quá quang đãng trống trải, các cuộc vận chuyển của địch chỉ tiến hành vào ban đêm. Máy bay trinh sát Pháp, để tránh những tay súng bắn tỉa, bay ở độ cao thích hợp đã chẳng nhìn thấy gì... Thế là trước mặt hàng nghìn lính viễn chinh trong lòng chảo và hàng đoàn phi công, mỗi ngày sau các phi vụ, trở về Hà Nội đã đều ghi trong báo cáo “Trên đường vắng ngắt, rừng núi im lìm, không có vết tích của cuộc chuẩn bị tấn công...

...Nhưng có người lính dù nào đã nhảy xuống và may mắn được trở về nguyên vẹn họ sẽ được thấy một cảnh hùng vĩ: Phía xa tít, dưới tầm mắt của anh ta hệt như ngày hội giao hoan của những đàn đom đóm, hoặc như một chuỗi những hạt kim cương lấp lánh mờ ảo trong đêm đen, vắt ngang sườn núi, uốn lượn theo thế đất. Nếu tiến lại gần hơn nữa, anh ta sẽ thấy những đốm lửa nhảy nhót múa lượn, chập chờn giữa không trung, thoắt gần, thoắt xa và bất chợt biến mất tăm hệt như có phép ma. Và nếu anh ta có cách nào mà lại gần hơn nữa thì mới thấy được rằng: Những đốm sáng chập chờn ấy là những bó đuốc do những người, cả đàn ông lẫn đàn bà xen lẫn trong từng toán 10 người, đang giơ lên cao để soi đường cho một đoàn người dài vô tận đang gồng gánh thồ trên lưng họ những kiện hàng nặng bốn, năm mươi ki-lô-gam”.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân đội Pháp đã phải sử dụng cả mưa nhân tạo để chặn bước tiến của các đoàn dân công của ta ra mặt trận nhưng vẫn hoàn toàn thất bại. Trong một bức điện gửi cho Nava, Cônhi đã than thở rằng “mưa nhân tạo được tiến hành ở một số vùng nhưng vẫn không đạt được kết quả mong muốn. Xe vận tải và các đoàn dân công vẫn tiếp tục đưa các đồ tiếp tế lên mặt trận”.

Còn nhà báo Giăng Hăngri Giônô trong cuốn Từ Vécđoong đến Điện Biên Phủ đã ghi lại như sau: “Điều đáng kinh ngạc hơn cả không phải ở chỗ Việt Minh có các loại pháo đó, vì Bộ chỉ huy Pháp đã biết từ một năm trước, mà là ở chỗ làm sao Việt Minh lại đưa được một khối lượng lớn pháo hạng nặng và duy trì việc tiếp tế đạn cho chúng qua vùng núi cao, rừng rậm, chẳng có đường sá gì cả”.

Kỹ thuật vận tải chưa từng có trong binh thư phương Tây

Khi nói về một trong những lý do Pháp thua trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, không ít tướng, tá Pháp thú nhận điều mà Bộ tham mưu Pháp đã không thể nghĩ tới là ở Điện Biên Phủ, phương tiện vận tải thô sơ đã đạt tốc độ cao hơn cơ giới. Một số còn đổ lỗi cho rằng chưa hề có một cuốn binh thư nào của phương Tây đề cập tới “kỹ thuật vận tải” rất “kém hiện đại” ấy.

Nhà báo Văng Chéc đã ca ngợi rằng: “Ông Giáp đã biết sử dụng tới phương tiện mà ông ta gọi là “xe taxi của vùng Mácnơ của Pháp”, đó là những chiếc xe đạp. Những chiếc xe đạp “Peugeot” và các loại khác đã thồ các kiện hàng nặng hai, ba trăm ki-lô-gam. Ngoài việc phải thường xuyên cảnh giác đề phòng quân thù tiến công (tuy ít xảy ra), họ lại phải thường xuyên đối phó với các thú dữ của rừng núi Việt Bắc như hổ, báo… nên mỗi người tay đẩy xe lại còn phải giữ trong tay mình một bó đuốc cháy. Từng thời gian, từng đoàn xe thồ lại phải núp sát lề đường để nhường đường cho những xe ô tô tải. Đoạn đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ rất trắc trở nên xe thồ đã đi nhanh hơn là xe ô tô tải. Một đêm, xe đạp thồ có thể đi được 25km, còn ô tô chỉ đi được 15km”.

Nhà báo J. Roa trong cuốn Trận Điện Biên Phủ đã khẳng định: “Bất kể trường hợp nào thì tướng Giáp đã thắng trong cuộc chiến tranh vận tải với những dân công, mà theo dự đoán của Bộ tham mưu Pháp, họ đã tiêu thụ trên đường đi 1/4 số lượng vận chuyển”. Nhà báo J. Roa cũng đã kết luận: “... cũng chẳng phải là sự viện trợ của Trung Quốc khiến tướng Nava bị thua trận, mà chính là những chiếc xe đạp Peugeot thồ những kiện hàng nặng từ 200 đến 300kg, được điều khiển bởi những con người ăn không thật no và ngủ thì nằm ngay trên những mảnh ni lông trải trên mặt đất”.

Bản thân tướng Nava - người được giới quân sự Pháp đánh giá là “đặc biệt tài ba”, “rất thông minh và sáng suốt”, có “nhãn quan chiến lược”, “khả năng chịu đựng những đòn dữ dội và bất ngờ” và có “những đức tính riêng biệt của người chỉ huy quân sự và sự nhạy bén về chính trị” trong cuốn “Đông Dương hấp hối (Agonie d’Indochine)” (Nhà xuất bản Plon, Paris,1958) của mình cũng đã bày tỏ sự khâm phục đối với khả năng tổ chức của quân đội Việt Nam: “Khi trả lời phỏng vấn báo Pari Mát và báo Pari Prét, tướng Giáp đã phác họa rất hay về công tác vận chuyển của Việt Minh... Chúng ta phải thừa nhận sự cố gắng lớn lao đó và khâm phục khả năng của chính phủ và bộ chỉ huy đối phương đã đạt được kết quả đó...”./.



CÓ NHỮNG NGƯỜI MÀ AI CŨNG BIẾT TÊN, NHƯNG KHÔNG AI VÀ KHÔNG GIA ĐÌNH NÀO MUỐN GẶP GỠ

 

Vào thời chiến, có những người mà ai cũng biết tên, danh tính, biết rõ công việc rất quan trọng, mỗi khi đi qua là ai cũng ngoái lại nhìn với ánh mắt lặng thinh. Gia đình nào hoặc người dân nào cũng muốn người này đừng đến và đừng nhắc đến nhà mình hay những người thân của mình. Một người mà không ai muốn “gặp gỡ” mặc dù biết rằng là không thể tránh khỏi. Một con người mà nếu như đến khi đất nước toàn thắng mà “không phải gặp”, thì đó chính là hạnh phúc.

Đó chính là người mang điện, giấy báo tử của các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh về cho địa phương, gia đình.

Trong bộ phim Thương nhớ ở ai có khắc họa về những người như thế này, họ là những người đưa thư ở các làng quê. Họ vừa làm nhiệm vụ chuyển thư từ, kỉ niệm… giữa các chiến sĩ và gia đình, nhưng cũng kiêm luôn nhiệm vụ gửi giấy báo tử của các anh hùng liệt sĩ về cho chính quyền địa phương, các đội trưởng, phụ trách quân sự địa phương…

Mỗi khi những người này xuất hiện, ai cũng ngừng làm việc và ngóng chờ một điều gì đó, ai cũng mong là những người này đừng nhắc đến tên người thân của mình. Câu nói “Thay mặt Ủy ban nhân dân….” đã từng làm rất nhiều gia đình, người thân đau lòng. Làm gì có ai muốn thấy sự mất mát đâu?

Hơn 1 triệu liệt sĩ đã hy sinh trong suốt những cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ Quốc, đồng nghĩa với đó là hơn 1 triệu giấy, điện, thông tin báo tử gửi về cho những gia đình… Thậm chí, sau khi kết thúc chiến tranh, có những trường hợp mãi không thấy tin tức gì, lắm lúc chỉ “muốn” được gặp những người này để biết được tin tức, sống hay chết, hy sinh hay mất tích…

Có bác cựu chiến binh từng làm "nghề" này kể lại rằng, cứ đi đến đâu là người ta lại ngoái lại nhìn, hỏi lại xem có tên của chồng, con mình không... Nhiều khi biết đấy, nhưng không dám nói, nhiều khi là chính con cháu, bạn bè của mình hy sinh nhưng vừa đạp xe, vừa không được khóc... Nhiều khi cũng có gia đình "nhầm", mình dừng lại nghỉ ngơi, uống nước, họ lại nghĩ rằng là đưa giấy báo tử...

Chiến tranh đã lùi xa nhiều năm, những con người này đã không còn xuất hiện ở ngoài đời thực nữa. Nhưng họ đã từng là minh chứng cho những năm tháng ác liệt nhất, đau thương nhất, hào hùng nhất của Tổ Quốc./.

ĐỪNG THAO TÚNG TÂM LÝ HƯỚNG LÁI DƯ LUÂN SUY NGHĨ SIÊU HÌNH, VỤN VẶT, ĐÊ TIỆN NHƯ THẾ THƯA ANH NGÔ BẢO CHÂU!

 

Đảng nhà nước ta có nhiều chính sách ưu việt nhưng vẫn có kẻ vô ơn như anh Ngô Bảo Châu thế là cùng.

Về chính sách của Đảng, Nhà nước, tôi lấy ví dụ:

Trẻ em miễn hoàn bộ học phí mẫu giáo, bảo hiểm y tế toàn phần đến hết 6 tuổi. Người khuyết tật có đủ giấy tở thủ tục pháp lý, tùy theo mức độ khuyết tật được trợ cấp từ 600 ngàn đến trên 1 triệu đồng/ tháng.

Học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chu cấp toàn phần gạo ăn, sách vở, một khoản tiền đủ để chi phí cho sinh hoạt, miễn toàn phần học phí, vào đại học được ưu tiên xét tuyển.

Người già không phải đối tượng hưu trí thì 75 tuổi trở lên được trợ cấp khoảng 600 ngàn đến trên 1 triệu đồng/tháng, tùy mức tuổi: 75, 80,85, 90....theo quy định.

Hàng triệu gia đình có công, thương binh, liệt sĩ đều được hưởng các chính sách ưu Việt của Nhà nước.

Ngoài ra, nhiều chính sách khác cho người dân vùng sâu, vùng xa, người nghèo, người cận nghèo, người đau ốm bệnh tật hiểm nghèo, dài ngày đều có chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Khi đất nước từ chiến tranh đổ nát, Bắc - Nam chia cắt, bị Mỹ và phương Tây cấm vận, Nhà nước vẫn có nhiều chình sách thu hút người tài và hỗ trợ sinh viên đi đào tạo nước ngoài về phục vụ Tổ quốc. Ngay cả khi đất nước có chiến tranh nhưng các vị Mạc Văn Trang, Nguyễn Quang A, Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Ngọc Chu....vẫn không phải ra chiến trường cầm súng mà đi du học một mạch thẳng như cái mực cưa. Rồi thời bình, dân đói phải ăn bo bo, khoai độn sắn nhưng những sinh viên như Ngô Bảo Châu cũng được chu cấp ăn học cho đến khi thành giáo sư tiến sĩ. Khi về nước còn được cấp cả cái biệt thự to đùng, rồi cho anh làm Viện trưởng Viện toán cao cấp.Vậy mà vẫn chỉ là phường "giá áo túi cơm" chưa có cống hiến gì cho đất nước nhân dân,

Thế thì, đã khi nào Ngô Bảo Châu tự hỏi: "Mình đã thành đạt và mình đã làm được gì cho Tổ quốc này chưa???"

Lênin là lãnh tụ mạng lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, tư tưởng của Người là tư tưởng lãnh đạo của Đảng CSVN. Vì thế, nếu phải bỏ tiền ra xây tượng đài Lênin vẫn phải xây mà chính sách an sinh xã hội vẫn phải làm, mà Đảng và Nhà nước ta đã làm và đang làm mạnh hơn vì sự phồn vinh của dân tộc chứ đã bao giờ ngưng nghỉ đâu! Đó là trách nhiệm của Đảng CSVN gần 100 năm qua với dân tộc.

Anh là giáo sư, nhờ ơn của Đảng anh mới trưởng thành. Thế nên anh đừng làm cái kiểu " vừa đỗ ông nghè đã đe đất nước", đừng làm cái kiểu "có tài mà không có đức", bất hiếu, vô dụng; đừng thao túng tâm lý hướng lái dư luận suy nghĩ siêu hình, đạo đức giả tạo, dắt mũi đồng bào, làm thằng phản động tuyên truyền chống phá, hết xuyên tạc Bác Hồ giờ anh lại xuyên tạc Lênin như thế. Nếu anh làm thế mời anh sang Ucraina mà sống thưa anh Ngô Bảo Châu./.

NHẬN DIỆN MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ DƯỚI CHIÊU BÀI “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”, “NHÀ HOẠT ĐỘNG NHÂN QUYỀN”, “NGƯỜI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN”

 

Để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân luôn tuyên truyền cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền” hay “người bất đồng chính kiến” nhằm vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Mới đây, ngày 7/3/2024, cơ quan An ninh điều tra Công an Hà Nội đã thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với đối tượng Nguyễn Chí Tuyến (SN 1974, trú tại quận Long Biên, Hà Nội) và đối tượng Nguyễn Vũ Bình (SN 1968, trú tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) để điều tra về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống lại Nhà nước” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015. Trước sự việc trên, các đối tượng chống phá tiếp tục tuyên truyền xuyên tạc với chiêu bài dân chủ, nhân quyền nhằm làm nóng dư luận, đánh tráo bản chất, bôi nhọ chính quyền.

Chiêu trò mập mờ đánh lận

Việc những đối tượng trên bị tạm giam giống như “miếng mồi” béo bở cho các tổ chức, cá nhân chống phá thực hiện các hoạt động vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Trang VOA Tiếng Việt đăng bài nêu, tổ chức Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho hai blogger độc lập Nguyễn Chí Tuyến và Nguyễn Vũ Bình. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) từng công bố báo cáo tổng kết toàn cầu về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2023 với những thông tin sai lệch, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nay lại tiếp tục đưa bài viết lên án việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam hai đối tượng trên. Trang BBC Tiếng Việt với bài viết “Làn sóng đàn áp mới khi Việt Nam vẫn muốn có ghế ở Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc” với lời lẽ vu cáo, miệt thị. Trên mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân đội lốt dân chủ, nhân quyền trở lại điệp khúc lên án, chỉ trích cùng những bài viết có tính áp đặt, can thiệp công việc nội bộ của cơ quan tư pháp Việt Nam.

Với việc đưa ra những thông tin xuyên tạc, vu cáo nhằm chính trị hóa vụ án hình sự là điều dễ nhận thấy trong các chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Việc gắn những ngôn từ mà họ thường xướng lên như “tù nhân lương tâm”, “đàn áp tiếng nói bất đồng” phản ánh cách tư duy ngụy biện, không có cơ sở pháp lý. Bởi, trong nền tư pháp Việt Nam không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”… Mục đích chính của việc gắn mác trên nhằm biến các đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội thành những “ngọn cờ” đấu tranh cho cái gọi là dân chủ, nhân quyền, từ đó hậu thuẫn, kích động các đối tượng chống phá trong nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta… Đây là một âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế; cổ xúy, hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối, phá hoại công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Phải thừa nhận rằng, “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” thực sự là một cái mác dễ khơi gợi lòng trắc ẩn trong công chúng. Có lẽ đó cũng là lý do ngày càng có nhiều đối tượng sau khi vi phạm và bị xử lý theo luật pháp Việt Nam, được các đối tượng dựng lên như những “tù nhân lương tâm”, tiếp tục trở thành công cụ để các thế lực thù địch vu cáo, bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam như Cấn Thị Thêu, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Văn Túc, Lê Đình Lượng... Đây đều là những đối tượng thực hiện các hành vi tán phát thông tin, tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước, lợi dụng danh nghĩa đấu tranh dân chủ, nhân quyền để phạm tội.

Từ những thông tin trên cho thấy, để thực hiện các hành vi can thiệp vào công việc nội bộ cũng như đưa ra các thông tin xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch luôn tìm cách cổ xúy các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị trong nước, kích động số này gây rối xã hội, chống phá chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia. Từ đó tạo thêm vây cánh và nhân rộng “chân rết” phục vụ cho những hành động chống phá Việt Nam thông qua các vấn đề về tự do, tôn giáo và nhân quyền, tiến tới thực hiện “cách mạng màu” bạo loạn và lật đổ chính quyền.

Sự thật về cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”…

Tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị mang tính phổ quát toàn cầu, mỗi quốc gia tùy theo đặc điểm văn hóa và thể chế chính trị sẽ có quan điểm, góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Vì thế, việc áp đặt quan điểm của nước này vào nước khác là không phù hợp, đó cũng được coi là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Vì vậy, việc một số tổ chức tự đề ra báo cáo nhân quyền là việc làm mang ý đồ chính trị, họ đã tự khoác cho mình chiếc áo nhân quyền để lấy cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là những hành vi cần lật tẩy, lên án trước dư luận và cộng đồng quốc tế.

Quan điểm trên là rất rõ ràng, khách quan, Việt Nam không có việc bắt bớ, đàn áp cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”... Những trường hợp bị khoác danh nghĩa nói trên thì thực chất là các đối tượng phạm tội, đã thực hiện hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ. Các đối tượng bị xử lý hình sự mà một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí, các phần tử phản động, cơ hội chính trị rêu rao “tù nhân lương tâm” thì không liên quan gì “lương tâm” cả khi họ đã thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, gây nguy hiểm cho xã hội, cho cộng đồng. Cũng như mọi quốc gia độc lập, có chủ quyền trên thế giới, Việt Nam tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của con người bằng hệ thống luật pháp cũng như áp dụng trên thực tế. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân nhưng không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác... Những hành vi tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, kích động vi phạm pháp luật, chống phá Nhà nước; tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật nhằm giữ gìn an ninh trật tự, ổn định chính trị - xã hội.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Một tổ chức phi chính phủ hay một quốc gia dù lớn mạnh cỡ nào cũng không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với nước khác bằng những nhận xét về tình hình tự do, nhân quyền một cách áp đặt, chủ quan, sai lệch. Nhân dân Việt Nam đã và đang được sống trong một đất nước tự do, độc lập, trong đó những quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật. Mọi sự đánh giá từ các tổ chức quốc tế tự xưng về nhân quyền hay các thế lực từ bên ngoài không làm thay đổi bản chất thực tế, bởi chỉ có người dân sống trên Tổ quốc này mới cảm nhận rõ những thành quả mà họ đang thụ hưởng.

Đương nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, kể cả các nước tiên tiến, việc đảm bảo về nhân quyền luôn là quá trình phấn đấu, từng bước hoàn thiện. Quá trình thực hiện không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế nhưng khi đánh giá cần cách nhìn khách quan, không thể xoáy vào những hạn chế đó để đánh đồng, quy chụp “bức tranh nhân quyền” xám xịt như luận điệu của những kẻ chống phá. Do vậy, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo, cảnh giác trước cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”; từ đó góp phần đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động nhằm bảo vệ sự ổn định chính trị, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội./.

CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP

 

Trước mỗi kỳ đại hội đảng các cấp trên các trang mạng xã hội lại lan truyền những thông tin sai trái, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, bôi nhọ những cán bộ liên quan đến công tác nhân sự đại hội. Từ nhiều tháng qua, nắm bắt được nhu cầu thông tin của người dân về công tác chuẩn bị đại hội, nhất là chuẩn bị nhân sự, các thế lực thù địch trong và ngoài nước, một số phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị tung lên các trang mạng xã hội đủ các loại thông tin bịa đặt, bôi nhọ, suy diễn, đồn đoán, nhận định vô căn cứ về công tác cán bộ, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và tiến tới phá hoại đại hội đảng các cấp.

Có thể nhận diện một số thủ đoạn của chúng, nhằm xuyên tạc công tác cán bộ, nhân sự Đại hội XIV của Đảng, như sau:

Suy diễn công tác cán bộ theo kiểu “trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông” như: “Dự báo thay đổi nhân sự cấp cao Đại hội XIV”, “Ai sẽ vào “tứ trụ” Đại hội XIV”, “nhân sự Đại hội XIV: Gươm đã tuốt khỏi vỏ”… Thật nực cười, Đại hội còn chưa diễn ra, song những “con buôn” chính trị lại tỏ ra thông thái khoác lác như thật, khẳng định người này triệt hạ người kia để giữ vị trí này vị trí khác, sắp xếp bộ máy lãnh đạo của Đảng từ cao xuống thấp; từ đó suy diễn, đánh giá theo chiều hướng tiêu cực. Mánh lới thường thấy của chúng là “giật tít-câu khách” đánh trúng vào sự tò mò của nhiều người, từ đó đưa ra phân tích nhận định công tác cán bộ, nhân sự có sự “an bài”, “sắp xếp”, “thỏa hiệp”, cuối cùng là rêu rao, xuyên tạc chế độ mất dân chủ, độc đảng, chuyên quyền, toàn trị.

Ngoài thủ đoạn trên, chúng còn xuyên tạc đời tư, nói xấu, vu cáo cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng. Thời gian gần đây, trên các mạng xã hội, các blog, không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin vu cáo, xuyên tạc, rêu rao, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Chúng thường phát tán các thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận xã hội. Từ đó hòng tác động đến nhận thức, tâm lý, tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cán bộ, đảng viên.

Đặc biệt, chúng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội, lan truyền những thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc, kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ liên quan đến công tác nhân sự đại hội và những người trong nguồn quy hoạch, khiến dư luận hoài nghi, thắc mắc, không hiểu đúng sai thế nào…

Khi cần hạ bệ người nào, họ tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cán bộ đó phụ trách, rồi quy kết thành bản chất của chế độ, thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo, làm thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự đại hội đảng các cấp...

Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chẳng những không định hướng mà còn hùa theo, đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh tạo dư luận xấu trong chính nội bộ.

Việc tung tin xuyên tạc, bịa đặt, viết đơn thư nặc danh, mạo danh nói xấu cán bộ là hành động không trong sáng và gây ra những hậu quả xấu cho cá nhân, tổ chức. Rõ nhất là sự nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết trong nội bộ, ảnh hưởng đến sức lãnh đạo của tổ chức đảng và nhiệt huyết cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mục đích của những chiêu trò ấy mới nghe tưởng chỉ nhằm vào từng cá nhân đơn lẻ, nhưng xét cho cùng vẫn là nhằm đánh vào vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp uy tín lãnh tụ, uy tín cán bộ, đảng viên để chống phá Đảng, chống phá chế độ.

Do đó, làm thất bại âm mưu chống phá công tác nhân sự Đại hội Đảng các cấp của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, cả hệ thống chính trị, của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương, cần xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển, vững mạnh của đất nước. Tóm lại, những luận điệu suy diễn, những thông tin giả mạo, thất thiệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là những chiêu trò xuyên tạc, “diễn biến hoà bình” công tác cán bộ của Đảng, đánh vào tâm lý tò mò của nhiều người, gây nhiễu loạn thông tin, dao động về tư tưởng chính trị. Mục đích của chúng là cố tình tạo ra sự mất đoàn kết nội bộ, hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo cấp cao. Làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào tầm quan trọng, ý nghĩa đặc biệt to lớn của Đại hội XIV, vào sự lãnh đạo của Đảng, tính ưu việt của chế độ và Nhà nước pháp quyền XHCN. Chính vì vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương, cũng như mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải luôn đề cao cảnh giác với các thủ đoạn chống phá công tác nhân sự Đại hội Đảng các cấp./.


 

Lời bác dạy ngày này năm xưa

 

“Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà

Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.

Chờ cho kháng chiến thành công đã

Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

 

Nhân dịp chuẩn bị sinh nhật lần thứ 59 của Bác, ngày 19 tháng 5 năm 1949 nhiều ý kiến đề nghị tổ chức Lễ mừng thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác tỏ ý không bằng lòng và Người đã tự làm thơ mừng thọ mình,cũng là câu trả lời cho các ý kiến về việc ý định mừng thọ cho Bác. Bài thơ là hiện thân của sự giản dị, khiêm tốn nhất mực ở Người, toát lên một tinh thần lạc quan cách mạng, có niềm tin sâu sắc vào thắng lợi cách mạng, coi đó là điều kiện tiên quyết trong các tiệc mừng, cho ngày sinh nhật... Với Bác, kháng chiến chưa thành công, đồng bào còn nghèo khổ, thì không thể vui cho riêng mình và Bác cũng mong mọi cán bộ, đảng viên như vậy.

Hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đời sống vật chất, tinh thần của xã hội được nâng cao; nhưng triết lý sống phải luôn đặt lợi ích của Đảng, của đất nước lên trên, lên trước, phải biết lo cho nhân dân, cho địa phương, cho đơn vị trước khi lo cho chính mình vì mọi người luôn khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm… của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với mọi người, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực góp phần xây dựng Đamgr trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xứng đáng với niềm tin yêu và trọng trách mà nhân dân giao phó.

Học tập và làm theo phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị và tinh thần “ dĩ công vi thượng” của Bác, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, gương mẫu, đi đầu trong chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; đề cao tự phê bình và phê bình; đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân; kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, bệnh thờ ơ, vô cảm, sùng bái cá nhân; ra sức xây dựng cơ quan, đơn vị chính qui, xanh, sạch, đẹp, có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.

Sưu tầm

“ Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”.

 

“ Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”.

Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an, ngày 16 tháng 5 năm 1959. Bác chỉ rõ: “ Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù”. Bác căn dặn ngành Công an muốn làm tròn nhiệm vụ, phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống thói so bì đãi ngộ, chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể…Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ hơn cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù ngoại xâm, bởi nó ẩn sâu trong tư tưởng, trong suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân, không dễ gì nhận thấy và cũng không dễ gì đánh đổ. Việc chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính, trong đó có những cán bộ ngành Công an. 

Lời dạy của Bác Hồ có giá trị bền vững, có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch bộ máy Nhà nước ta hiện nay. Học tập và làm theo lời Bác, chống chủ nghĩa cá nhân, các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là chi bộ cần coi trọng khâu giáo dục, nâng cao nhận thức, tăng cường quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên, xây dựng động cơ phấn đấu đứng đắn của quần chúng, để họ hiểu vào Đảng không phải để thăng quan tiến chức mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mỗi người phải tự cảnh giác với chính mình, vượt qua những tiêu cực, cám dỗ của lợi ích vật chất và những tác động mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế; cảnh giác trước sự chống phá, mua chuộc, dụ dỗ của kẻ thù.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng luôn tự hào về phẩm chất cao đẹp “ Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người chính ủy, chính trị viên, chỉ huy cơ quan, đơn vị gương mẫu học tập, rèn luyện chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; kiên quyết đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tiêu cực xảy ra; ra sức xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm

“ Quyết lòng gìn giữ giang sơn/ Đồng bào Nam Việt muôn vàn văn minh”

 

“ Quyết lòng gìn giữ giang sơn

Đồng bào Nam Việt muôn vàn văn minh”

Những câu thơ trên là phần kết trong bài có tiêu đề “ Ai dã man? Ai văn minh?” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Nhân dân, số 2973, ngày 15/5/1962. Bài báo vạch trần âm mưu, thủ đoạn và dã tâm của đế quốc Mỹ xâm lược bắt tay với bọn ác ôn Ngô Đình Diệm để giết hại, đàn áp nhân dân miền Nam Việt Nam; đồng thời, Bác ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm nhưng rất khoan hồng, nhân văn, nhân đạo trong đối xử với tù hàng binh địch của quân và dân miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, quân và dân ta quyết tâm chiến đấu giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời luôn đối xử nhân đạo với tù hàng binh, giáo dục họ, phóng thích và trả về cùng gia đình, kể cả binh lính Mỹ, cũng như lính chư hầu các nước… Thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược tiếp tục khẳng định truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc ta. Đó chính là sức mạnh làm nên những thắng lợi vĩ đại để đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ vững chắcTổ quốc.

Thực hiện lời dạy của Bác, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí “ Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, quyết chiến, quyết thắng trước mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc. Đối với tù binh, hàng binh và những người lầm đường lạc bước quay trở lại với nhân dân, với cách mạng thì luôn được cán bộ, chiến sĩ quân đội đối xử với lòng nhân ái, vị tha, khoan hồng theo đúng chính sách của Đảng, Nhà nước…góp phần giảm tổn thất trong các cuộc chiến tranh, làm dịu đi mối hận thù giữa hai dân tộc, hai quốc gia đối địch trong chiến tranh, thể hiện truyền thống nhân đạo, nhân ái của dân tộc Việt Nam, phẩm chất nhân văn, cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ”.

Sưu tầm

NHẬN DIỆN NHỮNG NGUY CƠ, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI AN NINH VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA

 


Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam đã và đang bước vào xu thế tất yếu của thời đại - xu thế toàn cầu hóa kinh tế một cách chủ động. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, An ninh văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Nó là một bộ phận không tách rời của an ninh quốc gia, được coi là “sức mạnh mềm” trong quan hệ đối ngoại. Nhận thức tính quy luật hai mặt của toàn cầu hóa, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện rõ những nguy cơ thách thức đối với đất nước Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, bảo vệ sự phát triển bền vững của văn hóa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa và truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC NHỮNG XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Trải qua 93 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách và đạt được những kết quả to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Những thành tựu đó là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thế mà trong bối cảnh hiện tại, các thế lực thù địch phản động luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, với những phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt. Như vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng phải được tăng cường hơn nữa, với những biện pháp phù hợp trong tình hình mới, và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng cũng cần được tăng cường, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu đúng bản chất của sự việc, không bị mắc mưu kẻ địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước ta.

ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG – CON ĐƯỜNG SINH MỆNH CỦA TOÀN ĐẢNG, VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng giữ vị trí đặc biệt quan trọng, cốt lõi, kim chỉ nam trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đoàn kết, thống nhất trong Đảng ngày càng được quan tâm, chú trọng và phát triển. Đảng luôn xác định, “đoàn kết, thống nhất trong Đảng” là con đường sinh mệnh, là vấn đề sống còn, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Uy tín của Đảng và niềm tin của Nhân dân

 

Uy tín của Đảng và niềm tin của Nhân dân

Những thành tựu vô cùng to lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, là minh chứng cho năng lực lãnh đạo, cầm quyền và uy tín của Đảng ta. Bài viết đánh giá rõ hơn về vai trò và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó gợi mở những vấn đề trọng tâm để mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần triển khai thực hiện tốt góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước ta thực sự trong sạch, vững mạnh và uy tín, củng cố thêm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

Từ ngày thành lập (3-2-1930) cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, tổng kết, đổi mới, đúc rút kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện hơn về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền trong quá trình giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước và trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đồng thời, thể hiện quan điểm, lập trường, tư tưởng nhất quán, kiên định của Đảng ta trong việc vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đảng đã quy tụ được sức mạnh, tiềm năng, khát vọng, ý chí của Nhân dân và chuyển hóa thành sức mạnh quần chúng - sức mạnh tổng hợp để xây dựng xã hội và cuộc sống của người dân ngày một thịnh vượng… đó chính là “uy tín” của Đảng ta mà “niềm tin” của Nhân dân dành chọn, gửi gắm.

Vai trò và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trải qua 94 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, cầm quyền và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, ngoại giao… Đảng ta ngày càng vững mạnh là điều kiện quyết định nhất để chúng ta xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

Sau những năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ năm 1986), Đảng ta đã đúc rút kinh nghiệm và nhấn mạnh: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội. Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của mình”(1).

Thập niên 90 của thế kỷ trước, tình hình thế giới có nhiều biến động to lớn, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; ở trong nước có một số cán bộ, đảng viên dao động, hoài nghi về sự lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm… hòng gây chia rẽ sự đoàn kết nội bộ trong Đảng và gây sự hoài nghi, dao động trong mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, nhờ kiên định đường lối đã chọn, sáng suốt, tài tình trong lãnh đạo của Đảng, Đảng ta đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh năm 1991 nhấn mạnh: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Do đó, trong giai đoạn năm 1991-1995, đất nước ta dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái, nền kinh tế tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng; GDP bình quân tăng 8,2%/năm; hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đánh giá: “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(2). 

Những thành tựu vô cùng quan trọng mà đất nước ta đạt được trong giai đoạn năm 1991-1995 là thể hiện rõ vai trò và uy tín của Đảng ta đã ngày càng vững mạnh về bản lĩnh chính trị, về tính khoa học đúng đắn trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về tầm cao tư duy dám đổi mới, sáng tạo phù hợp với điều kiện ở trong nước cũng như bối cảnh thế giới, khu vực lúc bấy giờ. Mặt khác, trong Đảng đã dám nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá khách quan, khoa học những hạn chế, khuyết điểm, cả những việc chúng ta chưa làm được, chưa thành công… để rút kinh nghiệm, tìm tòi giải pháp để khắc phục, sửa chữa. Đồng thời, trong giai đoạn này Đảng ta tích cực, chủ động trong việc mở rộng quan hệ kinh tế, ngoại giao với các quốc gia, vùng lãnh thổ, với phương châm và quan điểm rõ ràng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(3).

Từ ngày 11-7-1995, giữa Mỹ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao, dỡ bỏ lệnh cấm vận về kinh tế đối với Việt Nam. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam từng bước ký kết các hiệp định thương mại với các quốc gia, tổ chức trên thế giới, góp phần tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và là tiền đề để Đảng, Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (từ Đại hội IX của Đảng); từng bước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên.

Cụ thể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất hàng hóa với thị trường; Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, mô hình các hợp tác xã, tổ chức phát triển kinh tế…). Trong đó, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành, kinh tế vĩ mô đã cơ bản ổn định. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện cam kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại thế giới (WTO). Đặc biệt, tính đến tháng 8-2023, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các quốc gia, tổ chức kinh tế trên thế giới đang còn hiệu lực (16 hiệp định) và tiếp tục đang đàm phán 3 hiệp định(4). Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, trong đó, Việt Nam đã nâng tầm quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện” với 7 quốc gia gồm: Trung Quốc (tháng 5-2008), Liên bang Nga (tháng 7-2012), Ấn Độ (tháng 9-2016), Hàn Quốc (tháng 12-2022), Hoa Kỳ (tháng 9-2023), Nhật Bản (tháng 11-2023), Ô-xtrây-li-a (tháng 3-2024) và 18 đối tác chiến lược, 12 đối tác toàn diện.

Trải qua 47 năm (từ ngày 20-9-1977) Việt Nam chính thức gia nhập Liên hiệp quốc, với những đóng góp của mình, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí, cơ quan quan trọng của Liên hiệp quốc và ghi được nhiều “dấu ấn” tại các cơ quan như Hội đồng Bảo an, Hội đồng Nhân quyền... Đặc biệt, ngày 9-4-2024, Hội đồng Kinh tế - xã hội (ECOSOC) đã nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành cơ quan Liên hiệp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027.

Với chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tính đến ngày 30-6-2023, cả nước có 6.022/8.177 xã (73,65%) đạt chuẩn nông thôn mới; 1.331 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 176 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Bình quân cả nước đạt 16,9 tiêu chí/xã; có 263/644 đơn vị cấp huyện (40,8%) thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới(5). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(6).

Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển toàn diện con người Việt Nam về sức khỏe, giáo dục và thu nhập cũng như những thụ hưởng về văn hóa, tinh thần… Theo Báo cáo Phát triển con người (HDR) toàn cầu 2021/2022 được Chương trình Liên hiệp quốc tại Việt Nam công bố tháng 9-2022 cho biết: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2021 là 0,703, tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, từ 117/189 quốc gia vào năm 2019 lên 115/191 quốc gia trong năm 2021; HDI của Việt Nam xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á. Tính đến đầu năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều cả nước giảm còn 2,93% (giảm 1,1% so với cuối năm 2022), Việt Nam là 1 trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (6 chiều về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin). Có thể khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác xóa đói, giảm nghèo.

 Những thành tựu trên được các quốc gia và chính đảng các nước đánh giá cao. Ông Walter Sorrentino, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Bra-xin khẳng định: “Từ thực tiễn của Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mà chính quyền phục vụ Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Kết quả xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam là minh chứng có giá trị hơn mọi lời nói. Điều này càng được thể hiện rõ ràng trong đại dịch COVID-19, cho thấy rõ tính ưu việt trong phòng, chống dịch bệnh của chính quyền các nước xã hội chủ nghĩa… Có được điều này là bởi chủ nghĩa xã hội là nhân văn, là động lực để nhân loại hướng tới một xã hội thịnh vượng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo vệ độc lập, tự chủ và môi trường thiên nhiên. Nó đòi hỏi phải có một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý mọi mặt đời sống xã hội, trong đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”(7).

Tại sự kiện “Người Việt Nam có tầm ảnh hưởng 2024” (VGLF) ở Pháp, ông Philipp Rösler - nguyên Phó Thủ tướng Đức đánh giá: “Việt Nam đang đứng trước cơ hội, thời điểm để tìm ra con đường hướng tới sự thịnh vượng. Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước trung lập trong nhiều thế kỷ và tìm ra các giải pháp hòa bình. Vì thế, Việt Nam có thể đóng vai trò lớn hơn vì lợi ích của nhân loại”(8). Khi phân tích, đánh giá bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông Petro Simonenko, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản U-crai-na nêu rõ: “Những thành tựu của Việt Nam hiện nay một lần nữa chứng minh ưu thế vượt trội của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản, đó là bảo đảm sự thỏa mãn tối đa các nhu cầu văn hóa và vật chất ngày càng tăng của cả xã hội bằng cách không ngừng nâng cao và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cơ sở các thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất… Một lần nữa chúng tôi tin tưởng rằng, những ưu việt của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là rõ ràng và không thể bàn cãi”(9).

Đặc biệt, kết quả tích cực về cải cách thể chế và đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước làm cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có hệ thống chính trị phát triển, ổn định hàng đầu thế giới. Minh chứng rõ nhất là thành phố Hà Nội đã được lựa chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần hai từ ngày 27 đến ngày 28-2-2019 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh đạo Kim Jong-un; đồng thời lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã thăm cấp nhà nước tới Việt Nam (từ ngày 10 đến ngày 11-9-2023) theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là sự khẳng định cho một thể chế chính trị Việt Nam phát triển hài hòa và mô hình kinh tế hiệu quả; là thể hiện rõ nét nhất về vai trò và uy tín của Đảng và Nhà nước ta trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(10).

Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng 

Để Đảng ta luôn thực sự là một đảng cầm quyền duy nhất, lãnh đạo toàn diện đất nước trong mọi hoàn cảnh, đòi hỏi Đảng phải thật sự “trí tuệ”, luôn đổi mới, sáng tạo phương thức cầm quyền và phải “tỉnh táo” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thực tế, từ ngày thành lập cho đến nay, Đảng ta đã hoàn thành tốt sứ mệnh mà nhân dân giao phó, ngày càng đem lại niềm tin vững chắc đối với nhân dân.

 Có được niềm tin rất lớn ở Nhân dân là do Đảng ta đã thẳng thắn đánh giá, chỉ rõ những khuyết điểm, tồn tại trong lãnh đạo, chỉ đạo, để từ đó đề ra giải pháp phù hợp, quyết liệt nhằm sửa chữa, khắc phục. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả. Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm, thậm chí vi phạm”(11). Điều này cho thấy bản lĩnh chính trị của Đảng ta, dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, chứ không né tránh, “che đậy” những hạn chế, cũng chính từ sự “bản lĩnh” này mà Nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. 

Xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ lâu dài, nên Đảng ta luôn kiên quyết, kiên trì. Từ năm 2013, khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thực hiện quyết liệt, đạt được nhiều kết quả toàn diện. Từ tháng 9-2021, để công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục đi vào chiều sâu, toàn diện, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được Bộ Chính trị quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trọng tâm là chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta; đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng liêm chính, trong sạch, vững mạnh. 

Với quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” và “Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng”. Nhằm cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Chính trị đã quyết định cho tiến hành từng bước thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do đồng chí bí thư tỉnh ủy làm trưởng ban, đã góp phần gắn kết chặt chẽ hơn giữa phòng và chống theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng đề ra từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Từ khi thành lập đi vào hoạt động, các ban chỉ đạo cấp tỉnh đã có sự chuyển biến rõ rệt, với nhiều kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cụ thể, về công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập. Các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Về công tác điều tra, truy tố, xét xử, năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước đã khởi tố hơn 4.500 vụ, hơn 9.370 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ (tăng 46% về số vụ án so với năm 2022). Riêng án tham nhũng tăng gần hai lần về số vụ và hơn hai lần về số bị can(12).

Bất kể cán bộ, đảng viên giữ vị trí công tác nào (dù đương chức hay đã nghỉ công tác) nếu vi phạm “những điều đảng viên không được làm” thì đều bị xử lý kỷ luật kể cả mặt đảng và chính quyền, điều này cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “bất kể người đó là ai”. Qua điều tra xã hội học về nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân khi được hỏi, thì đại đa số người dân rất đồng tình, ủng hộ cao cách làm quyết liệt, triệt để, khoa học, thận trọng từng bước khi phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các cá nhân, tổ chức có dấu hiệu vi phạm, để không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng, tránh oan sai. Điều này cho thấy sự đồng thuận, đặt niềm tin rất lớn của người dân vào quyết tâm làm trong sạch bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; quyết tâm diệt trừ tận gốc tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Giữ vững niềm tin của Nhân dân đối với Đảng 

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự đoán; ở trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đan xen; các thế lực thù địch, phản động vẫn tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam; sự phát triển của khoa học công nghệ, các nền tảng mạng xã hội khó kiểm soát… Đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục tăng cường bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng là những việc rất quan trọng, do đó trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện tốt được điều này, trước hết mỗi tổ chức đảng phải thực hiện nghiêm những quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động cơ bản của Đảng ta là: 1) Tập trung dân chủ trong Đảng; 2) Tự phê bình và phê bình; 3) Đoàn kết thống nhất; 4) Gắn bó mật thiết với Nhân dân; 5) Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, phải hết sức chú trọng đến các nguyên tắc trong công tác tư tưởng như: nguyên tắc tính Đảng; nguyên tắc tính khoa học; nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm. Đặc biệt là “tính Đảng” cần hết sức coi trọng, trên cơ sở đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Vì vậy, phải tăng cường đổi mới mạnh mẽ tư duy và cách thức làm công tác tư tưởng, mở rộng tính dân chủ, công khai, minh bạch, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử có thái độ hữu khuynh hoặc mơ hồ những vấn đề tư tưởng có tính nguyên tắc.

Tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban nhân sự chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban chủ trì phiên họp có đề cập và nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng ta và cũng phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đó là: “Tập thể lãnh đạo”, “Lãnh đạo tập thể”, “Lãnh tụ tập thể”. Có thể nói, đây cũng là lần đầu tiên khái niệm “lãnh tụ tập thể” được nhấn mạnh trong công tác chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bởi vì, tầm đặc biệt quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa lịch sử, là trọng trách nặng nề; “Lãnh tụ tập thể” còn có hàm nghĩa quy tụ, hội tụ được những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài, trong đó đức là gốc. Cụ thể, là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, nhân sự trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải thực sự là một khối thống nhất, thông suốt trong hành động, trong lãnh đạo, chỉ đạo những vấn về quan trọng của đất nước.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phong cách, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn đất nước. Đảng ta là đảng cầm quyền, những thắng lợi và thành tựu, những thất bại và tổn thất của cách mạng đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến toàn bộ hệ thống để bảo đảm giữ vững quyền lực chính trị của nhân dân. Tính nhất quán tạo nên phong cách, sự kiên định tạo nên sức mạnh, nghĩa là nhất quán trong việc ban hành chỉ thị, nghị quyết với hành động; kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Do đó, đổi mới nội dung, phong cách và phương thức lãnh đạo của Đảng không phải là để hạ thấp hay xóa bỏ vai trò lãnh đạo, mà chính là để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng; tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với Nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, cần phân rõ được đúng chức năng giữa Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là giữa Đảng với Nhà nước, có cơ chế và phương thức hoạt động khoa học, phù hợp, linh hoạt để phát huy dân chủ và đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đất nước.

Ba là, quyết liệt, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta sớm nhận diện và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của tệ tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi… Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng”(13). Do đó, chúng ta phải quyết liệt, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài. 

Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và lựa chọn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý “có tâm”, “có tầm”. Trong công tác cán bộ, từ khâu tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm phải thận trọng, khách quan, công tâm, đặc biệt đối với những cán bộ cấp chiến lược, cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là người thực sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, nổi trội về năng lực lãnh đạo, quản lý, có tầm nhìn chiến lược dài hạn; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; có tinh thần cống hiến, phụng sự Tổ quốc… Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị cho công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng (nhiệm kỳ 2026-2030), đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam.

Năm là, tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Mỗi cơ quan, đơn vị cần xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu lực, hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, hiệu quả Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. 

Sáu là, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế với các chính đảng trên thế giới, đặc biệt là Đảng Cộng sản các nước. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(14). Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, nhận được sự tin cậy của bạn bè thế giới và đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội. Tăng cường giao lưu, hợp tác với các chính đảng, các quốc gia trên thế giới còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ, đồng thuận; làm cho các quốc gia, tổ chức hiểu rõ hơn về bản chất tốt đẹp của Đảng Cộng sản và con người Việt Nam; giảm bớt sự thù địch, chống phá của các thế lực phản động.

Có thể khẳng định, thực hiện hiệu quả những nội dung cơ bản nêu trên không chỉ góp phần tạo thêm uy tín của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân, mà còn thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trọng tâm là những nhiệm vụ rất quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng một nước Việt Nam “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, thể hiện sự nhất quán về quan điểm, chủ trương của Đảng ta về phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Không còn uy tín là mất niềm tin và mất niềm tin là mất tất cả, vì vậy đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải thực sự gương mẫu, thực sự liêm chính trong sạch, vững mạnh; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải hợp lòng dân, vì lợi ích của nhân dân, đem lại cuộc sống khá giả cả về vật chất lẫn tinh thần cho người dân… Thực hiện được những điều đó, thì Nhân dân sẽ mãi một lòng sắt son đối với Đảng.