Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Quản lý xã hội là quy luật tồn tại và phát triển của mọi chế đội xã hội

 


Quản lý là một chức năng bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội. Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân tạo thành sức mạnh tập thể nhằm hướng tới những mục tiêu chung. Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất từ cộng sản nguyên thuỷ đến nền văn minh hiện đại, trong đó, quản lý xã hội luôn là một thuộc tính tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển.

Chính C.Mác đã nói về tính tất yếu của quản lý xã hội: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Các chức năng chỉ đạo, giám sát và điều hòa ấy trở thành những chức năng của tư bản, khi lao động phụ thuộc vào tư bản đó trở thành lao động hiệp tác[1]. Thuộc tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội là hoạt động lao động tập thể - lao động xã hội của con người.

Trong quá trình lao động, con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phân công và hợp tác trong lao động, tức là phải có sự quản lý. Như vậy, quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác, một mặt, để tiến hành công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra, mặt khác, nhằm điều chỉnh các hành vi quan hệ xã hội giữa người với người.

Quản lý là một thuộc tính tất yếu gắn liền với xã hội, nhưng chỉ khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý mới được tách ra thành một hoạt động riêng biệt. Do chức năng của hoạt động quản lý xã hội mà dần dần hình thành những tập thể, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý - hệ thống quản lý (chủ thể quản lý). Xã hội càng phát triển về trình độ và quy mô sản xuất, về văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghệ thì trình độ quản lý, tổ chức, điều hành và công nghệ quản lý càng được nâng lên và phát triển không ngừng. Quản lý xã hội là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp, vừa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, sự suy thoái hay thịnh vượng của một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là toàn cầu. Quản lý tốt thì xã hội phát triển, ngược lại, nếu buông lỏng quản lý hay quản lý yếu kém thì sẽ dẫn tới sự rối loạn, kìm hãm sự phát triển xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 480.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó.

Thời kỳ quá độ vừa thoát thai và còn mang nặng những “dấu vết”, “tàn dư” của xã hội cũ, những yếu tố, tiền đề của xã hội mới xuất hiện chưa đầy đủ, thậm chí chưa xuất hiện; nên đó là thời kỳ lâu dài, khó khăn, gian khổ, phức tạp; khó xác định được về thời gian.

Về hình thức quá độ, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: có quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp. Quá độ trực tiếp là những nước từ chủ nghĩa tư bản phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá độ gián tiếp, là những nước từ xã hội tiền tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, những nước thực hiện quá độ gián tiếp sẽ khó khăn, phức tạp và lâu dài hơn, nên thời kỳ quá độ cần phải được chia thành nhiều bước quá độ nhỏ.

Từ mục tiêu, yêu cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.


Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc, triệt để và toàn diện nhất trong lịch sử với mục tiêu cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột xây dựng xã hội mới không còn sự phân chia giai cấp. Để thực hiện được mục tiêu đó, giai cấp công nhân không những phải phát huy vai trò là một giai cấp trung tâm, mà còn phải giành được sự đồng tâm, hiệp lực của nông dân và trí thức, tạo thành sức mạnh tổng hợp vật chất và tinh thần cho cách mạng.

Trong giai đoạn giành chính quyền, đây là giai đoạn vô cùng khó khăn đòi hỏi phải có lực lượng cách mạng to lớn để lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản. Điều đó đã đặt yêu cầu khách quan đòi hỏi giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội trí thức phải dựa vào nhau, liên minh với nhau nhằm lật đổ giai cấp thống trị, xóa bỏ áp bức, bóc lột để giải phóng cho mình và toàn xã hội. Tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở châu Âu năm 1848 - 1849, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã bị thất bại, tổn thất, chủ yếu là do đã không tổ chức liên minh với “người bạn đồng minh tự nhiên” của mình là nông dân. Do vậy, các cuộc cuộc cách mạng vô sản đã trở thành những “bài đơn ca ai điếu”. Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì giai cấp nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”1. Mặt khác, mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tự nó đã là ngọn cờ tập hợp hết thảy những người lao khổ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đứng lên đánh đổ giai cấp tư sản, giành lấy tự do, dân chủ. Do đó, giai cấp công nhân đã tìm thấy “những người bạn đồng minh tự nhiên” trong cuộc đấu tranh gian khổ này.

Trong giai đoạn xây dựng, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa - giai đoạn quan trọng nhất, quyết định thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn này, cách mạng còn trải qua nhiều khó khăn, gian khổ mới đạt được mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Một sự nghiệp vĩ đại như vậy, tất yếu đòi hỏi phải có sự liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Với vai trò của trí thức trong liên minh, để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin, khi sản xuất càng hiện đại, chủ nghĩa xã hội càng phát triển, thì chính công nông và trí thức càng cần phải gắn bó hơn với nhau và từ đó là cơ sở vững chắc để xây dựng chế độ chính trị - xã hội chủ nghĩa nghĩa tốt đẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lao động trí óc có vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí, cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối”1.



1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 392.

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 376. 

Bản chất của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa

 


Bản chất của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là nhân dân làm chủ quá trình quản lý dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực của nhà nước đều thuộc về nhân dân trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Bản chất quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở tính khoa học; tính dân chủ; tính cách mạng và nhân đạo.

Tính khoa học. Trên cơ sở nhận thức đúng quy luật khách quan của xã hội, tác động đúng hướng, tạo nên sự phát triển kết hợp giữa tịnh tiến và nhảy vọt theo phương pháp rút ngắn lịch sử, đề phòng sự nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn. Do vậy, trong việc hoạch định các quyết định quản lý đòi hỏi các chủ thể quản lý phải xuất phát từ những điều kiện khách quan, lịch sử, cụ thể, vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, phát hiện những xu hướng vận động, biến đổi, phát triển tiến bộ của xã hội, những mâu thuẫn của sự phát triển xã hội và phương thức giải quyết, bảo đảm sự thống nhất về chức năng, cơ cấu của hệ thống xã hội: “Muốn quản lý phải là người thông thạo chuyên môn, phải biết một cách đầy đủ và chính xác tất cả những điều kiện của sản xuất, phải hiểu được kỹ thuật của nền sản xuất đó ở trình độ hiện đại của nó, phải có một trình độ khoa học nhất định”[1]. Đồng thời, kế thừa và phát huy những thành tựu, kinh nghiệm của chủ nghĩa tư bản trong quản lý xã hội nhằm đạt hiệu quả tối ưu; sử dụng tổng hợp các phương thức quản lý, từ quản lý nhà nước đến tự quản lý của cộng đồng xã hội, phát huy giá trị, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tạo sức mạnh thúc đẩy xã hội phát triển.

Tính dân chủ. Đây là thuộc tính tốt đẹp phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, dưới chủ nghĩa xã hội, mọi quyền lực của nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân vừa là chủ thể quản lý cao nhất, vừa là đối tượng của quản lý. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách và quyết định của đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, bảo đảm mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tính dân chủ trong quản lý xã hội đòi hỏi nhà nước phải tạo cơ chế, môi trường thuận lợi để nhân dân tham gia vào công việc quản lý của nhà nước. Tính dân chủ trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa còn được biểu hiện ở chính cấu trúc của hệ thống quản lý theo một hệ thống mở, bao gồm đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp,... và một cơ chế quản lý linh hoạt, bao gồm cả quản lý hành chính công và tự quản lý của nhân dân.

Tính cách mạng và nhân đạo. Đây là cuộc cách mạng to lớn nhằm từng bước xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng chế độ xã hội mới có nền kinh tế phát triển cao, chính trị - xã hội ổn định, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến cách mạng do con người, vì con người và tạo điều kiện, cơ hội cho con người phát triển. Nó khác hẳn về chất so với quản lý xã hội ở các chế độ trước - quản lý xã hội để duy trì địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền, tiến hành bóc lột về kinh tế, áp bức về tinh thần đối với nhân dân lao động. Đó là quá trình cải tạo thế giới khách quan, tạo ra thiên nhiên thứ hai - nhân tính và thông qua đó cải tạo chính bản thân con người. Hệ thống quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là một hệ thống mở, hết sức năng động để phát huy vai trò của hệ thống quyền lực chính trị, thu hút mọi tầng lớp xã hội vào công việc quản lý xã hội vì mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Như vậy, bản chất quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là ưu việt; tuy nhiên, do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chi phối, những biểu hiện nội dung bản chất ưu việt của quản lý xã hội từng bước được thể hiện, bồi đắp và tùy thuộc vào trình độ, năng lực, tính sáng tạo của các chủ thể quản lý.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 248.

Cơ sở phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, ra đời phát triển, phân kỳ thành các thời kỳ và giai đoạn khác nhau, đó là quy luật chung, quy luật tự thân của mọi hình thái kinh tế - xã hội; tức là đều có sự ra đời, củng cố và phát triển...

Sự phân kỳ của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trước hết do sự phát triển của lực lượng sản xuất; bởi lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất, kỹ thuật, là yếu tố suy đến cùng quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội. Lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ khác nhau đưa đến sự ra đời các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, như C.Mác đã chỉ rõ: “Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”1.

Không những thế, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa khác về chất so với các hình thái kinh tế - xã hội trước đó: phương thức sản xuất tiến bộ, các yếu tố tiến bộ của kiến trúc thượng tầng không có sẵn, chỉ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền mới bắt tay vào xây dựng, vì thế phải có thời gian, có mục tiêu cụ thể của từng thời kỳ, từng giai đoạn để đạt mục tiêu cuối cùng.

Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” viết năm 1875, lần đầu tiên C.Mác trình bày rõ sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp (hay còn gọi là giai đoạn đầu) và giai đoạn cao, sau này gọi là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản (hay xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa). Và giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ quá độ chính trị từ xã hội nọ sang xã hội kia. Trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước, trên cơ sở diễn đạt tư tưởng của C.Mác, khi xác định các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và vị trí của thời kỳ quá độ trong quá trình hình thành và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, V.I.Lênin viết:

“I. Những cơn đau đẻ kéo dài.

II. Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

III. Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa.”1

Theo V.I.Lênin, sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa gồm một thời kỳ (thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn (chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chỉ rõ thời kỳ quá độ nằm trong giai đoạn đầu và bao gồm nhiều bước quá độ nhỏ.

Tựu chung lại, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa hình thành và phát triển qua một thời kỳ - thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hai giai đoạn (giai đoạn thấp hay giai đoạn đầu - chủ nghĩa xã hội hay xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản hay xã hội cộng sản chủ nghĩa). Thực tiễn các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua thời kỳ quá độ - chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản. Trong đó thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ khó khăn, phức tạp, lâu dài, không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn. Hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam đều đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 187.

1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 223.

Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

 


Trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta nhấn mạnh phương hướng, nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: “Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.


Xây dựng Nhà nước pháp quyền là phục vụ cho yêu cầu bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật, hạn chế sự tùy tiện của nhà nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phát huy chủ quyền nhân dân và kiến tạo phát triển xã hội. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải luôn bảo đảm do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật. Để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cần tập trung vào những nội dung: hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam và cơ chế thực hiện pháp luật hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc “thượng tôn” Hiến pháp và pháp luật; tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước khoa học, an toàn, hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo hướng thực chất, đạt hiệu quả cao; hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các thiết chế nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phân công chức năng, nhiệm vụ và phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa các cấp quản lý; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vừa “hồng”, vừa “chuyên”; đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 


Những thành quả của sự nghiệp cách mạng hơn 90 năm qua đã khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Để tiếp tục đảm đương được vai trò lãnh đạo trong giai đoạn mới, Đảng ta phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn; nâng tầm bản lĩnh và trí tuệ, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Từ thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua, Đại hội XIII của Đảng thống nhất các quan điểm chỉ đạo để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong đó nhấn mạnh: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Dân chủ trong lĩnh vực của đời sống xã hội


Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, là điều kiện quyết định nhất để thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực khác. Hạt nhân của dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là bảo đảm lợi ích của người lao động, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Nội dung căn bản của dân chủ trong lĩnh vực kinh tế thời kỳ quá độ là phát triển kinh tế hàng hoá với cơ cấu nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo sự phát triển năng động và sáng tạo của con người vì chính cuộc sống của mỗi người và toàn bộ cộng đồng. Sự phát triển dân chủ trong lĩnh vực kinh tế cần hướng vào việc thể chế hoá quyền sở hữu của các thành phần kinh tế, làm cho nhân dân lao động yên tâm đầu tư và hăng hái sản xuất, kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, phân phối và làm nghĩa vụ đối với nhà nước.

Dân chủ trong lĩnh vực chính trị, được thể hiện ở việc đảm bảo quyền công dân trong lĩnh vực chính trị như bầu cử, ứng cử, lựa chọn và bãi miễn các đại biểu trong cơ quan dân cử và cán bộ do cơ quan dân cử bầu; quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước; quyền được tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào đường lối, chủ trương, chính sách, những quyết định quan trọng của đất nước (bao gồm cả việc trưng cầu ý kiến nhân dân và việc nhân dân trực tiếp bỏ phiếu quyết định các vấn đề sống còn của đất nước); quyền tham gia xây dựng luật pháp và đòi hỏi nhà nước quản lý điều hành đúng pháp luật; quyền bảo vệ chế độ chính trị, xã hội, bảo vệ hệ thống quyền lực của nhân dân, chống lại mọi hành động phá hoại của các thế lực thù địch.

Dân chủ trong lĩnh vực xã hội, được thể hiện trước hết ở việc đảm bảo cho mọi người có việc làm phù hợp với khả năng của mình; quyền được hưởng thụ quỹ phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng; quyền được học tập nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp; quyền được chăm lo bảo vệ sức khỏe, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí; quyền bình đảng về nghĩa vụ và quyền lợi, về cống hiến và hưởng thụ của các thành viên trong xã hội.

Dân chủ trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, được thể hiện ở quyền được tham gia sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá tinh thần của các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính; quyền được thông tin; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do phê bình chất vấn của nhân dân; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo của các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ vì lợi ích của nhân dân lao động và vì tiến bộ xã hội. Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa còn thể hiện ở việc giải phóng con người khỏi những thiên kiến lạc hậu, loại bỏ mọi sự áp bức về tinh thần và đưa văn hóa đến cho mọi người. 

Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một thể chế chính trị để bảo đảm và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa.Bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện trước hết là quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đời sống xã hội thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp, thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước “đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội”.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là chế độ dân chủ thực sự, không phải là dân chủ hình thức, cực đoan, vô chính phủ. Nó đối lập với chuyên quyền độc đoán, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, quan liêu. Nói một cách khác, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là chế độ dân chủ thấm nhuần đầy đủ và sâu sắc nhất tính pháp lý và tính nhân văn. Dân chủ trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi quan hệ chính trị - xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao quát mọi góc độ trong sự tồn tại của con người, tạo ra ngày càng đầy đủ những điều kiện giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người.

Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.


Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp lên cao qua hai giai đoạn, giai đoạn thấp và giai đoạn cao. Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. V.I.Lênin cho rằng: “Về lý luận không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”1.

Xã hội trong thời kỳ quá độ là một xã hội vừa thoát thai từ chủ nghĩa tư bản, còn mang nặng những “dấu vết” của xã hội cũ mà nó vừa lọt lòng. Những “dấu vết” đó chỉ mất đi thông qua hoạt động tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Để đảm bảo những tiền đề vật chất, văn hoá và tinh thần cần thiết cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, thì sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành chủ thể cầm quyền, phải trải qua một quá trình “cải biến cách mạng” sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là quá trình tổ chức, xây dựng và đấu tranh để từng bước cải tạo các quan hệ kinh tế - xã hội cũ, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới tương ứng, hình thành và phát triển một cơ cấu xã hội tiến bộ, đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh nhằm giải phóng triệt để con người.

Trong điều kiện lịch sử mới được hình thành sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, về hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã nêu ra hai hình thức quá độ: quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp. Theo V.I.Lênin, chỉ ở các nước tư bản phát triển cao, giai cấp công nhân đã trưởng thành mới có đủ những tiền đề kinh tế, xã hội cho sự quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Trái lại, các nước lạc hậu, các nước tiền tư bản chỉ có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ gián tiếp. Đối với những nước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải trải qua nhiều bước trung gian, quá độ mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội “chúng ta phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển từ những quan hệ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội”1.

Thực tiễn Liên Xô và các nước đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã chứng minh tính tất yếu cũng như tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp của thời kỳ quá độ. Với Việt Nam, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước bước vào thời kỳ quá độ với nhiệm vụ, tính chất vô cùng khó khăn, phức tạp. Đến nay, mặc dù đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, song Đảng xác định chúng ta vẫn đang ở chặng đường đầu của thời kỳ quá độ.



1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 309.

1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 43, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 274. 

Cơ sở thực tiễn ra đời hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa

 


Thực tiễn lịch sử cho thấy, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi, Nhà nước Xô viết ra đời, đánh dấu sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Noi gương giai cấp công nhân Nga, giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở nhiều nước đã đứng lên đấu tranh, giành thắng lợi, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quá trình xây dựng, các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực đã góp phần khẳng định tính tất yếu sự ra đời và chứng minh tính ưu việt của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ. Đây là tổn thất to lớn của chủ nghĩa xã hội. Tuy chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng, đang lâm vào khó khăn, thử thách to lớn nhưng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, khẳng định tính tất yếu, cũng như triển vọng của chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay chủ nghĩa tư bản đang cố gắng "tự điều chỉnh", thích nghi và sử dụng triệt để những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại nên đã đạt được những thành tựu nhất định. Những thành tựu đó nói lên rằng chủ nghĩa tư bản hiện tại vẫn còn những tiềm năng phát triển, nhưng đó không phải là chế độ tương lai của nhân loại, bởi chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có và những mâu thuẫn mới đang phát sinh, nó vẫn là chế độ bóc lột, phản dân chủ, vô nhân đạo làm tha hoá con người. Điều đó đã chứng tỏ sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là tất yếu lịch sử, hợp quy luật vận động phát triển của xã hội loài người.

Điều kiện khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa


Điều kiện khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự hội tụ những mâu thuẫn kinh tế và xã hội vốn có trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa đến độ chín muồi cùng sự tương quan so sánh lực lượng trong nước và quốc tế có lợi cho cách mạng. Mâu thuẫn về kinh tế trong xã hội tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng được xã hội hóa cao độ với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất; biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn điển hình giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản đóng vai trò cách mạng to lớn trong một giai đoạn lịch sử nhất định là lật đổ xã hội phong kiến, xây dựng một chế độ xã hội mới cao hơn là xã hội tư bản chủ nghĩa: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại[1]. Khi lực lượng sản xuất phát triển, mang tính chất xã hội hóa cao sẽ tạo ra tiền đề khách quan là xóa bỏ quan hệ sản xuất không còn tương dung, vì dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất. Đây là điều kiện khách quan sâu xa, phản ánh mâu thuẫn trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và quy định tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản luôn tìm mọi biện pháp để khắc phục, hạn chế, điều hòa và xoa dịu mâu thuẫn cốt tử về kinh tế. Tuy nhiên, do bản chất chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất đã không thể khắc phục nổi mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội, mà càng tạo ra điều kiện vật chất khách quan bùng nổ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, giai cấp tư sản làm cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ xã hội phong kiến, xây dựng xã hội tư bản chủ nghĩa chưa xóa bỏ tận gốc cơ sở nảy sinh đối kháng giai cấp. Với nền sản xuất vật chất, sản xuất công nghiệp trong xã hội tư bản đã nảy sinh ra một lực lượng xã hội, một giai cấp mới - giai cấp vô sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản là tất yếu khách quan, xuất phát từ sứ mệnh lịch sử: “Vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”[2].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 603.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605. 

Phương hướng cơ bản nâng cao chất lượng quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Kiện toàn bộ máy chỉ huy, quản lý, số lượng đủ, hợp lý, gọn nhẹ, chất lượng hiệu quả. Xây dựng phong cách, tác phong làm việc khoa học, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chỉ huy - lãnh đạo và quyền làm chủ của quân nhân thông qua các tổ lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức chính trị - xã hội trong Quân đội. Duy trì nghiêm nề nếp, chế độ sinh hoạt, công tác; tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của quân nhân. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ cấp phân đội có đủ phẩm chất, năng lực trong quản lý, giáo dục bộ đội. Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, những cán bộ, đảng viên quan liêu, thiếu gương mẫu, để đơn vị xảy ra vụ việc nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, chỉ huy. Nắm chắc diễn biến tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm ngay từ cơ sở.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng; chuyên môn nghiệp vụ quân sự, chính trị vững vàng; phương pháp, tác phong công tác khoa học; có tư duy năng động, đổi mới, nhạy bén và năng lực tổ chức thực tiễn tốt. Có tinh thần ham học hỏi, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần “7 dám” - “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung[1].

Nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền quản lý. Đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ quản lý xã hội; khoa học kỹ thuật, chiến thuật và nghệ thuật quân sự; đường lối, quan điểm quân sự của Đảng; truyền thống văn hóa dân tộc, Quân đội, đơn vị. Mọi cán bộ, chiến sĩ chủ động tiếp thu khoa học, kỹ thuật tiên tiến và các thông tin mọi mặt đời sống xã hội, xây dựng thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cách mạng.

Tích cực đổi mới nội dung, phương thức, phương tiện quản lý tiên tiến, hiện đại, hiệu quả cao, ứng dụng công nghệ thông tin. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đơn vị Quân đội, hậu phương Quân đội phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay. Người quản lý phải có trình độ, có kế hoạch tỉ mỉ, chu đáo, linh hoạt, nhạy bén, sâu sát đơn vị, nắm chắc tình hình và yêu cầu nhiệm vụ chính trị cũng như các diễn biến phức tạp của thực tiễn để mạng lại hiệu quả tối ưu trong công tác quản lý bộ đội, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diên, “mẫu mực, tiêu biểu”.



[1] Nguyễn Phú Trọng, Bài phát biểu tại Hội nghị lần thứ 6 Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội, ngày 03 - 7 - 2023, tr. 5.

Quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên

 


Mục đích quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên nhằm tạo ra sự thống nhất về xã hội giữa các nhóm quân nhân, tạo lập quan hệ đồng chí, đồng đội, giúp đỡ nhau theo tinh thần tập thể.

Nhiệm vụ quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên là tạo điều kiện thuận lợi trong cuộc sống, trong công tác, trong từng nhóm quân nhân, rút ngắn khoảng cách lợi ích, chống phân hóa giàu - nghèo trong nội bộ Quân đội.

Yêu cầu quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên là phải xây dựng mối quan hệ đồng chí, đồng đội tốt đẹp lúc bình thường cũng như lúc chiến đấu, sẵn sàng hợp tác, phối hợp trong mọi nhiệm vụ, bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống. Thực hiện chính sách công bằng xã hội giữa các nhóm quân nhân cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, gia đình và hậu phương Quân đội.

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

 


Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc căn bản trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng; là nguyên tắc xử sự của công dân và các chủ thể khác trong xã hội. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa quy định việc tổ chức và hoạt động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phải đảm bảo tính hợp pháp, tuân theo pháp luật. Do vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa là nguyên tắc, vừa là biện pháp để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Nội dung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý xã hội biểu hiện ở quyền lập pháp của nhà nước. Theo đó, các cơ quan nhà nước khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền theo quy định phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật. Nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Trong tổ chức thực hiện quản lý xã hội, trước hết là quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan nhà nước khi áp dụng quy phạm pháp luật phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở việc mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân trong quản lý xã hội. Mọi quyết định và hành vi hành chính phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp hoặc gián tiếp của công dân. Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định. Hoạt động quản lý xã hội phải gắn liền với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý. Chế độ trách nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước.

 

Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa là tổng hợp sức mạnh của các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng xã hội, trong đó, động lực chủ yếu là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa thể hiện sức mạnh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt, trong đó, giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo và quyết định sự thắng lợi của cách mạng.

Giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu, giữ vai trò lãnh đạo và quyết định thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại biểu cho phương thức sản xuất mới, bị bóc lột nặng nề nhất và có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có tính tổ chức, tính ký luật cao và có tinh thần quốc tế cao cả. Bên cạnh đó, giai cấp công nhân có khả năng lãnh đạo cách mạng và khả năng đoàn kết giai cấp, dân tộc, quốc tế: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại[1].

Giai cấp nông dân là lực lượng quan trọng, có vai trò to lớn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp nông dân có số lượng đông đảo trong cơ cấu dân cư của xã hội, có mối quan hệ gắn bó và có nhu cầu hợp tác tự nhiên với giai cấp công nhân: “Người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình”[2]. Ở trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp nông dân cũng là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhưng họ không thể tự đấu tranh giải phóng. Bởi vì, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng tiên tiến, không đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ và không có khả năng tập hợp các lực lượng cách mạng. Chỉ có giai cấp công nhân mới giác ngộ, tập hợp, vận động giai cấp nông dân tạo nên lực lượng cách mạng hùng hậu uy hiếp và làm suy yếu lực lượng phản cách mạng.

Trí thức có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trí thức là lực lượng nòng cốt trong phát triển khoa học, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vai trò của trí thức ngày càng tăng. Trí thức không có khả năng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, bởi vì trí thức không đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ, không có hệ tư tưởng độc lập, xuất thân từ nhiều thành phần giai cấp, tầng lớp khác nhau. Trí thức tham gia vào cách mạng xã hội chủ nghĩa như một trong những lực lượng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 393.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 269.

Nội dung văn hóa - tư tưởng của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 

 


Đây là nội dung quan trọng, thể hiện bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng tạo nên sự thay đổi căn bản bộ mặt xã hội, phương thức và nội dung sinh hoạt tinh thần của xã hội, giải phóng nhân dân khỏi chế độ áp bức, bất bình đẳng về chính trị - tinh thần. Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng nhằm làm biến đổi cơ bản phương thức, giá trị và nội dung sinh hoạt tinh thần, đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao động theo hướng tiến bộ: “Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ”[1].

Nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng là xóa bỏ các tàn dư văn hóa phản động, lạc hậu, xóa bỏ hệ tư tưởng tư sản. Kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giá trị văn hóa tiến bộ của nhân dân trên thế giới. Phát huy vai trò sáng tạo của quần chúng nhân dân trong tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội ngày càng đa dạng, phong phú. Giải phóng nhân dân lao động về mặt tư tưởng, tinh thần, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữ vai trò chủ đạo. Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân hưởng thụ, sáng tạo các giá trị văn hóa, bởi vì “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[2]. Giải quyết đúng đắn, hài hòa các vấn đề xã hội, vấn đề lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 626.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 628.

Quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân

 


Mục đích quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân là nhằm hình thành, củng cố và hoàn thiện những phẩm chất xã hội cần thiết, đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của Quân đội. Những phẩm chất xã hội cần thiết đó là nghề nghiệp hoạt động quân sự, phẩm chất đạo đức cách mạng, phẩm chất tâm lý vững vàng, ý chí, bản lĩnh chiến đấu kiên cường.

Nhiệm vụ quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân là phải xác định đúng khả năng, làm rõ vai trò xã hội, vị trí, chức năng, quyền lợi, nghĩa vụ, vinh dự, trách nhiệm của mỗi người quân nhân. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để quân nhân hoàn thành vai trò xã hội của mình, thông qua huấn luyện, giáo dục chính trị, quân sự; hoàn thiện cơ chế, tổ chức, lãnh đạo chỉ huy, tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội, chính trị lành mạnh; kiểm tra thường xuyên, đánh giá chính xác, khách quan kết quả thực hiện và hoàn thành vai trò xã hội của từng quân nhân; khen thưởng, kỷ luật kịp thời, công minh.

Yêu cầu quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân phải cẩn thận, sâu sát, chu đáo đến từng người, từng việc. Phải có hiểu biết sâu sắc đặc điểm tâm lý, sinh lý, hoàn cảnh, phong tục tập quán, truyền thống, bản sức văn hóa từng người, từng vùng miền, dự kiến được chiều hướng phát triển của từng nhân cách. Biết khơi dậy, phát huy, tận dụng những yếu tố tích cực trong mỗi con người và phát huy những sở trường, sở thích, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.

 

Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam là quá trình tổ chức, duy trì, định hướng các hoạt động xã hội gắn với quan hệ giữa các quân nhân, nhóm quân nhân, quan hệ chỉ huy và phục tùng, cấp trên và cấp dưới trong một tập thể quân nhân, nhằm xây dựng thành một tập thể đoàn kết, thống nhất, cùng chung chí hướng, ý chí và hành động, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của xã hội. Quản lý xã hội trong Quân đội là một phân hệ của quản lý xã hội, tuân theo những nguyên tắc chung của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa. Do chức năng, tính chất hoạt động quân sự và nhiệm vụ đặc biệt, quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa trong Quân đội nhân dân Việt Nam chủ yếu là quản lý các quá trình xã hội, nhằm đảm bảo cho Quân đội luôn sẵn sàng chiên đấu và chiến đấu thắng lợi trước mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch trong mọi tình huống.

Xét theo nghĩa rộng, quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam là toàn bộ các quá trình hoạt động của Quân đội, bao gồm quá trình hoạt động quân sự; quá trình hoạt động chính trị - xã hội; quá trình hoạt động văn hóa - tinh thần; quá trình hoạt động bảo đảm đời sống, vật chất, vũ khí, phương tiện cho chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Thực chất của quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhằm xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị, không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.