Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

75 NĂM NGÀY THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO (30/1/1950 - 30/1/2025): QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA

 75 NĂM NGÀY THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO (30/1/1950 - 30/1/2025): QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA

75 năm trước, ngày 30/1/1950, Liên Xô trước đây (Liên bang Nga ngày nay) là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước sau này. Trải qua 75 năm, tình hữu nghị Việt Nam-Liên bang Nga luôn được lãnh đạo và nhân dân hai nước coi trọng, gìn giữ và không ngừng củng cố, đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ngày càng sâu sắc hơn.
Có thể là hình ảnh về bản đồ và văn bản
Tất cả cảm xúc:
2

NHỮNG TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 NHỮNG TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng nên nhiều truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp. Những truyền thống quý báu của Đảng ta là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế trên một tầm cao mới của thời đại; là sức mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng; là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh xương máu, phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, đảng viên. Trên con đường phát triển, Đảng ta đã không ngừng đưa ra những quyết sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu lịch sử, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
1

ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG VƯƠN MÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CÙNG XUÂN

 ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG VƯƠN MÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CÙNG XUÂN

Mùa xuân năm 1911, ở vào tuổi xuân Nguyễn Tất Thành quyết định lên tàu Amiran Latusơ Tơrevin để xuất dương tìm đường cứu nước. Bôn ba khắp năm châu, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tìm được con đường đó và vận dụng vào cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng đi lên Chủ nghĩa Cộng sản”. Để lãnh đạo cách mạng, vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do Người thành lập ra đời. Từ mùa Xuân đó như có linh ứng giữa lòng người và đất trời mà cùng với những chồi xanh, lộc biếc của Xuân, dân tộc Việt Nam có được một tổ chức cách mạng đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo toàn dân đứng lên để “tự giải phóng mình”. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khơi dậy được sức mạnh của dân tộc làm bừng lên, nở rộ thành những phong trào rồi thành cao trào đưa cách mạng Việt Nam vượt qua bao nhiêu gian nan thử thách để giành được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác làm vẻ vang lịch sử, rạng rỡ non sông. Việt Nam từ đất nước bị nô lệ hàng nghìn năm đã vươn mình “sánh vai cùng với các cường quốc năm châu”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành được độc lập, nhưng Việt Nam lại phải đương đầu và đã đánh thắng “hai đế quốc to” với những chiến công hiển hách đi cùng xuân. Đó là vào mùa Xuân năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu, buộc thực dân Pháp phải rút quân khỏi Việt Nam sau gần 100 năm đô hộ, mở ra kỷ nguyên mới không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn là ngọn cờ vẫy gọi các dân tộc bị nô lệ vùng lên giải phóng. Rồi đến mùa Xuân năm 1973, sau những chiến công giòn giã, đặc biệt là chiến dịch tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam và chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 ở miền Bắc, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari rút quân xâm lược về nước. Mùa Xuân năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giang sơn thu về một mối; nước Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, tiến lên xây dựng CNXH, cũng từ mùa Xuân này, “Mùa Xuân theo én về” báo hiệu sự suy vong của chế độ thực dân mới trên toàn cầu.
Nhưng sau chiến công rực rỡ, lại phải đương đầu với bao khó khăn đó là hậu quả của chiến tranh, lại bị cấm vận, bị đánh phá ở hai đầu biên giới, rồi Liên Xô và phe XHCN tan rã, nhưng đất nước đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, sáng tạo tìm ra con đường đổi mới vượt qua nghèo nàn, lạc hậu và trì trệ. Đó là, cũng vào mùa Xuân, ngày 24 tháng 2 năm 1986 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 31-NQ/TW ghi đậm dấu ấn lịch sử với việc hình thành tư tưởng đổi mới. Từ đó làm cơ sở, để Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới với tư duy: “Phải nhìn thẳng vào sự thật”; “Dám thay đổi lối mòn tìm ra cái mới”, từng bước thực hiện cơ chế thị trường thay cho cơ chế quan liêu bao cấp không còn phù hợp.
Khơi nguồn từ mùa Xuân 1986, gần 40 xuân thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở tốp đầu và hiện có quy mô kinh tế ở tốp 35 thế giới; GDP từ chỗ ở cuối bảng đã tăng lên hơn 40 lần, để vươn lên tốp 5 các nước Đông Nam Á; kim ngạch xuất khẩu tăng gần 300 lần và có giá trị đứng ở tốp 10. Có 143 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (FDI) với số vốn tăng hơn 22 lần. Hộ nghèo giảm từ 58% xuống 1,9%. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; là đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 32 nước. Thành viên của 16 Hiệp ước quốc tế và thương mại tự do.
Như là duyên nợ với đất trời, Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh cứ đến mùa Xuân là ghi thêm một mốc son chói lọi, đất nước nẩy lộc, đâm chồi, đơm hoa, kết trái không ngừng nghỉ với thời gian. Vững bước trên con đường đã chọn luôn được sáng tạo, bổ sung và hoàn thiện, với những cơ chế, chính sách ứng phó linh hoạt phù hợp với tình hình, vượt qua mọi khó khăn thử thách để phát triển.
Xuân năm nay, đón chào những ngày lễ lớn, kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc…, đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với hành trang truyền thống vẻ vang và những thành tựu toàn diện của công cuộc đổi mới. Tiếp tục thực hiện ba mũi đột phá do Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, cùng với tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, phấn đấu: “Hết năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại vượt qua thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Để làm được điều đó cần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, khát vọng vươn lên giàu mạnh của dân tộc, ra sức chỉnh đốn và xây dựng Đảng, thực hiện có hiệu quả cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức và bộ máy nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng. Tiếp tục hoàn thiện sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vươn mình cùng thời đại với ý chí và quyết tâm phấn đấu những năm tới đạt mức tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra.
Cùng với cả nước, trong những năm qua Hà Giang đã có bước phát triển nhanh, từ thành thị đến những vùng quê hẻo lánh đã có sự “thay da đổi thịt” thật sự. Bước vào năm mới, đồng bào các dân tộc Hà Giang quyết tâm vươn mình cùng cả nước tập trung giảm nghèo nhanh và bền vững, cải thiện sinh kế và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi nhà. Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Xây dựng Hà Giang là tỉnh phát triển về du lịch cộng đồng với những sản phẩm đặc trưng vùng; văn hóa đa dạng, phong phú với những sắc màu của các dân tộc, gìn giữ biên giới hòa bình, hữu nghị, đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự xã hội ổn định. Phấn đấu năm 2025 đạt được 30 chỉ tiêu trên các lĩnh vực mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra; đến năm 2030 là tỉnh khá trong vùng các tỉnh miền núi ở phía Bắc.
Thật là đáng vui, bước vào năm mới dẫu thế giới đang nổi lên những xung đột, diễn biến phức tạp thì đất nước ta vẫn bình yên, chính trị - xã hội ổn định, đời sống tinh thần, vật chất của người dân được nâng lên rõ rệt, dân tộc bước vào kỷ nguyên mới tiếp tục phát triển và hội nhập, kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH, thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.
Có thể là hình minh họa về 1 người
Tất cả cảm xúc:
1

PHÁT TRIỂN KỶ NGUYÊN MỚI, VÌ SỨC MẠNH VÀ DANH DỰ VIỆT NAM

 PHÁT TRIỂN KỶ NGUYÊN MỚI, VÌ SỨC MẠNH VÀ DANH DỰ VIỆT NAM

Tròn 95 năm trước, ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là cuộc hội ngộ của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, của lịch sử giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước sục sôi truyền thống mấy nghìn năm. Đó là khát vọng của Nhân dân, là lời đáp câu hỏi phát triển của lịch sử dân tộc, là sự vận động của đất nước phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại.
Dưới ngọn cờ của Đảng, 95 năm qua, trên nền móng giang san xã tắc mấy nghìn năm, dân tộc ta tự tin vững bước trên con đường XHCN. Đặc biệt, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm Đổi mới, đất nước ta giữ vị thế mới, sức mạnh mới và uy tín mới. “Thành công của Việt Nam cũng là thành công của toàn thế giới. Mô hình của Việt Nam đã đạt đến những thành tựu của chủ nghĩa xã hội”.
Nhưng, trong thời đại, trước yêu cầu phát triển mới, đất nước không thể không bứt phá và phát triển mạnh mẽ, nếu không muốn tụt hậu. Đó là danh dự Việt Nam.
Sau gần 40 năm Đổi mới, lúc này, nếu tụt hậu xa hơn là sự hổ thẹn Quốc thể. Năm 2025, thế giới bước vào thời kỳ phát triển mới - toàn cầu hóa với xung lực của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư, với tốc độ mới, đang làm đảo lộn trật tự phát triển và sắp xếp lại thế giới.
Từ vị thế năm 2025, với thành quả của 40 năm Đổi mới, Việt Nam trở thành nước đang phát triển với vị thế mới: Quy mô GDP tăng khoảng 50 lần, trong top 5 nước có quy mô kinh tế tăng cao nhất thế giới ([2]). Năm 2024, CEBR dự báo, Việt Nam có thể sẽ vươn lên vị trí thứ 24 vào năm 2033, với quy mô kinh tế đạt 1.050 tỷ USD. Với ưu thế dân số đông và trẻ, Việt Nam có cơ hội vượt qua hầu hết các nước trong ASEAN về kinh tế và trở thành quốc gia có thu nhập cao năm 2045.
Nhưng, như thế là chưa xứng đáng với vị thế, tiềm năng và sức mạnh của 100 triệu đồng bào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế vẫn đang hiện hữu trong khi kỷ nguyên thông tin, kỷ nguyên số, kỷ nguyên xanh toàn cầu là sức ép mới đang thách thức Việt Nam phát triển cả về quy mô và chất lượng trong 20 năm tới.
Thách thức bao trùm tới năm 2030, phải giữ vững tốc độ tăng trưởng bền vững từ 7 - 7,5%/năm, vươn tới 2 con số. Đồng thời, hóa giải nguy cơ giữa tụt hậu, phát triển chậm chạp, rơi vào bẫy thu nhập trung bình với thể chế lạc hậu, kìm trói năng lực và tiềm năng quốc gia; giữa yêu cầu trong sạch hóa bộ máy và cán bộ với yêu cầu cao của sự phát triển…; giữa yêu cầu phát triển bền vững với cạm bẫy thu nhập trung bình; giữa phát triển kinh tế - xã hội bền vững với vấn nạn ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề; giữa thách thức, đe dọa chủ quyền, quyền chủ quyền với khả năng giữ vững và phát triển các cục diện thế giới có lợi cho đất nước…
Trong bối cảnh mới của thời đại, trước sứ mệnh mới, càng đòi hỏi Đảng ta không ngừng mở tầm nhìn chiến lược mới, với mục tiêu mới, bằng sự chuẩn bị toàn vẹn thực lực mới và hành động với phương lược mới, với gia tốc phát triển mới 20 năm, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao trong tầm nhìn năm 2045.
Dân tộc hành động bằng danh dự thiêng liêng
và trách nhiệm vĩ đại kỷ nguyên mới
Lịch sử đang thách thức và hối thúc Việt Nam trỗi dậy. Hoặc thúc thủ và tụt hậu hoặc hành động để tiến lên. Chúng ta không thể không chuẩn bị tầm nhìn và thực lực, tư tưởng và tâm lý, năm 2026 tiến vào kỷ nguyên mới.
Thay mặt Trung ương Đảng và đất nước, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Tìm con đường ngắn nhất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.
Không có lựa chọn nào khác!
Trên nền tảng căn bản năm 2024, với tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt 7%, năm Ất Tỵ 2025 - trước thềm Đại hội XIV của Đảng - mức tăng trưởng GDP phải đạt mức tối thiểu 7 - 7,5%. Đây là năm của số thành - ngưỡng cửa để dân tộc vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.
Đây là thời kỳ mới của công cuộc Đổi mới toàn diện, đồng bộ thách thức mọi giới hạn phát triển bằng tầm viễn kiến chiến lược mới, với nghệ thuật xử lý thời cơ; bằng cải cách hệ thống bộ máy và vận hành bằng cơ chế phù hợp, trung tâm là kiểm soát và cân bằng quyền lực thông qua hệ thể chế đồng bộ, phù hợp và hiệu quả ở tất cả các phương diện (chính trị, kinh tế, xã hội…), đối với mọi tổ chức của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể), ở mọi quy mô, cấp độ và mỗi con người; bằng phương thức mới tập hợp lực lượng đông đảo; bằng động lực phát triển mới với hệ chính sách thực thi tổng thể, phù hợp, thống nhất, đồng bộ và đủ mạnh… nhằm tạo ra tốc độ phát triển vượt bậc và toàn diện với quy mô và chất lượng mới, trong sự phát triển của thế giới, tầm nhìn năm 2045.
Diễn đạt một cách hình ảnh, kỷ nguyên mới là kỷ nguyên thách thức và hóa giải mọi giới hạn phát triển, bằng nắm lấy thời cơ, xuất phát từ chính mình, với bản lĩnh tự tôn, tự trọng, tự cường và hành động quyết liệt, không thể rụt rè, do dự hay chờ đợi, cầu toàn, vì sự hùng cường và danh dự đất nước. Nó đòi hỏi về nghệ thuật xử lý thời và thế, mở tầm viễn kiến chiến lược, hoạch định quyết sách chính trị đúng đắn, tập hợp lực lượng đông đảo, tìm tòi hệ giải pháp thực thi phù hợp, đồng bộ và đủ mạnh, tạo ra tốc độ phát triển vượt bậc của đất nước trong sự phát triển của thế giới.
Lịch sử và thời gian không chờ đợi. Hoặc là bây giờ hoặc khó có thể bao giờ.
Kiên định và hiện thực hóa độc lập, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, dưới tên gọi tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn gốc và bài học lịch sử vô giá của Đảng ta. Đó cũng là lẽ sống còn, là khởi nguồn quyết tâm chính trị không gì lay chuyển của Đảng ta; là nhân tố căn bản của bản lĩnh Việt Nam, của triết lý phát triển bền vững và nhân văn của dân tộc ta, trong thời đại ngày nay. Trung thành, phát triển độc lập, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải bằng sức mạnh hiện thực hóa đường lối chính trị, bằng pháp chế, hệ thể chế khơi dậy và giải phóng mọi tiềm năng, tiềm lực. Đó là thước đo sức sống và sự thuyết phục của chủ nghĩa Mác - Lênin, ở Việt Nam, dưới tên gọi Hồ Chí Minh nhằm hóa giải những thách thức phát triển. Đó là con đường phát triển và tự bảo vệ nền tảng tư tưởng và lý luận đổi mới; là con đường tất yếu của công cuộc đổi mới và danh dự dân tộc. Đó chính là linh hồn triết lý phát triển Việt Nam thời đại mới.
Vì thế, hơn bao giờ hết, cần hai chữ: Bất biến! Hơn bao giờ hết, lúc này, thời cơ chính là lực lượng. Và, thời gian phát triển rút ngắn là lực lượng.
Đất nước không trỗi dậy không thể trở thành một cường quốc kinh tế. Phải lấy phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy tốt nội lực, thâu thái mọi nguồn ngoại lực phát triển lực lượng sản xuất với công nghệ hiện đại: kinh tế số chiếm 30% GDP cùng kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn… không chỉ về quy mô, tốc độ mà cả về chiều sâu với quan hệ sản xuất mở đường phù hợp, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản trị và vận hành nền kinh tế - xã hội với hệ thể chế giải phóng có thể và hiệu quả làm “cửa mở” tăng tốc. Đồng thời, đổi mới, phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm công bằng, công minh, với trung tâm là phát triển con người.
Phải xây dựng triết lý của sự phát triển bền vững, nhân văn bằng hệ thống thể chế hiện thực với cơ chế vận hành đồng bộ, thống nhất, phù hợp trên tất cả các phương diện và thật sự phải là cương lĩnh hành động. Phải chọn phát triển ngắn hạn và rút ngắn đúng đắn, phù hợp, bằng cách đi thẳng vào khoa học công nghệ hiện đại để đột phá phát triển lực lượng sản xuất và lường trước nguy cơ trở thành nạn nhân của chính nó.
Mọi sự phát triển quốc gia phải xoay chung quanh con người, chứ không phải ngược lại; đề phòng và hóa giải những nguy cơ phản phát triển. Cấp bách cải cách, sửa sang toàn diện nền giáo dục và đổi mới triết lý giáo dục và đào tạo mang tầm chiến lược. Chủ động, tích cực hội nhập và cân bằng các mối bang giao quốc tế là động lực quan trọng, tăng cường sức mạnh phát triển quốc gia.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần vun đắp một chữ: Tầm!
Thời gian là lực lượng. Và, thời cơ là siêu lực lượng. Dân tộc không thể vươn mình khi thiếu hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại mang tầm chỉnh thể… phát huy lợi thế vị thế địa - tự nhiên và địa - kinh tế, với hệ huyết mạch căn bản phát triển quốc gia. Không vượt khỏi những “đầm lầy thể chế”, không có “đường băng” hạ tầng chiến lược không thể có bất cứ cuộc vươn mình nào như mong đợi.
Tổ quốc không thể trỗi dậy nếu không đột phá đổi mới ngang tầm về thể chế giải phóng tối đa mọi năng lực, nguồn lực phát triển cân bằng với tốc độ cao, bảo đảm phát triển kinh tế song hành với đổi mới chính trị hài hòa với phát triển nền văn hóa với hệ giá trị con người. Và, càng không thể nắm lấy pháp quyền khi hệ thống thể chế giải phóng với rường cột là luật pháp khập khiễng đặt trong tay những hệ thống bộ máy khấp khểnh, nặng nề, lại bị khuynh loát bởi các tệ nạn tham nhũng, lợi ích nhóm, cục bộ... trước các “cạm bẫy thu nhập trung bình”, “bẫy nghèo mới”…
Đất nước không thể cất cánh khi phải gồng gánh một hệ thống bộ máy vừa song trùng nặng nề, vừa nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối “đuôi nặng hơn đầu”, tiêu tốn hơn 70% GDP, lại ủ chứa nhiều chứng bệnh “chết người”.
Vì thế, không thể không tinh giản theo 2 cấp độ: cơ cấu lại hệ thống tổng thể nhằm giảm đầu mối và quy mô song hành cơ cấu lại bên trong mỗi nhân tố của hệ thống để giảm sự “vừa thừa vừa tác họa”; đồng thời, dọn sạch những “lô cốt” quan liêu, tham nhũng, lãng phí đủ loại. Nếu không soát xét tổng thể và cấu trúc lại các bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng không song trùng, không trung gian, không cơ học thuần túy; đồng thời, cấu trúc lại từ bên trong mỗi bộ máy với chức năng, nhiệm vụ mới theo hướng hội tụ đa ngành, đa chức năng, cá thể hóa trách nhiệm; tinh gọn, tinh nhuệ, liên thông và hiện đại trong mỗi bộ máy, thì nhất định không có sự tinh giản nào và càng không có bộ máy nào phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.
Trong tổng thể, đến lượt mình, mỗi thành viên, theo chức năng, nhiệm vụ, tái cấu trúc đội ngũ theo hướng tinh gọn hóa, trí thức hóa, trách nhiệm hóa và đo lường hiệu quả quản trị của từng bộ máy. Đột phá mạnh mẽ chiến lược phát triển nhân tài: chính trị gia, chiến lược gia, kỹ trị gia và doanh gia xứng đáng; trong sạch hóa, văn hóa hóa đội ngũ bằng hoàn thiện nền pháp chế, cá thể hóa trách nhiệm và thể chế kiểm soát quyền lực; bằng bảo đảm quản trị quốc gia với phát triển đạo đức và văn hóa; bằng đo lường hiệu quả công vụ, thông qua khảo khóa định kỳ và bất thường; bằng tuyển trạch qua mọi con đường, trước hết bằng thi tuyển, tiến tuyển, cổ vũ vượt cấp; bằng cải cách chế độ đối đãi xứng đáng và kỷ luật nghiêm khắc… Luật hóa và thực thi cơ chế tuyển chọn và sử dụng nhân tài.
Do đó, Nhà nước nắm lấy quản trị bởi pháp luật và đạo đức mang tầm kiến tạo và phát triển thay vì chỉ bằng mệnh lệnh và can thiệp chủ quan (lại chưa hoàn thiện); chuyển từ quản lý hành chính, khuôn theo lãnh thổ sang phân cấp, phân quyền, trách nhiệm và phụng sự với đột phá cải cách toàn diện thể chế nền hành chính quốc gia. Quốc hội không thể mạnh mẽ nếu không chuyển từ kiêm nhiệm sang chuyên nghiệp hóa; chuyển từ báo cáo sang giải trình minh bạch; chuyển từ diễn giải sang chất vấn, đối thoại, tranh luận, phản biện; chuyển từ trách nhiệm tập thể chung chung, khó định lượng sang cá thể hóa trách nhiệm cơ quan trình và “tuổi thọ” của luật… ngăn chặn sự cát cứ hoặc khoanh vùng pháp luật, phá vỡ tính chỉnh thể, quyền uy của luật pháp. Chính phủ chuyển từ tư duy quản trị sang tư duy phục vụ Nhân dân với hiện thực hóa pháp luật, ban hành chính sách phải nhằm phát triển thể chế, ngăn chặn nạn lạm dụng quyền lực công, phá vỡ tính thống nhất của pháp luật.
Không vì sự phát triển đất nước, không vì Nhân dân, mọi bộ máy sẽ trở nên cục bộ, bản vị, thoái bộ, tự hủ bại và nguy cơ cản trở, thậm chí làm suy tàn đất nước. Không cuộc cách mạng hay cải cách nào không khó khăn, thậm chí cả hy sinh.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần quyền biến một chữ: Dũng!
Trong thế giới biến động khôn lường, trước trọng sự và thách thức mới mẻ, nếu không ổn định không thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế; không yên dân không thể phát triển xã hội vững bền; không đột phá phát triển khoa học công nghệ càng không thể đổi mới lực lượng sản xuất để tăng tốc phát triển.
Song hành với phát triển kinh tế, phải phát triển đồng bộ và hiệu quả văn hóa - xã hội. Văn hóa - xã hội phải phục vụ phát triển kinh tế và ổn định xã hội; đến lượt nó, kinh tế phải trực tiếp bảo đảm giữ vững chính trị, quốc phòng, an ninh, xã hội ổn định tổng thể và hài hòa với tinh thần chủ đạo tự tôn, tự trọng, tự lực và tự cường. Không có nền giáo dục ngang tầm không có liêm sỉ mỗi người, không có Quốc sỉ, càng không có Quốc thể xứng đáng.
Muốn đi xa và vững chắc, phải đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao dân trí; cổ vũ và đồng hành cùng các doanh nghiệp tiên phong hội nhập; sức mạnh, danh dự và uy tín quốc gia phải là điểm tương đồng căn bản để phát triển đồng thuận xã hội hướng tới hạnh phúc của Nhân dân… Cùng với tăng cường quốc phòng chủ động, vững mạnh, phải giữ gìn an ninh quốc gia trên nền móng thế trận lòng dân.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần giữ vững một chữ: Đồng!
Theo quy mô và tốc độ đổi mới, Đảng phải là tổ chức tinh hoa trí tuệ của người lãnh đạo, cầm quyền. Ngay từ hôm nay, đẩy nhanh tốc độ soát xét mô hình “lưỡng đầu chế” với “song trùng trực thuộc”, nhiều tầng nấc trung gian và hệ thống “nhìn lên trên và chờ đợi” không minh định trách nhiệm để kiến lập mô hình “nhất nguyên chế” với ba cấp (sách lược trước mắt) và tất cả “nhìn xuống dưới để hành động” một cách trực tiếp, phù hợp và cụ thể nhằm xóa sự yếm thế, bất lực “không quản được thì cấm”.
Đồng thời, thanh lọc, cấu trúc lại và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, cán bộ theo hướng trí thức hóa “thà ít mà tốt”; nâng cao quyền, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực của bộ máy và người đứng đầu nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền một cách đạo đức, văn minh. Không giữ gìn và đề cao liêm chính, không kiên quyết phá bỏ những “ổ mối”, cắt bỏ “cục bướu”, “khối u ác tính” trong các bộ máy không có bất cứ sự phát triển mong muốn nào. Vì, cái làm chìm con thuyền không phải nước ở đại dương mà là nước ở ngay trong chính con thuyền.
Phát triển các quy luật lãnh đạo, cầm quyền song hành kiến tạo đội ngũ chính trị gia - chiến lược gia - kỹ trị gia - doanh gia thật sự ngang tầm kỷ nguyên mới. Cần nắm chắc pháp luật để lãnh đạo, cầm quyền, bảo đảm song hành giữa đức trị và pháp trị, phát triển văn minh và đạo đức của Đảng. Tiên phong đổi mới thể chế bầu cử, bảo vệ liêm chính, trung tâm là thể chế kiểm soát quyền lực. Tôn trọng và giải quyết mọi nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của Nhân dân; ngăn chặn và trừng trị những gì làm tổn hại Nhân dân và chế độ. Nhân dân thật sự là chủ thể quản trị quốc gia bằng pháp luật, bằng cơ chế phù hợp trên nền đạo lý. Không có Nhân dân không thể thành công trong kỷ nguyên mới.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần tỏa rộng một chữ: Nhân!
Bản chất của các mối quan hệ quốc tế là trao đổi giá trị. Chúng ta phải tự mình hùng mạnh và lợi ích của đất nước là tối thượng. Để tích lũy nội lực phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế một cách tự chủ và sáng tạo với bản lĩnh độc lập mà thật uyển chuyển, linh hoạt, nhân văn, thủy chung trên nền lòng tin chiến lược và bảo đảm bằng thực lực đất nước; đồng thời, tôn trọng lợi ích của tất cả các quốc gia, dân tộc khác. Cầu thị, học tập, chủ động tiếp thu, thâu hóa những tinh hoa văn minh phải là trách nhiệm quốc gia vì và cho sự phát triển của thế giới cũng như nền văn minh nhân loại.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần giữ vững hai chữ: Hòa mục!
Bước vào kỷ nguyên mới, mỗi người nếu chưa thể làm những điều vĩ đại thì, dù là những việc nhỏ phải được làm bằng danh dự và trách nhiệm vĩ đại.
Trước thềm Xuân Ất Tỵ 2025, trên nền móng truyền thống dân tộc, sức mạnh đất nước 95 năm dưới ngọn cờ của Đảng, với tầm nhìn mới, nắm lấy thời cơ, hóa giải mọi nguy cơ, thách thức; hòa mục và hợp tác; tự tôn, tự trọng, tự giác, tự cường, đoàn kết và hành động, dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, nhìn tới 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước năm 2045.
Tất cả vì đất nước độc lập, Tổ quốc thống nhất, hùng cường và Nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc, vì phẩm giá, danh dự Việt Nam, nhịp bước cùng thời đại./.
Có thể là hình ảnh về đền thờ, cái bục và văn bản
Tất cả cảm xúc:
3