Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

 

NHẬN THỨC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ QUYỀN LỰC VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ”

 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”. Cơ chế này phản ánh và giải quyết các mối quan hệ cốt lõi của xã hội Việt Nam. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn:...; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.”[1].

Đây là một cơ chế, giải quyết ba mối quan hệ chính trị cơ bản nhất ở Việt Nam hiện nay, đó là quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhằm giải quyết những vấn đề bản chất nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Có thể nói đây là vấn đề của mọi vấn đề. Để cho cơ chế này hoạt động tốt, có hiệu quả, hiệu lực trong thực tiễn quản lý xã hội cần phải tạo ra động lực cho từng nhân tố và phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa ba nhân tố, vừa phải kiểm soát quyền lực trong từng nhân tố nói riêng và kiểm soát lẫn nhau trong tổng thể nói chung.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lực của Đảng là quyền lực chính trị, là quyền lực của một tổ chức chính trị “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”, là “Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Đảng thực thi quyền lực chính trị của các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội mà mình đại diện bằng cách tác động vào Nhà nước, để thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước, hiện thực hóa quyền, lợi ích và ý chí của lực lượng xã hội mà mình đại diện.

Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ các yếu tố khách quan và năng lực chủ quan, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là lực lượng lãnh đạo cách mạng. Đặc biệt, trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, chỉ có một đảng chính trị, nên Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có vai trò lãnh đạo, vừa có vai trò cầm quyền. Đảng một lúc phải thực thi hai loại quyền lực, quyền lực chính trị (lãnh đạo) và quyền lực nhà nước (cầm quyền).

Quyền lực lãnh đạo, có thể không chính thức, chỉ được thừa nhận bởi nhân dân, như trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền; cũng có thể chính thức, được chế định trong Hiến pháp. Nhưng dù chính thức hay không chính thức, đặc trưng của quyền lực lãnh đạo được thực thi bằng sự ảnh hưởng, sự hấp dẫn và tính tiên phong, gương mẫu của người lãnh đạo, nó không có bộ máy cưỡng chế để áp đặt ý chí của người lãnh đạo. Đảng lãnh đạo bằng tính tiên phong, bằng sự hấp dẫn của lý tưởng và giá trị mà Đảng theo đuổi, thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương, bằng sự vận động, thuyết phục quần chúng nhân dân qua những tấm gương chiến đấu hy sinh của đảng viên. Đảng phải thể hiện “là đạo đức, là văn minh”, là “không có mục đích nào khác, ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân”.

Kiểm soát quyền lực lãnh đạo của Đảng được chế định bởi Hiến pháp và bằng các phương thức khác nhau. 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 72 - 73

 

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay


Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn cơ bản quyết định nội dung, tính chất thời đại hiện nay, bởi sự vận động của mâu thuẫn này tác động tới những mâu thuẫn còn lại. Đây là mâu thuẫn giữa hai lực lượng chủ yếu, hai chế độ xã hội, giữa hai con đường, xu hướng phát triển đối lập nhau là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới. Nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nét mới của mâu thuẫn này là vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Sự hợp tác giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau không làm giảm mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đang tăng cường các hoạt động chống phá quyết liệt các nước xã hội chủ nghĩa bằng các âm mưu thủ đoạn xảo quyệt. “Diễn biến hoà bình” và chống “Diễn biến hoà bình” là nét nổi bật của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; đồng thời, hợp tác và đấu tranh là hai mặt không thể tách rời của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay. 

Nhận thức về thời đại hiện nay

 


Thời đại là một khái niệm khoa học phản ánh lịch sử xã hội qua các thời kỳ, để phân biệt những nấc thang phát triển của xã hội loài người. Tuỳ theo góc độ tiếp cận mà có cách phân chia thời đại xã hội khác nhau. Đến nay có một số cách phân chia thời đại đáng chú ý: nhà xã hội học Italia là Vicô (1668 - 1744), căn cứ vào sự khủng hoảng có tính chu kỳ của chủ nghĩa tư bản khi mới ra đời, đã phân chia thời đại lịch sử lặp đi lặp lại như một vòng đời của một con người: thơ ấu, thiếu niên, thanh niên và tuổi già. Nhà triết học Đức là Hêghen (1770 - 1831), căn cứ vào địa chính trị, địa kinh tế, lại phân chia lịch sử xã hội thành ba thời đại chủ yếu: Phương Đông, Cổ đại và Giéc man. Còn nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp là Saclơ Phuriê (1772 - 1837), căn cứ vào sự tiến bộ của lực lượng sản xuất và quan hệ người - người trong xã hội, đã phân chia lịch sử xã hội thành bốn thời đại: mông muội, dã man, gia trưởng và văn minh. Nhà nhân chủng học người Mỹ là Moócgăng (1818 - 1882), căn cứ vào tình trạng hôn nhân, phân chia lịch sử xã hội thành ba thời đại: mông muội, dã man và văn minh. Alvin Tôphlơ - nhà tương lai học Mỹ thế kỷ XX, căn cứ vào sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, lại phân chia lịch sử phát triển của nhân loại qua ba nền văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp…

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa những giá trị tư tưởng của những người đi trước để xem xét thời đại trên cơ sở khoa học, sát với sự vận động phát triển của xã hội loài người. Từ những luận điểm cơ bản: thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt những nấc thang phát triển của xã hội loài người. Lịch sử xã hội loài người chẳng qua là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của chính mình, nhưng không phải tuỳ tiện mà tuân theo những quy luật khách quan. Sự phát triển của lịch sử là do phương thức sản xuất quyết định, trong đó có cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Quá trình phát triển của lịch sử là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên. Từ đó, chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm: Thời đại là một thời kỳ lịch sử lâu dài, được đánh dấu bằng sự thay đổi về chất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó trọng tâm là sự thay thế của hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn. Sự ra đời của thời đại gắn với cách mạng xã hội và sự hình thành, phát triển của một hình thái kinh tế - xã hội mới, nhưng thời đại mới và hình thái kinh tế - xã hội mới không trùng khít với nhau, trong cùng thời đại có nhiều hình thái kinh tế - xã hội đan xen đấu tranh phủ định lẫn nhau. Như V.I.Lênin đã viết: “Vấn đề ở đây là những thời đại lịch sử quan trọng: trong mỗi thời đại đều có và sẽ còn có những phong trào cá biệt, cục bộ, khi tiến, khi lùi; đều có và sẽ còn có những thiên hướng khác nhau đi chệch ra khỏi phong trào chung và nhịp độ chung của phong trào”[1].

Các thời đại lịch sử khác nhau, không phải ở chỗ người ta làm ra cái gì mà ở chỗ người ta làm bằng cái gì, cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa phong kiến, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp.

 Như trên đã nghiên cứu, có rất nhiều quan niệm khác nhau về thời đại, xét đến cùng là do xuất phát từ cơ sở khách quan phân chia thời đại khác nhau. Do đó, việc thống nhất cơ sở khách quan phân chia thời có ý nghĩa vô cùng quan trọng để đi đến thống nhất nhận thức và quan điểm trong xem xét đánh giá nội dung, mâu thuẫn, tính chất của thời đại. Cơ sở khoa học phân chia thời đại lịch sử là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác xem xét khách quan, toàn diện thời đại lịch sử cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin không những luận giải đúng đắn xã hội đương đại, mà còn chỉ rõ xã hội đã qua và chiều hướng xã hội tương lai theo đúng quy luật vận động phát triển của xã hội loài người.

Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác còn chỉ ra vị trí trung tâm của một giai cấp trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Đây là một căn cứ quan trọng để hiểu đúng thời đại. Bất cứ một hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp nào cũng có một giai cấp đóng vai trò trung tâm, giữ vị trí chủ đạo chi phối sự vận động phát triển của thời đại. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Chúng ta không thể biết những phong trào lịch sử cá biệt của một thời đại nào đó sẽ phát triển nhanh chóng đến mức nào và sẽ đạt kết quả như thế nào. Nhưng chúng ta có thể biết và chúng ta biết giai cấp nào đứng ở trung tâm của thời đại này hay thời đại khác và xác định nội dung căn bản, phương hướng phát triển chính của thời đại ấy, những đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sử của thời đại ấy”[2]. Sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao không diễn ra tự phát, mà phải thông qua hoạt động của con người, hoạt động của giai cấp tiên tiến và quần chúng cách mạng. Giai cấp tiên tiến của thời đại phải là giai cấp đại diện cho xu hướng vận động tất yếu của xã hội, có khả năng lãnh đạo, tập hợp nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng chế độ mới tiến bộ hơn. Lịch sử đã ghi nhận những giai cấp tiên tiến là giai cấp quý tộc phong kiến trong xã hội phong kiến, trong thời đại tư bản chủ nghĩa “giai cấp tư sản là giai cấp chủ yếu, ... và là giai cấp duy nhất có một sức mạnh áp đảo đấu tranh chống lại những thiết chế phong kiến và chuyên chế”.

Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã bộc lộ bản chất bóc lột, tàn bạo không còn giữ vai trò quyết định xu hướng phát triển xã hội nữa; đã xuất hiện những điều kiện khách quan cho việc xoá bỏ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa để thiết lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Giai cấp vô sản - “con đẻ” của nền công nghiệp hiện đại, mang đầy đủ những phẩm chất tiên tiến, cách mạng, đại biểu cho một hình thái kinh tế - xã hội mới; là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Trong mỗi thời đại lịch sử lại được phân chia thành nhiều thời kỳ (hay giai đoạn) khác nhau. Mỗi thời kỳ (hay giai đoạn) vừa mang đặc điểm chung của thời đại, vừa mang những đặc trưng cụ thể của từng thời kỳ lịch sử. Việc phân chia thời đại lịch sử thành nhiều thời kỳ hay nhiều giai đoạn là rất cần thiết để nhận thức đầy đủ hơn về thời đại. Điều đó có thể khắc phục được sai lầm là lấy đặc điểm, diễn biến của một thời kỳ hay một giai đoạn cụ thể nào đó làm đặc trưng cho cả một thời đại lịch sử dài và đưa ra những kết luận về tương lai quá sớm trên cơ sở những dự báo chưa đầy đủ; hoặc chỉ thấy đặc điểm chung của thời đại mà không thấy tính đa dạng, phong phú và phức tạp của từng thời kỳ lịch sử cụ thể trong thời đại.

Như vậy, hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở khách quan khoa học để xác định thời đại, là nội dung cấu thành thời đại. Nhưng hình thái kinh tế - xã hội không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với thời đại về mặt thời gian. Hình thái kinh tế - xã hội là khái niệm chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên quan hệ sản xuất ấy. Còn thời đại là một khái niệm chỉ thời kỳ lịch sử dài, diễn ra sự tồn tại và chuyển biến của các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau từ thấp đến cao, trong đó hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ bắt đầu ngự trị, cho dù vẫn còn tồn tại các hình thái kinh tế - xã hội thấp hơn. Như thời đại hiện nay đã xuất hiện hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn thấp là xã hội chủ nghĩa), nhưng vẫn tồn tại hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa và các tàn dư của các hình thái kinh tế - xã hội lạc hậu. Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế giới, được mở đầu bằng sự thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 và kết thúc khi xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là dấu son đánh dấu bắt đầu một thời đại mới. Nó báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thời đại hiện nay phản ánh xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người lên một nấc thang cao hơn - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mặc dù ở nhiều nước vẫn còn tồn tại chế độ kinh tế xã hội tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa; trong đó, giai cấp công nhân giữ vai trò trung tâm của lịch sử. Đúng như V.I.Lênin đã viết, Cách mạng Tháng Mười “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đều đang tiến tới một cuộc đời mới[3].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi lịch sử cả dân tộc, tạo nên một thời đại mới, thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và sụp đổ của chủ nghĩa tư bản[4].

 Như vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga đã hiện thực hoá lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học. Nó mở ra thời kỳ đấu tranh mạnh mẽ xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, thiết lập và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, đồng thời thúc đẩy các cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong cuộc đấu tranh này, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, các nước xã hội chủ nghĩa đóng vai trò nòng cốt.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 174.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 174.

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 184.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 179.

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả hệ thống các chính sách đối với các chủ thể trong khối liên minh

 


Thực hiện tốt chính sách giai cấp, chính sách xã hội, vừa tạo ra động lực trực tiếp thúc đẩy công nhân, nông dân, trí thức hăng hái, sáng tạo, vươn lên trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, vừa là nhân tố làm thay đổi cơ cấu xã hội giai cấp theo hướng tăng cường củng cố khối liên minh.

 Đi vi giai cấp công nhân, quan tâm giáo dc, đào tạo, bi dưng phát trin cả v s lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình đ học vấn, chuyên môn, kỹ năng ngh nghip, tác phong công nghiêp, kỷ lut lao đng; bảo đảm vic làm, nâng cao thu nhp, cải thin điu kin làm vic, nhà ở, các công trình phúc lợi phc v công nhân; sa đi b sung các chính sách, pháp lut v tin lương, bảo him xã hi, bảo him y tế, bảo him thất nghip,… đ bảo v quyn lợi, nâng cao đi sng vt chất và tinh thần ca công nhân.  

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”[1].

Đối với giai cấp nông dân, xây dựng và phát huy vai trò chủ thể của họ trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ cơ bản về điện, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin…, cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả và bền vững công cuộc xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp.

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn”[2]. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết 19-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã xác định những yêu cầu về năng lực, phẩm chất của nông dân trong giai đoạn hiện nay như: “có tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự chủ, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng quê hương, đất nước; có trình độ tổ chức sản xuất tiên tiến, nếp sống văn minh, trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường”[3]. Đây là những phẩm chất, giá trị con người Việt Nam hiện nay thể hiện rõ nội hàm khái niệm “nông dân văn minh”.

Đối với đội ngũ trí thức, “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học”[4]. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo; trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng những cống hiến của trí thức; gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với trí thức và ngược lại.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 94.

 

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 167.

Liên minh về quốc phòng, an ninh trong liên minh giai cấp, tầng lớp đi lên chủ nghĩa xã hội

 


Là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, bảo đảm ổn định chính trị, giữ vững những thành quả sự nghiệp đổi mới. Liên minh trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh không chỉ đáp ứng yêu cầu của công nhân, nông dân và trí thức được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, mà còn đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, nó còn nhằm xây dựng tiềm lực quốc phòng hùng hậu, cả nguồn lực con người, cả cơ sở vật chất và trang bị vũ khí kỹ thuật, cả việc hoạch định các chiến lược quốc phòng, an ninh và phát triển khoa học kỹ thuật, nghệ thuật quân sự.

Nội dung liên minh trong thực hiện quốc phòng, an ninh được thể hiện ở việc giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau xây dựng“thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn, đầy lùi từ sớm, từ xa những nhân tố bất ổn; tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ trong tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt cho sự nghiệp toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Liên minh về văn hóa - xã hội trong liên minh giai cấp, tầng lớp đi lên chủ nghĩa xã hội

 


Là nội dung quan trọng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, đây cũng là nội dung thể hiện bản chất, tính ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Liên minh về văn hóa - xã hội sẽ bảo đảm thực hiện lợi ích cho tất cả các giai tầng trên thực tế; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái; đổi mới và thực hiện tốt các chính sách xã hội, an sinh xã hội đối với các đối tượng chính sách; xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm; phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; khắc phục các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu, ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực; gắn quy hoạch phát triển công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn với khoa học công nghệ và kết cấu hạ tầng.

Trong tình hình hiện nay, liên minh về văn hóa - xã hội giữa công nhân, nông dân và trí thức còn biểu hiện ở việc đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, phản động, lạc hậu, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.

Hoàn cảnh lịch sử Sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học từ năm 1945 đến năm 1991

 


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa dẫn đến hình thành và tồn tại trật tự thế giới hai cực; diễn ra Chiến tranh lạnhđối đầu giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa. Đối với chủ nghĩa tư bản, do hậu quả trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa bị thu hẹp, sự phát triển của phong trào công nhân nên nh hưởng trên thế giới bị thu hẹp. Các nước tư bản, đứng đầu là đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến lược toàn cầu phản cách mạng chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới, gây ra hàng trăm cuộc chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới; đẩy mạnh chạy đua vũ trang; thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm chống phá, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực và ngăn chặn phong trào cách mạng trên thế giới.

Sau năm 1945, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn phát triển mạnh. Chủ nghĩa xã hội hiện thực từ một nước phát triển ra nhiều nước, trở thành hệ thống thế giới; phong trào giải phóng dân tộc; phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển. Chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống thế giới và giành được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội là một dòng thác cách mạng của thời đại, là chỗ dựa vật chất, tinh thần của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa, là thành trì bảo vệ hòa bình thế giới. Trong quá trình xây dựng, phát triển của mình, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện tình trạng trì trệ và dần lâm vào khủng hoảng kinh tế, chính trị - xã hội.

Cũng trong giai đoạn này, các đảng cộng sản, công nhân tổ chức nhiều hội nghị quốc tế. Nổi bật là, Hội nghị thông tin của các đại biểu một số đảng cộng sản (chủ yếu là châu Âu), gọi tắt là Cục Thông tin quốc tế (Cục Thông tin cộng sản); Hội nghị quốc tế các đảng cộng sản và công nhân quốc tế trong các năm 1957, 1960, 1969; các hội nghị ban bí thư, ban tổ chức, ban tuyên huấn định kỳ và bất thường của các đảng, góp phần bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trên nhiều nội dung.

Bên cạnh những thành tựu, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn này cũng có hạn chế nhất định. Từ đầu thập kỷ 60, phong trào cộng sản thế giới bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt, nghiêm trọng nhất là giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tới cuối thập kỷ 70 và thập kỷ 80 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có dấu hiệu đi xuống, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa có biểu hiện rõ của trì trệ và khủng hoảng, trì trệ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Pphong trào cộng sản quốc tế bước vào thời kỳ khủng hoảng và thóai trào.

Cùng với đó, trong giai đoạn này, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật có sự phát triển. Trong bối cảnh mới, chủ nghĩa tư bản đã tận dụng những thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại để kéo dài sự thích nghi, tồn tại của mình và chống các nước xã hội chủ nghĩa.

Về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội trong riêng một nước

 


 Sau khi V.I.Lênin mất (1924), từ năm đầu năm 1924 đến tháng 12 năm 1927 trong nội bộ Đảng Cộng sản Nga (sau này là Đảng Cộng sản toàn Liên bang - Đại hội XIV năm 1925) có một cuộc tranh luận về vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước. Trong các cuộc tranh luận này, I.V.Xtalin đã trình bày và phát triển sâu sắc lý luận của V.I.Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở riêng một nước, những nội dung này được thể hiện ở một số tác phẩm cơ bản: “Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin”, “Chủ nghĩa Tơrốtkit hay là chủ nghĩa Lênin”, “Cách mạng tháng Mười và sách lược của những người cộng sản Nga”, “Về những vấn đề của chủ nghĩa Lênin”, “Về thiên hướng xã hội - dân chủ trong đảng ta”, “Lại bàn về thiên hướng xã hội - dân chủ trong đảng chúng tôi.

 Sau khi V.I.Lênin mất, ở Liên Xô diễn ra nhiều cuộc thảo luận xung quanh nội dung thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và tâp thể hóa nông nghiệp. Từ giữa những năm 20 của thế kỷ XX đến năm 1945, I.V.Xtalin đưa ra một loạt tư tưởng lý luận về công nghiệp hóa, tập thể hóa nông nghiệp, cải cách thế chế chính trị và xây dựng văn hóa tinh thần, từ đó dần hình thành lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội Xô viết. Bên cạnh những đóng góp mới, lý luận này có nội dung còn hạn chế, thể hiện sự sao chép giáo điều quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin; trong đảng nhấn mạnh tập trung thống nhất một chiều; về kinh tế chỉ tồn tại hai hình thức toàn dân và tập thể của chế độ công hữu, chủ nghĩa xã hội không bảo lưu thị trường hàng hóa.

Trong quá trình xây dựng lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, năm 1938, Đảng Cộng sản Liên Xô công bố “Giáo trình sơ giản lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô” đã làm phong phú lý luận chủ nghĩa xã hội - hình thành nên lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội và được hiện thực hóa thành mô hình Xô viết với vai trò đóng góp nổi bật của I.Xtalin. Sau khi xuất bản cuốn Giáo trình này, các đảng cộng sản ở các nước đều ra nghị quyết về tuyên truyền, truyền bá, nghiên cứu, coi đây là sự kiện quan trọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lúc bấy giờ, một bước ngoặt trong truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào quần chúng. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân trong đó có yếu tố sùng bái cá nhân, đề cao I.V.Xtalin nên cuốn Giáo trình trên chưa phản ánh thật khách quan, toàn diện, đúng đắn về Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung ương Đảng và vai trò của V.I.Lênin.

Trong giai đoạn này, ở Liên Xô và trong các đảng cộng sản đã có hoạt động đấu tranh tư tưởng. Nổi bật ở trong hoạt động này là việc chống những trào lưu tư tưởng phục hồi của giai cấp địa chủ, tư sản và những tư tưởng sai lầm xoay quanh vấn đề có tính nguyên tắc quan trọng như cuộc tranh luận về văn hóa vô sản, tranh luận giữa phái Đêbôrin với phải “cơ giới luận”, nhất là tranh luận về chủ nghĩa Lênin. Đến năm 1927, I.V.Xtalin được coi là người giải thích và phát triển chính thống và duy nhất đúng đắn chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chiếm lĩnh trận địa văn hóa - tư tưởng ở Liên Xô. Đại hội V Quốc tế Cộng sản, lần đầu tiên thuật ngữ chủ nghĩa Mác - Lênin được sử dụng chính thức, nói lên đầy đủ tầm quan trọng của chủ nghĩa Lênin trong hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học.

Lý luận về chuyên chính vô sản

 


Tư tưởng về chuyên chính vô sản được C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung nhiều vấn đề mới. Trong giai đoạn trước, hai ông chưa nêu thuật ngữ chuyên chính vô sản. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, tư tưởng về chuyên chính vô sản đã được đề cập, nhưng mới chỉ dừng lại ở quan điểm: “tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”[1]. Đến giai đoạn này, lần đầu tiên C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên thuật ngữ chuyên chính vô sản, luận giải tính tất yếu, tính quá độ lịch sử của chuyên chính vô sản. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư tưởng của hai ông về chuyên chính vô sản.

Tổng kết cách mạng 1848 - 1849, trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”, tư tưởng về chuyên chính vô sản có sự phát triển. Ở tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra các thuật ngữ: “chuyên chính của giai cấp công nhân”, “Chuyên chính của những người bạn đồng minh của nông dân”, “chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản”. Cùng với đó, C.Mác và Ph. Ăngghen còn bổ sung, phát triển lý luận về cách mạng không ngừng, cách mạng vô sản trên những nội dung chính trị, kinh tế và những biện pháp kinh tế - xã hội sẽ tạo ra những biến đổi căn bản trong các quan hệ xã hội gắn với thời kỳ chuyển biến lên chủ nghĩa cộng sản. Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 -1850”, hai ông chỉ rõ, việc cải thiện hết sức nhỏ trong phạm vi nền cộng hòa tư sản là không tưởng, do vậy, khẩu hiệu đấu tranh của công nhân phải là “lật đổ giai cấp tư sản, chuyên chính của giai cấp công nhân”[2]. Quan niệm về chuyên chinh vô sản giai đoạn này đã rõ ràng và chính xác hơn so với tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”.

Đến năm 1852, tư tưởng về chuyên chính vô sản được bổ sung thêm nhiều nội dung mới. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chuyên chính vô sản là bước quá độ tất yếu để đi đến xã hội không có giai cấp; chuyên chính là giai cấp vô sản phải nắm lấy bộ máy nhà nước, đồng thời đại biểu cho lợi ích của nông dân. Trong “Thư gửi Vâyđơmaie đề ngày 05 tháng 3 năm 1852”, C.Mác đã khái quát rõ hơn quan niệm, tính tất yếu, bản chất, quá độ lịch sử của chuyên chính vô sản. C.Mác khẳng định: “Cái mới tôi đã làm là chứng minh rằng: Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ để tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không có giai cấp”[3].

C.Mác và Ph.Ăngghen nêu rõ hơn tư tưởng về nhiệm vụ chuyên chính vô sản, vạch ra phương hướng cho phong trào công nhân thế giới. Theo đó, nhiệm vụ của chuyên chính vô sản được hai ông xác định là: “Xóa bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xóa bỏ tất cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở cho những sự khác biệt ấy, và xóa bỏ tất cả những quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, đồng thời cũng cải biến tất cả tư tưởng nảy sinh từ những quan hệ sản xuất đó”[4]. Nhiệm vụ của chuyên chính vô sản đã thể hiện rõ tính chất triệt để của cuộc cách mạng vô sản. Những tư tưởng về chuyên chính vô sản của C.Mác và Ph.Ăngghen, giai đoạn này đã tiến một bước dài so với “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Những quan điểm về chuyên chính vô sản được C.Mác và Ph.Ăngghen rút ra giai đoạn này là điểm căn bản trong học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước, thể hiện rõ một trong những tư tưởng đặc sắc nhất và trọng yếu nhất của chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước.

Tư tưởng về đập tan nhà nước tư sản là một trong những đóng góp quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này. Từ tổng kết thực tiễn các cuộc cách mạng giai đoạn này, lần đầu tiên, hai ông nêu luận điểm cách mạng vô sản phải đập tan bộ máy nhà nước cũ của giai cấp tư sản. Theo C.Mác và Ph.Ăng ghen đã chỉ rõ thái độ của giai cấp công nhân đối với nhà nước tư sản là phải “đập tan” nó, chứ không thể sử dụng bộ máy bóc lột vào những lợi ích kinh tế - xã hội và chính trị của mình được, mà phải xây dựng bộ máy nhà nước của riêng mình. Trong tác phẩm “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapactơ”, C.Mác phát triển lý luận về quan hệ cách mạng vô sản đối với bộ máy nhà nước tư sản trong đấu tranh giai cấp ở Pháp, lần đầu tiên ông rút ra kết luận phải đập tan nhà nước tư sản, góp phần làm phong phú và phát triển học thuyết mác xít về nhà nước. Ở đây, vấn đề nhà nước nêu ra một cách cụ thể và kết luận rút ra hết sức chính xác, dứt khóat về mặt thực tiễn: tất cả các cuộc cách mạng trước đây đều chỉ làm cho bộ máy nhà nước thêm hoàn bị, nhiều điều cần làm là phải phá hủy, phải đập tan nó đi. Ông khẳng định: “Tất cả các cuộc cách mạng đã hoàn bị bộ máy đó chứ không đập tan nó, các chính đảng nối gót nhau đấu tranh giành chính quyền đều coi việc đoạt lấy toà lâu đài nhà nước đồ sộ ấy là chiến lợi phẩm chủ yếu của thắng lợi của mình”[5]. V.I.Lênin sau này đã nhận xét: “Kết luận án là cái chính, cái căn bản trong học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước”[6]. Tuy nhiên, V.I. Lênin cũng nhận xét rằng lấy cái gì để thay thế cho bộ máy nhà nước tư sản đã bị đập tan thì vào năm 1852, C. Mác chưa có kinh nghiệm lịch sử cung cấp tài liệu để giải đáp vấn đề đó. Tư tưởng về “đập tan” cũng chưa được C.Mác và Ph.Ăngghen cụ thể hóa rõ ràng, chưa chỉ rõ yếu tố nào của bộ máy nhà nước phải phá huỷ (đập tan) và những yếu tố nào, bộ phận nào có thể được sử dụng tiếp. Lời giải đáp đó chỉ có thể đến Công xã Pari mới được giải đáp chính xác.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 1995, tr.615.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850” (1850), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 1993, tr.48.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 28, “Mác gửi Vâyđơmaiơ 5 tháng 3 1852” (1852), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996, tr.662

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850” (1850), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 1993, tr. 126

[5] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 8, “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bôn na pác tơ” (1852), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.236.

[6] V.I.Lênin toàn tập, Tập 33, “Nhà nước và cách mạng” (1917), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.35.