Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CHỈ ĐẠO CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC CHÍNH PHỦ VÀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG!

     Sáng 8/1, Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ kết hợp trực tuyến với điểm cầu 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố tại các điểm cầu,

Thưa toàn thể các đồng chí.

Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu năm mới 2026, hướng tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng và chuẩn bị đón Tết cổ truyền Bính Ngọ, tôi rất vui mừng dự Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương. Đây là hội nghị vừa tổng kết đánh giá kết quả năm 2025, vừa nhìn lại chặng đường 5 năm 2021-2025 - giai đoạn khó khăn, thách thức nhưng đất nước ta đạt nhiều thành tựu và dấu ấn quan trọng. Trên cơ sở đó, chúng ta cùng khơi dậy quyết tâm, tự tin bước vào kỷ nguyên xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí lãnh đạo, các quý vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí cả nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chúng ta đã xem những thước phim về tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021-2025 của đất nước, nghe những phát biểu thẳng thắn, tâm huyết, trách nhiệm của đồng chí Thủ tướng, các đồng chí lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương. Tại hội nghị này, tôi xin nêu một số vấn đề có tính khái quát, định hướng để các đồng chí cùng nghiên cứu.

I. NHÌN LẠI NĂM 2025 VÀ 5 NĂM 2021-2025

Bối cảnh giai đoạn 2021-2025 có rất nhiều đặc biệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự đồng hành của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả trên các lĩnh vực. Nhiều quyết sách mang tính "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái, thích ứng với hoàn cảnh" đã góp phần "biến nguy thành cơ", nhiều nghị quyết chiến lược về các lĩnh vực then chốt như khoa học - công nghệ, thể chế - pháp luật, hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, văn hóa, thu hút FDI, tạo tiền đề cho phát triển nhanh và bền vững cả trước mắt và lâu dài. Nhờ đó, năm 2025, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi, đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu; giai đoạn 2021-2025, ước đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu, xấp xỉ đạt 2/26 chỉ tiêu, còn 2 chỉ tiêu nữa cần tiếp tục phấn đấu. Tôi ghi nhận 8 kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô được giữ ổn định trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, thể hiện rõ sức chống chịu của nền kinh tế. Giai đoạn 2021-2025, lạm phát duy trì dưới 3,6% (riêng năm 2025 khoảng 3,3%); các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công và bội chi ngân sách duy trì trong ngưỡng an toàn, củng cố ổn định trung hạn. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới. Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD (2020) lên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao (hoàn thành một trong những cột mốc lớn mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra). Duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD). Bội chi, nợ công trong giới hạn an toàn (nợ công năm 2025 giảm còn khoảng 36% GDP, giới hạn cho phép là 60% GDP). Du lịch phục hồi mạnh, năm 2025 đón trên 21,5 triệu lượt khách quốc tế. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục giữ vai trò then chốt; kinh tế tư nhân vươn lên rõ nét, là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia" như tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. FDI tiếp tục là điểm sáng, với 185 tỷ USD đăng ký giai đoạn 2021–2025, giải ngân năm 2025 đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả lan tỏa của sự tăng trưởng. (Tuy nhiên, các kết quả trên chủ yếu phản ánh ổn định và mở rộng quy mô; thách thức lớn của giai đoạn tới là chuyển sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, chất lượng và hiệu quả phân bổ nguồn lực).

Thứ hai, các đột phá chiến lược được triển khai đồng thời trên ba trụ cột: Thể chế và tổ chức bộ máy, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, tạo chuyển biến nền tảng đối với mô hình phát triển. Tư duy từ "quản lý" sang "kiến tạo phát triển" từng bước được cụ thể hóa, nhất là sau khi Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành, góp phần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn kéo dài, khơi thông nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cải cách tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, tạo chuyển dịch quan trọng trong phương thức quản trị theo hướng trao quyền đi đôi với trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, giúp bộ máy tinh gọn hơn, điều hành ở địa phương chủ động hơn, chi phí tuân thủ giảm dần.

Trong lĩnh vực hạ tầng, đã tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…) cho thấy tư duy phát triển đã hướng tới tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn, với sự tham gia ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Cùng với đó, hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Về dài hạn, nguồn nhân lực được đặt vào vị trí trung tâm, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ then chốt và ngành nghề mới; năng suất lao động có cải thiện bước đầu, (song thách thức vẫn là gắn chặt hơn đào tạo với nhu cầu thực tế của nền kinh tế và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng).

Thứ ba, các lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi trường có chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động, trực tiếp nâng cao chất lượng sống của nhân dân và củng cố nền tảng cho phát triển bền vững. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, di sản được tiếp cận theo hướng chủ động, sáng tạo hơn, gắn với phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Nhiều di sản, tư liệu được UNESCO vinh danh; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn, chuyên nghiệp góp phần hình thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao và sức lan tỏa xã hội rộng, đồng thời tăng cường sức mạnh mềm quốc gia. Các sự kiện chính trị - lịch sử trọng đại được tổ chức trang trọng, hiệu quả, không chỉ mang ý nghĩa kỷ niệm mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đặc biệt là niềm tin của toàn xã hội. Theo đánh giá quốc tế, chỉ số phát triển con người tiếp tục cải thiện, chỉ số hạnh phúc tăng mạnh (37 bậc, từ xếp hạng 83 năm 2000 lên 46 năm 2025), phản ánh tiến bộ thực chất về chất lượng cuộc sống chứ không chỉ về thu nhập.

Chính sách an sinh xã hội được triển khai toàn diện, nhất quán với mức chi cao (17% tổng chi ngân sách) để "không để ai bị bỏ lại phía sau"; hoàn thành sớm mục tiêu xóa nhà tạm, phát triển mạnh nhà ở xã hội (334 nghìn căn nhà, nhà ở xã hội, hơn 100 nghìn căn hộ trong năm 2025), tỷ lệ nghèo đa chiều giảm nhanh (chỉ còn 1,3%), khẳng định ưu tiên xuyên suốt của Nhà nước đối với con người, đặc biệt là người yếu thế và công bằng xã hội. Trong giáo dục và y tế, nhiều chủ trương có ý nghĩa lâu dài được triển khai, từ miễn, hỗ trợ học phí phổ thông, xây dựng thêm nhiều trường học, tăng đầu tư cho giáo dục vùng khó khăn, biên giới, đến việc củng cố hệ thống y tế, vừa giải quyết các tồn đọng kéo dài, vừa chuẩn bị nền tảng cho nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân toàn diện. Bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu được coi trọng hơn trong quản lý, điều hành. Trước thiên tai ngày càng cực đoan, sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở và huy động cả ngân sách Nhà nước và nguồn lực xã hội đã giúp giảm thiểu thiệt hại, sớm ổn định đời sống và khôi phục sản xuất, thể hiện rõ vai trò kiến tạo, trách nhiệm và tính nhân văn của Nhà nước, của Chính phủ.

Thứ tư, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai quyết liệt, từng bước trở thành trụ cột mới của mô hình phát triển của đất nước. Các chính sách hỗ trợ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, bài bản hơn. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp được định hình rõ hơn, với sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu. Việc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động thể hiện cách tiếp cận mới trong tổ chức, huy động, điều phối nguồn lực đổi mới sáng tạo ở tầm quốc gia; đồng thời hình thành một số tổ chức khoa học công nghệ đạt chuẩn quốc tế và thúc đẩy các dự án, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ lõi.

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 xếp hạng 44/139. Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính được đẩy mạnh theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; xây dựng Chính phủ số, công dân số, xã hội số từng bước đi vào thực chất. Đề án 06 tạo thay đổi mang tính căn bản trong cung cấp dịch vụ công, giúp tiết kiệm khoảng 3.000 tỷ đồng chi phí xã hội mỗi năm; chỉ số Chính phủ điện tử tăng 15 bậc so với năm 2020, xếp 71/193, cho thấy tiến bộ rõ rệt về quản trị số. (Tuy vậy, kết quả mới ở giai đoạn đầu; chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa đồng đều. Thách thức thời gian tới là chuyển từ triển khai rộng sang nâng cao hiệu quả và chiều sâu, để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng).

Thứ năm, tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định chính trị và phát triển đất nước trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực, quốc tế có rất nhiều biến động. An ninh chính trị được giữ vững; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và "thế trận lòng dân" được tăng cường, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và củng cố niềm tin xã hội. Việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại được triển khai có trọng tâm; nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, an ninh được tăng cường, ưu tiên các lĩnh vực chiến lược, lâu dài, cho thấy sự chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa. Trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; năm 2025, tội phạm về trật tự xã hội giảm trên 24%. Công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ được triển khai đồng bộ, góp phần tạo môi trường sống và kinh doanh an toàn. Đối ngoại quốc phòng, an ninh được đẩy mạnh theo hướng chủ động, thực chất, phục vụ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình cho phát triển. Lực lượng vũ trang tiếp tục phát huy vai trò xung kích trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và thực hiện tốt nhiệm vụ gìn giữ hòa bình quốc tế, qua đó nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam.

Thứ sáu, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển cho đất nước. Quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện được mở rộng và đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và giao lưu văn hóa. Ngoại giao kinh tế được triển khai chủ động, thực chất, trực tiếp phục vụ phát triển; riêng năm 2025, ký kết gần 350 thỏa thuận và cam kết hợp tác, qua đó thu hút nguồn lực, mở rộng thị trường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới.

Thứ bảy, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng kiên định, kế thừa và đổi mới, trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực vận hành của Nhà nước. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy năm 2025 không chỉ giảm đầu mối, khắc phục chồng chéo, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục là điểm sáng, được triển khai quyết liệt, đồng bộ, với tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", qua đó củng cố kỷ cương, kỷ luật và niềm tin xã hội. Đáng chú ý, phòng, chống tham nhũng ngày càng gắn với xử lý các điểm nghẽn cơ cấu của nền kinh tế, khắc phục những bất cập trong công tác quản lý, nhất là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, tài nguyên và các dự án đầu tư lớn. Việc xử lý 5 ngân hàng yếu kém, tháo gỡ các dự án thua lỗ kéo dài và nhiều dự án năng lượng trọng điểm cho thấy cách tiếp cận chuyển từ xử lý vi phạm đơn lẻ sang khơi thông nguồn lực cho phát triển. Kết quả cụ thể là gần 1.200 dự án với tổng giá trị khoảng 675 nghìn tỷ đồng đã được tháo gỡ, đưa trở lại hoạt động; gần 3.000 dự án tồn đọng đang được rà soát, phân loại để xử lý căn cơ, tránh thất thoát, lãng phí và kéo dài tình trạng nguồn lực bị đóng băng.

Thứ tám, chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng các chủ trương, quyết sách lớn của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội như các báo cáo, đề xuất Trung ương, Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm; các Nghị quyết chiến lược, trụ cột của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị; các quyết sách lớn về xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường sắt kết nối với Trung Quốc, đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh...

Trên cơ sở những nhận định khách quan và các số liệu cụ thể, có thể kiểm chứng, có thể khẳng định rằng giữa những bất định trên toàn cầu, trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi, nhưng chúng ta không những giữ được ổn định, trong đó có ổn định kinh tế vĩ mô, mà đã đạt được thành tựu khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin, đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo đà, tạo lực, tạo thế, tạo nền tảng cho những năm tiếp theo, trong đó có mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn tới.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, ghi nhận, chúc mừng, biểu dương Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên, đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài về những nỗ lực phấn đấu và những kết quả, thành tích đã đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong giai đoạn 2021-2025.

Thưa toàn thể các đồng chí!

Bên cạnh những kết quả đạt được, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, cần nghiêm túc nhìn nhận rằng những tồn tại, hạn chế và thách thức còn nhiều, có mặt kéo dài, có mặt mới phát sinh, phản ánh các nút thắt cơ cấu trong mô hình phát triển và hệ thống quản trị quốc gia. Tôi xin nêu 8 hạn chế cơ bản như sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định nhưng rủi ro vẫn tiềm ẩn trong bối cảnh dư địa chính sách tài khóa - tiền tệ thu hẹp. Một số thị trường then chốt như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tài sản còn vận hành thiếu thông suốt, còn tâm lý phòng thủ, đầu cơ.

Thứ hai, tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào mở rộng đầu vào, đặc biệt là đầu tư và khai thác đất đai, trong khi năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và hàm lượng công nghệ cải thiện chậm. Liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm; đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa đồng đều. Vì vậy, một số địa phương đạt tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững, vẫn phụ thuộc vào những dự án đơn lẻ và nguồn lực ngắn hạn, thậm chí một số địa phương vẫn còn lúng túng trong mục tiêu tăng trưởng.

Thứ ba, giải ngân vốn đầu tư công chậm, hiệu quả chưa cao (thể hiện hệ số ICOR cao lên đến gần 6, trong khi các nước công nghiệp hóa thành công chỉ khoảng 3); tình trạng lãng phí trong quản lý đất đai, tài nguyên và tài sản công còn lớn. Nhiều dự án kéo dài, đội vốn, hiệu quả thấp, phản ánh hạn chế trong chuẩn bị dự án, lựa chọn ưu tiên và cơ chế chịu trách nhiệm. Nhiều dự án có vốn nhưng không triển khai được do vướng mặt bằng, điều chỉnh quy hoạch, thay đổi thiết kế. Việc huy động nguồn lực tư nhân còn gặp rào cản do môi trường pháp lý còn rủi ro và chi phí tuân thủ cao.

Thứ tư, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, mặc dù chúng ta đã rất nỗ lực. Thủ tục hành chính, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, còn rườm rà, kéo dài, làm tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Có những dự án mất nhiều năm mới xong các khâu thủ tục, trong khi mỗi khâu do một cơ quan phụ trách và không có cơ chế chịu trách nhiệm tổng thể. Đáng chú ý, một số quy định chưa theo kịp thực tiễn, làm méo mó tín hiệu giá và gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp (đơn cử cơ chế công bố giá vật liệu xây dựng chậm và không sát thị trường khiến nhà thầu dễ thua lỗ hoặc vướng quyết toán và thanh tra. Điều này phản ánh sự bị động trong thiết kế thể chế, quản lý nhà nước, vận hành thị trường chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường). Năng lực tổ chức thực thi chính sách chưa đồng đều, vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ. Việc chậm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và vận hành thị trường có nguy cơ làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn và kìm hãm sự phục hồi bền vững của nền kinh tế.

Thứ năm, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở một số nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ, phát sinh độ trễ trong điều hành, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cán bộ, tạo khoảng cách giữa thẩm quyền được giao và khả năng thực thi trên thực tế.

Thứ sáu, còn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành mũi nhọn như công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng chiến lược. Chất lượng đào tạo và sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động còn khoảng cách đáng kể, làm gia tăng tình trạng vừa thiếu vừa thừa lao động.

Thứ bảy, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và quá tải hạ tầng tại các đô thị lớn chưa được xử lý căn cơ. Thích ứng với biến đổi khí hậu còn bị động ở một số địa bàn, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa, làm gia tăng rủi ro phát triển thiếu bền vững.

Thứ tám, an ninh trật tự ở một số địa bàn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên biên giới và an ninh mạng gia tăng, đặt ra thách thức mới cho công tác quản lý nhà nước và bảo vệ xã hội trong môi trường số.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên cho thấy thách thức cốt lõi của giai đoạn tới không phải là thiếu nguồn lực hay bất ổn bên ngoài, mà chủ yếu ở chất lượng thể chế, năng lực thực thi và sức sống của mô hình phát triển. Đây vừa là sức ép, vừa là động lực cải cách, nếu được nhận diện đúng và hành động quyết liệt. Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển mạnh từ tạo nền tảng sang tăng tốc về chất lượng và quy mô, từ xử lý tình huống sang cải cách căn cơ, từ điều hành ngắn hạn sang kiến tạo động lực dài hạn; chỉ như vậy mới có thể khơi thông niềm tin thị trường, giải phóng nguồn lực xã hội và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và cạnh tranh cao hơn, gay gắt hơn.

II. VỀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2026

Năm 2026 đánh dấu khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030. Đây là năm rất quan trọng định hình mô hình phát triển và quỹ đạo tăng trưởng dài hạn của đất nước. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên là rất thách thức. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống suy giảm, những hạn chế về năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh bộc lộ rõ, cách làm cũ không còn đáp ứng yêu cầu mới. Vì vậy, giai đoạn tới đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, với cải cách đủ sâu, đủ mạnh, đủ quyết liệt.

Trên tinh thần đó, chúng ta vừa phải giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng, vừa thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển. Tôi nhấn mạnh 7 phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới, như sau:

Thứ nhất, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập của thể chế để khơi thông nguồn lực đang bị ách tắc. Cần chuyển mạnh và thực chất từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", bảo đảm mỗi việc có một đầu mối chịu trách nhiệm, chấm dứt đùn đẩy, né tránh; nếu chậm tháo gỡ sẽ kìm hãm tăng trưởng ngay từ đầu nhiệm kỳ. Song song với đó, là quyết tâm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; điều hành tài khóa-tiền tệ phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, kỹ trị dựa trên nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp; tái cơ cấu tín dụng vào sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, hạn chế đầu cơ và hoạt động phi sản xuất.

Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; mở rộng phân cấp, phân quyền, rà soát để cắt giảm các thủ tục, tạo không gian quyết định và chịu trách nhiệm lớn hơn cho cán bộ, công chức, đồng thời giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm", bảo vệ nghiêm ngặt quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tuyệt đối không được lợi dụng thanh tra, kiểm tra, điều tra để sách nhiễu người dân, doanh nghiệp. Cần đặc biệt bảo đảm tính ổn định, nhất quán và khả năng dự báo của chính sách, hạn chế tối đa thay đổi đột ngột, hồi tố hoặc thiếu thống nhất trong thực thi. Khuyến khích thử nghiệm cơ chế, mô hình mới (như thị trường dữ liệu, tài sản mã hóa); cắt giảm thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu số, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ đã được số hóa. Cùng với đó, chủ động, đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền và dân vận, phát huy các phong trào thi đua yêu nước, tăng cường đồng thuận xã hội.

Ổn định và làm lành mạnh các thị trường trọng yếu của nền kinh tế, tôn trọng đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá cả… Đặc biệt chú trọng ổn định các thị trường có tác động hệ thống như bất động sản (trọng tâm là quy hoạch và pháp lý), trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tín dụng, thị trường vốn, thị trường tài sản (vàng, ngoại tệ…), bảo đảm thị trường hoạt động thông suốt, minh bạch, an toàn, qua đó phòng ngừa rủi ro lan truyền và củng cố niềm tin của nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, phát triển thị trường vốn trung và dài hạn có chiều sâu, song song với cơ cấu lại thị trường tín dụng theo hướng bền vững, xử lý tận gốc các yếu kém của tổ chức tín dụng, tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm, cho vay quan hệ. Nghiên cứu cơ chế giải thể có kiểm soát đối với ngân hàng yếu kém, cho phép thành lập ngân hàng mới, tổ chức tài chính vi mô, nhằm nâng cao tính cạnh tranh, an toàn và đa dạng của hệ thống tài chính.

Thứ hai, chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Giai đoạn tới phải đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển, coi đây là điều kiện then chốt để vượt bẫy thu nhập trung bình và duy trì tăng trưởng cao, bền vững. Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng mới, và là nhân tố để làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. Cơ chế khuyến khích ứng dụng công nghệ phải dựa vào kết quả, không hỗ trợ dàn đều. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, nội hàm hóa chiến lược "Make in Vietnam", khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới như kinh tế biển, kinh tế đại dương xanh, kinh tế không gian (trên không và dưới lòng đất), kinh tế chia sẻ…; thu hút FDI có chọn lọc, gắn với chuyển giao, học hỏi và tiếp thu công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh về công nghệ. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia "đúng, đủ, sạch, sống", phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi hơn nữa để kinh tế tư nhân bứt phá, hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và các lĩnh vực chiến lược.

Thứ ba, xây dựng hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Giai đoạn tới, cần tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, mang tính đột phá, đặc biệt là giao thông trục quốc gia, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, năng lượng và hạ tầng số. Năm 2026 phải tạo chuyển biến rõ rệt về tiến độ, trong đó khởi công các hạng mục then chốt của đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đẩy nhanh tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các cao tốc liên kết vùng, liên kết các địa phương sau hợp nhất, bảo đảm tiến độ Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Gia Bình. Cùng với đó, bảo đảm an ninh năng lượng, nhất là năng lượng sạch, tuyệt đối không để thiếu điện; khẩn trương triển khai các dự án năng lượng quan trọng, trong đó có Nhà máy điện hạt nhân. Đồng thời, đẩy mạnh hạ tầng số thế hệ mới, phủ rộng 5G, nghiên cứu 6G, phát triển trung tâm dữ liệu và từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ cao, phấn đấu khởi công dự án sản xuất chíp bán dẫn. Cần xác định lộ trình để Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia dẫn đầu về chất lượng hạ tầng viễn thông và độ phủ sóng 5G, 6G.

Đổi mới mạnh mẽ cách thức triển khai đầu tư công theo hướng dẫn dắt phát triển, lan tỏa và kích hoạt kéo theo nguồn lực tư nhân, qua đó phấn đấu giảm ICOR xuống 4 trong giai đoạn tới.

Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.

Cần gắn chặt thẩm quyền với nguồn lực và trách nhiệm giải trình, bảo đảm sự thông suốt trong điều hành từ Trung ương đến cơ sở. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính, chấm dứt tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm; hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ, thay thế cán bộ, trọng dụng cán bộ có năng lực tốt. Thực hiện nghiêm Kết luận 226 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; đồng thời tháo gỡ các vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp, tập trung nâng cao năng lực cán bộ, đảng viên cấp cơ sở, đặc biệt là xã, phường, đặc khu; nên lấy năm 2026 là "năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở". Có giải pháp khai thác tài sản công đang bị lãng phí, và xử lý trụ sở công dôi dư sau sắp xếp, qua đó nâng cao tính chủ động, tự chủ và hiệu quả quản trị của bộ máy nhà nước.

Cần triển khai chiến lược giáo dục - đào tạo gắn chặt với nhu cầu thị trường lao động và các ngành công nghệ, công nghiệp mũi nhọn; đồng thời nâng cao kỹ năng nền tảng, đặc biệt là kỹ năng số, cho lực lượng lao động. Tập trung nâng cao năng suất lao động theo tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; đẩy mạnh đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, từng bước đưa trí tuệ nhân tạo và rô-bốt vào giáo dục phổ thông; đồng thời có cơ chế đột phá phát triển các đại học quốc gia, cơ sở giáo dục đại học xuất sắc và các chương trình nghiên cứu công nghệ chiến lược, tạo nền tảng nhân lực cho phát triển dài hạn.

Thứ năm, chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; đồng thời phát triển công nghiệp văn hóa với trọng tâm là điện ảnh, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn, coi đây là một mũi nhọn kinh tế mới. Triển khai hiệu quả các giải pháp đột phá về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo tinh thần Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị. Phấn đấu hoàn thành trên 110 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm 2026, về đích sớm mục tiêu 1 triệu căn vào năm 2028; hoàn thành 248 trường liên cấp tại các xã biên giới.

Thứ sáu, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tập trung nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và ứng phó thiên tai, nhất là lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, bất động sản, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên và phát triển thị trường minh bạch. Xử lý căn cơ ô nhiễm môi trường, nhất là tại các đô thị lớn; triển khai hiệu quả các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phòng, chống lũ lụt, sạt lở, khô hạn tại miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc. Đồng thời, khai thác hiệu quả tài nguyên đất hiếm, phục vụ phát triển các ngành công nghiệp mới gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Thứ bảy, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận phòng thủ quân khu, khu vực vững chắc; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, lưỡng dụng, hiện đại, nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang. Bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị trọng đại, nhất là Đại hội lần thứ XIV của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước, đặc biệt trên không gian mạng và trong chuyển đổi số. Đồng thời, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế; chuẩn bị tốt để tổ chức thành công Hội nghị APEC 2027. Tiếp tục làm tốt công tác bảo hộ công dân, thúc đẩy ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân, ngoại giao khoa học và công nghệ, qua đó nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Thưa toàn thể các đồng chí!

Những năm qua, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Thực tiễn chứng minh, càng khó khăn, ý chí, bản lĩnh và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta càng được tôi luyện và phát huy. Có thể khẳng định, đến thời điểm này, đất nước đã hội tụ đủ thế và lực, đủ ý chí và quyết tâm để bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.

Vận hội mới đang mở ra, nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực bằng nỗ lực và hành động. Tôi tin tưởng rằng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết, đồng lòng, hành động quyết liệt với trách nhiệm cao nhất, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ năm 2026 và những năm tiếp theo.

Nhân dịp năm mới 2026 và chuẩn bị đón Xuân Bính Ngọ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước năm mới dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng và giành được nhiều thắng lợi mới.

Xin trân trọng cảm ơn!
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM GỬI THƯ MỪNG TỔNG BÍ THƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO KHÓA XII

     Nhân dịp đồng chí Thongloun Sisoulith được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khóa XII, ngày 8/1/2026, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã gửi thư chúc mừng đồng chí Thongloun Sisoulith.

Nội dung thư mừng viết:

“Đồng chí Thongloun Sisoulith thân mến,

Nhân dịp Đồng chí được tín nhiệm bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá XII, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi thân ái gửi tới Đồng chí lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Đây là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào đối với những đóng góp to lớn, trí tuệ và tâm huyết của Đồng chí trong suốt thời gian qua. Sự tín nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân đối với Đồng chí thể hiện niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tôi hết sức vui mừng và chân thành chúc mừng thành công của Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhất là sự sáng tạo trong việc đề ra những tầm nhìn chiến lược và mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng mà Đại hội đề ra cho sự phát triển dài hạn của Lào trong thời gian tới. Tôi hoàn toàn tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và vai trò quan trọng của Đồng chí, toàn Đảng và toàn dân Lào nhất định sẽ hoàn thành các mục tiêu mà Đại hội XII đề ra, xây dựng đất nước Lào hoà bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.

Mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, sự gắn bó thuỷ chung, trong sáng giữa Nhân dân hai nước Việt Nam - Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, dày công vun đắp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong tiến trình lịch sử đã trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của hai nước trên con đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Tôi tin tưởng rằng, trên cương vị cao cả của mình, Đồng chí sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng, góp phần tăng cường và phát triển mạnh mẽ hơn nữa mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, vì lợi ích và nguyện vọng của Nhân dân hai nước.

Nhân dịp này, tôi trân trọng chúc Đồng chí tiếp tục đạt được nhiều thành công trên cương vị cao cả của mình, tiếp tục có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào, cùng với các đồng chí lãnh đạo và Nhân dân hai nước Lào - Việt Nam tiếp tục vun đắp, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược Việt Nam - Lào.

Tôi mong sớm được đón Đồng chí sang thăm Việt Nam để chúng ta cùng đi sâu trao đổi những vấn đề chiến lược và đề ra những định hướng lớn cho tương lai phát triển tốt đẹp của quan hệ gắn kết chiến lược giữa hai nước.

Nhân dịp năm mới 2026, kính chúc Đồng chí luôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành công trên cương vị cao cả của mình”.

Cùng ngày, đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Ngoại giao đã gửi thư chúc mừng đến đồng chí Bounlea Phandanouvong, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và đồng chí Thongsavan Phomvihane, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá XII./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: QUÂN ĐỘI VENEZUELA ĐÃ "CHỌN PHE"?

     Trong những diễn biến được cho là chỉ kéo dài khoảng hai tiếng, việc một nguyên thủ bị đưa ra khỏi lãnh thổ trong khi quân đội Venezuela gần như không phản ứng đáng kể đã khiến tôi đặt câu hỏi liệu đây có phải là sự bất lực quân sự, hay là một điều gì khác sâu hơn?

Nếu nhìn kỹ, đặc biệt vào chi tiết quân đội Venezuela có phản ứng phòng không nhưng bắn hụt, để lộ vị trí rồi nhanh chóng bị Mỹ vô hiệu hóa - câu chuyện dường như mang một logic hoàn toàn khác.

Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là quân đội Venezuela không hoàn toàn đứng yên. Có những loạt bắn nhắm vào trực thăng nhưng không trúng mục tiêu, không có chuỗi phản kích tiếp theo đáng kể, và nhanh chóng bị chấm dứt. Nhưng chính điều đó lại làm lộ ra nghịch lý lớn nhất.

Venezuela không phải một quốc gia thiếu rada, họ cũng không thiếu các tên lửa phòng không tầm thấp – tầm trung...Quân đội Venezuela lại đang được đặt trong bối cảnh sẵn sàng chiến đấu và cảnh giác 24/24. Căng thẳng quân sự kéo dài với Mỹ nên kịch bản xâm nhập đường không đã được tính đến suốt nhiều năm.

Vậy mà phản ứng phòng không chỉ ở mức bắn hụt cho có là điều khó chấp nhận nếu xét thuần túy quân sự. Một giả thuyết hợp logic hơn nhiều là: Quân đội Venezuela đã chủ động phản ứng ở mức tối thiểu để tạo dấu vết đã chống trả, nhưng không nhằm thay đổi kết cục.

Xét theo giả thuyết đó ta lại phải hỏi: vì sao cần làm vậy, có phải họ đã có một thỏa thuận ngầm với Mỹ? 

Nếu không phản ứng gì cả thì dễ bị xem là phản bội. Nếu phản ứng quyết liệt thì là phá vỡ thỏa thuận ngầm, leo thang thành chiến tranh...họ không đủ khả năng để thắng quân đội Mỹ. Vậy phản ứng vừa đủ để ghi nhận nghĩa vụ, nhưng không đủ để cản trở quá trình đã được định sẵn. 

Đây không phải điều mới trong lịch sử chuyển giao quyền lực nhạy cảm. Nó là kỹ thuật “phản ứng trình diễn” giúp quân đội Venezuela rửa trách nhiệm, và quan trọng nhất: giữ câu chuyện ở mức ‘đã có giao tranh’, tránh nghi vấn thông đồng lộ liễu.

Trình diễn không phải để che mắt bên ngoài. Mà để che mắt bên trong. Trong mọi quân đội không phải ai cũng biết trước kịch bản, không phải mọi đơn vị đều cùng mức độ đồng thuận, luôn tồn tại nhóm trung thành cá nhân - Một phản ứng tượng trưng nhằm trấn an các nhóm này, tránh nổ ra chia rẽ tức thì, giữ kỷ luật và trật tự chỉ huy. 

Nói cách khác đó là phản ứng để hệ thống không vỡ trong khoảnh khắc cá nhân nguyên thủ bị loại khỏi cuộc chơi.

120 phút , đó không phải là thời gian Mỹ thắng quân đội Venezuela, cũng không phải là khoảnh khắc phòng không Venezuela sụp đổ. Mà là khoảng thời gian hệ thống sở tại chủ động không cản trở, và chỉ diễn đúng phần việc cần thiết để câu chuyện khép lại hợp lý.

Khi một quân đội đã sẵn sàng kiểm soát mức độ phản ứng, giới hạn xung đột và chấp nhận vai người đứng ngoài có trách nhiệm thì kết cục đã được khóa từ trước. Nó cho thấy sự lựa chọn có tính toán của quân đội Venezuela .Hai tiếng đó không phải là lúc Venezuela mất kiểm soát, mà là lúc quyền lực được "tháo" ra khỏi một cá nhân nhưng không làm vỡ cả hệ thống. 

Venezuela là nước đa đảng, có lẽ nào quân đội đã chọn "bàn giao" Maduro để đổi lấy hòa bình, và nếu vậy thật thì bằng cách nào đó sẽ sớm có 1 cuộc bầu cử tổng thống mới.

Giả thuyết này cũng lý giải cho việc tại sao ông Trump lại nói trong họp báo rằng "Mỹ sẽ tiếp quản quá trình chuyển giao quyền lực tại Venezuela, và nếu cần thiết sẽ triển khai lực lượng để đảm bảo quá trình đó diễn ra suôn sẻ ".

Giả thuyết này cũng lý giải cho việc tại sao ông Maduro lại sử dụng đặc nhiệm Cuba để đảm bảo an ninh cá nhân mà không phải là đặc nhiệm Venezuela - 32 đặc nhiệm và tình báo Cuba đã tử vong trong chiến dịch bắt Maduro./.
Ảnh: Xung quanh dinh tổng thống Venezuela bố trí dày đặc các chốt tên lửa phòng không vác vai. Trực thăng của đặc nhiệm Mỹ là mồi ngon của mấy em này ==> vậy mà không hề có em nào khai hỏa trong suốt 2 tiếng đồng hồ đó?
Môi trường ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: VIỆT NAM CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ KHÔNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HỦY DIỆT HẠT NHÂN!

     Từ ngày 7 - 8/1, tại thành phố Amman (Jordan), Việt Nam đã chủ trì Hội thảo tham vấn dành cho các nước khu vực Trung Đông - Bắc Phi trong khuôn khổ Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Hội thảo được tổ chức phối hợp với Văn phòng LHQ về các vấn đề giải trừ quân bị (UNODA) và Liên minh châu Âu (EU), với sự tham dự của đại diện 30 quốc gia, tổ chức quốc tế và viện nghiên cứu.

Đây là hội thảo khu vực thứ ba trong chuỗi tham vấn do Việt Nam tổ chức, nhằm chuẩn bị cho Hội nghị kiểm điểm NPT năm 2026, sau các cuộc họp tại Hà Nội và Addis Ababa. Sự kiện tạo diễn đàn để các nước trao đổi lập trường, ưu tiên và đề xuất, hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị nội dung và điều hành Hội nghị kiểm điểm trên cương vị Chủ tịch được chỉ định./.
Môi trường ST.

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: Ý NGHĨA CỦA CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (06/01/1946)!

     Cách đây tròn 80 năm, ngày 06/01/1946, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở đầu thời kỳ độc lập, tự do của dân tộc. Ngày 03/9/1945, Chính phủ lâm thời tổ chức phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”.

Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội; ban hành Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; ban hành Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 02/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử. Công tác chuẩn bị cho Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài; nền kinh tế - xã hội đang hết sức khó khăn. Cuộc Tổng tuyển cử lúc đầu dự kiến là ngày 23/12/1945 nhưng để thực hiện chủ trương thống nhất và hoà giải, có thêm thời gian cho công tác chuẩn bị và các ứng cử viên có điều kiện nộp đơn, đi vận động tranh cử; ngày 18/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 06/01/1946.

Ngày 05/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, toàn thể Nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 06/01/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.

Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Hà Nội đã có 91,95% cử tri của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả, có 6 trong số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Ở các địa phương khác trong cả nước, cuộc Tổng tuyển cử cũng được tiến hành sôi nổi. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Ở các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của giặc Pháp.

Tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Trong thành phần của Quốc hội có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái chính trị.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) ra đời, thắng lợi đó là một mốc son đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử cũng đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, Quốc hội Việt Nam luôn là biểu tượng cao đẹp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là hiện thân của ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Quốc hội đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng, đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đưa đất nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng, khẳng định bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Đây cũng là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân nâng cao nhận thức, lòng tự hào, củng cố niềm tin, đồng thời phát huy tinh thần trách nhiệm, chung sức đồng lòng xây dựng Quốc hội ngày càng vững mạnh, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.


Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NHÂN DÂN BURKINA FASO BẢO VỆ LÃNH ĐẠO KHỎI ÂM MƯU ĐẢO CHÍNH DO PHÁP GIẬT DÂY!

     Âm mưu đảo chính do Pháp giật dây nhằm lật đổ Tổng thống Ibrahim Traoré tại Burkina Faso vào lúc 1 giờ sáng đã thất bại hoàn toàn.

Khi tin tức lan ra, hàng ngàn người dân thủ đô Ouagadougou đã tự nguyện đổ về Phủ Tổng thống, tạo thành một "lá chắn sống" bảo vệ vị lãnh đạo của họ.

Song song đó, lực lượng tình báo dưới sự chỉ huy của Chỉ huy Oumarou Yabré đã phản ứng thần tốc, chủ động ngăn chặn và vô hiệu hóa các phần tử nội gián cùng sự can thiệp từ bên ngoài. 

Sự kiện này một lần nữa khẳng định sức mạnh vĩ đại của lòng dân và ý chí độc lập dân tộc. Khi người dân đồng lòng đứng về phía chính nghĩa và bảo vệ chủ quyền, mọi âm mưu thâm độc từ các thế lực ngoại bang đều sẽ bị đánh bại./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM PHÁP LUẬT!

     Lịch sử không phải món đồ trang trí trong chương trình giáo dục của một quốc gia. Lịch sử là “căn cước tinh thần” của một dân tộc. Nó dạy con trẻ biết tự hào, biết phân biệt chính - tà, biết yêu quý nền độc lập và căm ghét sự lệ thuộc. Ở bậc tiểu học, sách giáo khoa lịch sử lại càng quan trọng hơn, đó là lớp “màu nền” đầu tiên in vẽ vào trí óc học trò. Vì vậy, bất kỳ tranh cãi nào quanh sách giáo khoa lịch sử đều không thể bị coi nhẹ, càng không thể xử lý theo kiểu “chụp mũ” rồi đẩy qua hướng hình sự hóa theo cách quan quyền được.

Tuần qua, dư luận đặt câu hỏi rất rõ ràng và rất cụ thể rằng "SGK Lịch sử – Địa lí lớp 5 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) có dạy về Hoàng đế Quang Trung hay không?" Người ta không hỏi lớp 8, không hỏi lớp 11, không hỏi “toàn chương trình”. Người ta hỏi đúng một cuốn sách giáo khoa "Lịch sử - địa lý lớp 5".

Vậy mà phản ứng của cơ quan quản lý lại khiến xã hội bức xúc, Bộ GD&ĐT thông qua truyền thông chính thống gắn nhãn các phản ánh đó của nhân dân là “thất thiệt/xuyên tạc”, rồi còn đề nghị cơ quan công an xem xét xử lý. Trên Báo Điện tử Chính phủ, thông tin được nêu theo hướng Bộ cho rằng có hiện tượng phát tán nội dung sai sự thật, bóp méo chương trình giáo dục và đề nghị xử lý. Đó là động tác rất nặng về pháp lý và rất mạnh về quyền lực nhà nước. 

Nhưng xin hỏi thẳng rằng: Bộ đã chứng minh được điều mình kết luận chưa?

Muốn trả lời, không cần tranh cãi cảm tính. Chỉ cần nhìn vào chứng cứ văn bản.

Trong mạch nội dung lịch sử của SGK Lịch sử – Địa lí 5 (Kết nối tri thức - xem ảnh dưới), phần lịch sử đi theo chuỗi bài từ Bắc thuộc, nhà Lý, nhà Trần, Lam Sơn – Hậu Lê… rồi chuyển sang bài “Triều Nguyễn”; không có một bài/tiết riêng về Tây Sơn – Quang Trung trong mạch lớp 5. Và ngay trong bài “Triều Nguyễn”, sách nêu “Năm 1802, sau khi đánh bại Triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua…” rồi triển khai nội dung về triều Nguyễn.

Nói cách khác, trong phạm vi SGK lớp 5, học sinh có thể thấy “Tây Sơn” xuất hiện chưa tới "mười chữ" và được diễn đạt là đối tượng “bị đánh bại”, còn phần được trình bày thành bài, thành mục, thành hoạt động học chính là “Triều Nguyễn”. Nếu hiểu “dạy về Quang Trung” theo nghĩa thông thường và đúng nghiệp vụ sư phạm là phải có bài, có kiến thức trọng tâm, có câu chuyện, có luyện tập – vận dụng, thì dư luận nói “lớp 5 không dạy về Quang Trung” không phải là câu nói vô căn cứ.

Và đây là điểm quyết định đúng/sai đây thưa Bộ GD-ĐT... rằng nếu dân nói đúng trong phạm vi SGK lớp 5, thì việc Bộ dùng truyền thông để quy kết “xuyên tạc” và đề nghị công an xử lý không còn là chuyện “truyền thông vụng” nữa. Nó đã chạm vào một vùng rủi ro pháp quyền là cơ quan nhà nước gán nhãn sai sự thật đối với phản ánh có căn cứ, gây tổn hại danh dự – uy tín của công dân và tạo hiệu ứng “đe nẹt” - thậm chí có thể gọi nặng nề hơn là "đàn áp dư luận".

Trong nhà nước pháp quyền, mọi quyền lực đều phải đứng sau pháp luật và đứng trên chứng cứ. Hiến pháp khẳng định "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, kiến nghị, phản ánh". Quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin cũng là quyền hiến định (thực hiện theo quy định pháp luật). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhấn mạnh việc tôn trọng ý kiến đóng góp của Nhân dân.

Vậy thì người dân mở sách ra, thấy SGK lịch sử - địa lý lớp 5 không có bài về vua Quang Trung, rồi đặt câu hỏi “vì sao?”—đó là quyền, là trách nhiệm, là cách bảo vệ sự thật lịch sử. Nhà nước mạnh là nhà nước biết lắng nghe; ngành giáo dục mạnh là ngành giáo dục biết đối thoại bằng chứng cứ.

Còn khi Bộ vội vã kết luận và “đẩy” sang công an xử lý, lại còn biện minh bằng cách lôi lớp 8 – lớp 11 ra chứng minh là có dạy về vua Quang Trung, thì đó là một lối lập luận đánh tráo khái niệm, vì dân hỏi “lớp 5 có dạy hay không”, Bộ lại trả lời “toàn chương trình giáo dục phổ thông có”. Hai câu đó không hề tương đương. Và càng không thể lấy câu thứ hai để kết tội câu thứ nhất là “xuyên tạc”. Một xã hội nghiêm minh không cho phép đánh tráo sự thật như vậy.

Ở đây, nhiều người đã nhắc đến khái niệm “vu khống”. Pháp luật hình sự quy định tội vu khống là bịa đặt/loan truyền điều biết rõ là sai nhằm xúc phạm danh dự, gây thiệt hại… Tôi không thay cơ quan tố tụng kết luận một cơ quan nhà nước “phạm tội”. Nhưng tôi có quyền và có cơ sở để nói điều này, là Bộ GD&ĐT đang có dấu hiệu lạm dụng ngôn từ pháp lý và quyền lực truyền thông để quy chụp dư luận, trong khi mệnh đề bị quy chụp lại có căn cứ trong chính cuốn SGK lớp 5.

Nói cho đúng bản chất vấn đề, nếu Bộ muốn bảo vệ uy tín, cách duy nhất là chứng minh bằng chứng cứ. Chỉ cần một động tác rất đơn giản là công bố rõ trong SGK lớp 5 có trang nào, mục nào dạy về vua Quang Trung (nếu có). Còn nếu không có, thì Bộ phải thẳng thắn thừa nhận rằng “Dư luận phản ánh đúng phạm vi lớp 5; Bộ đã dùng từ quá mức; Bộ xin lỗi vì đã gây tổn thương và gây hoang mang.” Không ai mất uy tín vì dám xin lỗi khi sai; chỉ mất uy tín khi cố đúng bằng quyền lực.

Vì vậy, điều nhân dân cần lúc này không phải những lời “dạy” rằng "hãy lý trí, đừng tin tin đồn". Nhân dân cần ba việc rất cụ thể:

Thứ nhất, một lời xin lỗi công khai từ Bộ GD&ĐT vì đã quy kết rộng rãi và gắn nhãn nặng nề đối với phản ánh có căn cứ, gây tổn hại danh dự công dân và làm tổn thương niềm tin xã hội.

Thứ hai, một giải trình đúng trọng tâm là trong phạm vi SGK lớp 5, vì sao không bố trí nội dung về Quang Trung – triều đại Tây Sơn một cách tương xứng, trong khi lại để học sinh tiếp cận ngay mốc “đánh bại Tây Sơn” rồi chuyển sang triều Nguyễn. Đây là vấn đề sư phạm, tâm lý lứa tuổi và định hướng nhận thức, không thể nói qua loa.

Thứ ba, đề nghị cơ quan chức năng và ngành công an xem xét trách nhiệm pháp lý – trách nhiệm quản trị đối với việc phát ngôn, truyền thông quy chụp của Bộ. Nếu nội dung quy kết “xuyên tạc” là không đúng trong phạm vi SGK lớp 5, thì phải làm rõ ai tham mưu, ai ký, ai chịu trách nhiệm, và chấn chỉnh để không biến công cụ công quyền thành cây gậy đi dọa nhân dân.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng không phải là bịt miệng dân. Đấu tranh đúng là đặt sự thật lên trên, đặt chứng cứ lên trước, và đặt lòng dân làm gốc. Lịch sử dạy ta một điều đơn giản là triều đại nào đi ngược lòng dân thì sớm muộn cũng mất lòng dân. Ngành giáo dục càng phải nhớ điều đó. Bởi không ai có thể dạy trẻ em “tôn trọng sự thật” trong khi người lớn lại né tránh sự thật.

Nếu Bộ GD&ĐT thật sự vì giáo dục, thì xin hãy bắt đầu từ hành động căn bản nhất của một cơ quan nhà nước trong nhà nước pháp quyền, đó là nhìn thẳng vào chứng cứ, nhận sai khi sai, xin lỗi khi cần xin lỗi. Nhân dân không đòi điều gì quá đáng. Nhân dân chỉ đòi một thứ: sự tử tế và sự thật./.
Môi trường ST.

SỰ KIỆN TỔNG THỐNG MỸ BẮT CÓC TỔNG THỐNG VENEZUELA: LUẬT PHÁP TRONG TAY KẺ MẠNH!

     Chiến dịch ngang ngược “Absolute Resolve”: Lực lượng Delta Force đã bắt Tổng thống Maduro như thế nào?

Đây không phải là một quyết định bộc phát.

Chiến dịch bắt giữ Nicolás Maduro, mang mật danh Operation Absolute Resolve, đã được lên kế hoạch trong nhiều tháng, với một nhóm nòng cốt gồm Stephen Miller, Marco Rubio, Pete Hegseth và Giám đốc CIA John Ratcliffe thường xuyên họp với Tổng thống Trump và nội gián Venezuela .

Lực lượng Delta Force dựng bản sao y hệt nơi ẩn náu an toàn của Maduro và diễn tập cuộc đột kích nhiều lần.

CIA đã triển khai một nhóm nhỏ tại Venezuela , từ tháng 8 để theo dõi di chuyển của ông ta.

Họ cũng có một nguồn tin nội gián rất gần với Maduro, có thể xác định chính xác vị trí của ông ta khi chiến dịch bắt đầu.

Lầu Năm Góc âm thầm điều động hỏa lực khổng lồ vào vùng Caribe: một tàu sân bay, 11 tàu chiến, hơn một chục tiêm kích F-35, máy bay tiếp nhiên liệu, UAV và máy bay gây nhiễu điện tử.

Hơn 15.000 binh sĩ được đưa vào khu vực dưới vỏ bọc các chiến dịch chống ma túy.

Trump phê duyệt nhiệm vụ 4 ngày trước, nhưng các nhà hoạch định quân sự đề nghị chờ thời tiết tốt hơn và ít mây hơn.

Lúc 10:46 tối (giờ EST) hôm qua, ông đưa ra lệnh cuối cùng.

Hơn 150 máy bay xuất phát từ 20 căn cứ trên khắp Tây Bán Cầu - gồm F-35, F-22 và máy bay ném bom B-1 - tấn công các hệ thống phòng không quanh Caracas.

Trump theo dõi phát trực tiếp từ Mar-a-Lago khi Lực lượng Đặc nhiệm bay vào thủ đô ở độ cao thấp, dưới hỏa lực dày đặc.

Một trực thăng trúng đạn nhưng vẫn tiếp tục bay. Người dân đăng video ghi lại đoàn xe.

Binh sĩ mang theo đèn khò để cắt các cánh cửa thép.

Khi họ phá vỡ “pháo đài” của Maduro, ông ta cố chạy vào phòng an toàn nhưng bị ập vào quá nhanh nên không kịp đóng cửa.

Ông ta và vợ đầu hàng trước Lực lượng Đặc nhiệm và các đặc vụ FBI bên trong.

Trong lúc rời lãnh thổ Venezuela, nhiều cuộc đấu súng nổ ra.

Đến 3:20 sáng, trực thăng đã ra tới vùng biển, Maduro bị bịt mắt và còng tay.

7 giờ sau, Trump đăng ảnh ông ta trên boong tàu USS Iwo Jima.
...........
Một nhân vật cấp cao cạnh tổng thống Venezuela Marudo đã bán đứng ông với giá 50 triệu USD cho Mỹ.Có thông tin cho rằng chính lực lượng đặc nhiệm bảo vệ phủ tổng thống đã bắt ông ngay trên giường ngủ rồi giao cho Mỹ.Đây là lí do vì sao không thấy quân đội Venezuela phản ứng khi trực thăng Mỹ bay vào thủ đô Caracas như chỗ không người.

Tổng thống bị quân đội quốc gia nhận tiền ngoại bang làm phản thì thua rồi./.

Ảnh 1. Trên trang của tt Mỹ D. Trump
Ảnh 2. Mỹ ra giá của tt Venezuela
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: VIỆT NAM MỚI HÒA BÌNH - CHƯA CÓ THÁI BÌNH - KHI CHÚNG TA CÒN TỰ CHIA RẼ CHÍNH MÌNH!

     Việt Nam đã hòa bình, nhưng chưa thật sự thái bình. Bởi chiến tranh có thể kết thúc bằng súng đạn, còn vết thương dân tộc chỉ lành khi con người thôi quay lưng với nhau.
Những năm gần đây, một thứ rất nguy hiểm đang len lỏi:
– Phân biệt vùng miền
– Lật sử có chủ đích
– Tôn thờ phương Tây như chân lý
– Và coi việc đấu tố Cộng sản là “khai sáng”
Nguy hiểm ở chỗ: những luận điệu ấy không bắn một viên đạn nào, nhưng có thể làm tan rã một dân tộc từ bên trong:
1) Bắc - Nam không phải hai phe, mà là hai bờ vai của một thân thể: 
Không có miền Bắc thì không có Điện Biên Phủ. Không có miền Nam thì không có Trường Sơn - không có ngày thống nhất.
Máu đổ ở Quảng Trị, ở Củ Chi, ở Đồng Tháp, ở Hà Nội… đều là máu người Việt.
Chia Bắc - Nam để hằn thù hôm nay là phản bội xương máu hôm qua.
Ai còn nuôi tư tưởng “miền này tốt - miền kia xấu” là đang tự chặt rễ chính mình.

2) Lật sử không phải tranh luận - đó là xúc phạm tiền nhân: 
Tranh luận lịch sử là cần thiết.
Nhưng bẻ cong lịch sử, đổi nghĩa từ ngữ, dán nhãn phản động cho anh hùng dân tộc thì không phải học thuật, mà là phá gốc.
Không có Lý - Trần thì không có bờ cõi hôm nay. Không có Quang Trung thì đã có một cuộc Bắc thuộc mới. Không có hàng triệu người ngã xuống trong thế kỷ XX thì không có một Việt Nam độc lập để ngồi chê trách.
Ai ngồi trong hòa bình mà nhạo báng người tạo ra hòa bình, thì đó không phải là tỉnh táo - đó là vô ơn.

3) Thờ phương Tây mù quáng không phải văn minh, mà là mất tự trọng: 
Học cái hay của phương Tây là đúng.
Nhưng tôn thờ vô điều kiện, coi họ luôn đúng, luôn cao thượng, còn dân tộc mình luôn sai, luôn thấp kém - đó không phải là khai sáng.
Đó là đổi chủ trong tư duy.
Một dân tộc trưởng thành là dân tộc:
– biết học hỏi
– biết phê phán
– và biết đứng thẳng
Không cúi đầu trước cường quốc nào.
Không tự đánh mình để làm vừa lòng người khác.

4) Đấu tố Cộng sản bằng thù hằn là con đường cụt: 
Có quyền phê phán chính sách.
Có quyền chỉ ra sai lầm.
Nhưng đấu tố bằng hằn thù, bằng xuyên tạc, bằng phủ định sạch trơn lịch sử dân tộc thì không xây được gì cả.
Chê trách mà không đưa giải pháp là phá.
Chống mà không hiểu lịch sử là mù.
Và nguy hiểm nhất là lấy thù hằn làm bản sắc.

5) Ơn với anh hùng dân tộc không phải là khẩu hiệu: 
Ơn không phải để treo miệng.
Ơn là biết mình từ đâu mà có.
Biết rằng:
–  Mỗi tấc đất có giá
– Mỗi ngày yên ổn là thành quả
– Và độc lập không phải món quà được phát miễn phí
Ai coi thường điều đó, sớm muộn cũng phải trả giá - không bằng máu thì bằng lệ thuộc.

LỜI KẾT: 
Việt Nam chưa thái bình vì chúng ta chưa thống nhất trong nhận thức.
Khi còn chia rẽ, còn lật sử, còn cúi đầu thờ ngoại bang và quay lưng với tiền nhân, thì hòa bình chỉ là trạng thái tạm thời.
Bắc Nam là một nhà.
Lịch sử là nền móng.
Dân tộc là giới hạn cuối cùng không được bước qua.
Ai vượt qua ranh giới đó, dù nhân danh điều gì, cũng đang đứng về phía đối lập với chính dân tộc mình./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “XÁC LẬP MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI TRƯỚC HẾT PHẢI CHUYỂN ĐỔI MẠNH MẼ VỀ TƯ DUY”!

     Ngày 7-1, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về định hướng xây dựng 2 nghị quyết: Về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; về các giải pháp chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Tham dự buổi làm việc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư; Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Tại buổi làm việc, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu nội dung xây dựng 2 nghị quyết của Trung ương. Nhiều đại biểu tập trung đóng góp ý kiến tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm, giàu tính thực tiễn, đóng góp nhiều nội dung quan trọng để hoàn thiện các nội dung liên quan.

Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, yêu cầu quan trọng và cấp bách của việc chuyển đổi mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ và việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. Kết quả nghiên cứu bước đầu của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương là khá toàn diện, đề xuất được những chủ trương, giải pháp lớn để thực hiện những yêu cầu này.

Tổng Bí thư đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện 2 Dự thảo Nghị quyết quan trọng trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương theo quy định.

Về yêu cầu chung, Tổng Bí thư chỉ rõ, việc xây dựng 2 nghị quyết phải đạt 5 yêu cầu: Phải bám sát và thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, mục tiêu được nêu trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; phải có tầm nhìn xa, bao quát, đủ chiều sâu, không bị bó hẹp bởi lợi ích ngắn hạn hay tư duy nhiệm kỳ; phải xuất phát từ thực tiễn, đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam, không rập khuôn máy móc theo mô hình nào của nước ngoài; bảo đảm tính khả thi và tính hành động cao, gắn với lộ trình, bước đi, nguồn lực thực hiện; phải có tính hiệu triệu, truyền cảm hứng, tạo được sự thống nhất cao trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong xã hội và khơi dậy khát vọng cống hiến, khát vọng vươn lên của dân tộc bằng tri thức và sáng tạo.

Về một số định hướng lớn, Tổng Bí thư đề nghị, chuyển đổi mô hình phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới trước hết là chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ và năng suất; từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ Nhà nước “làm thay” sang “tạo điều kiện để xã hội và doanh nghiệp sáng tạo”.

Phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế (kinh tế Nhà nước dẫn dắt, kiến tạo, mở đường; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia).

Tổng Bí thư yêu cầu nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa ổn định và phát triển. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nhân dân. Tăng trưởng cao nhưng phải trên nền tảng ổn định, lấy ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn là điều kiện tiên quyết, hàng đầu.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ không chỉ là yêu cầu về kinh tế, mà là vấn đề chiến lược tổng hợp, góp phần nâng cao hiệu suất quốc gia, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý, quản trị của Nhà nước, hoàn thiện thể chế, phát triển con người, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Đây là con đường bắt buộc phải thực hiện để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm của đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Mọi quyết sách về phát triển đều phải đặt trong tổng thể này.

Xác lập rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới, mô hình tăng trưởng mới và là yếu tố căn cốt nhất để thực hiện mục tiêu tăng trưởng dài hạn 2 con số. Đồng thời, xác định con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước, là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Phát triển khoa học, công nghệ phải gắn với phát triển con người Việt Nam toàn diện, có tri thức, bản lĩnh, đạo đức và khát vọng cống hiến.

Tổng Bí thư lưu ý, tăng trưởng và phát triển cần đi liền với tăng cường tự chủ chiến lược quốc gia trên các lĩnh vực; củng cố quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, tự lực, tự cường của nền kinh tế là cơ sở để chủ động đối phó với những yếu tố nhanh, bất định của tình hình bên ngoài; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; phát huy cao độ dân chủ, trí tuệ xã hội và khát vọng sáng tạo của toàn dân, tạo sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trong toàn hệ thống chính trị.

Về lộ trình thời gian và phân công trách nhiệm, Tổng Bí thư đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tiếp tục chủ trì phối hợp với các cơ quan khẩn trương nghiên cứu xây dựng 2 nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; về các giải pháp chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư cho rằng, cần xây dựng nghị quyết về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, phát triển; đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với các cơ quan nghiên cứu xây dựng và trình Trung ương trong năm 2026.

Với các nghị quyết lớn được giao, trách nhiệm của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương sẽ rất nặng nề, Tổng Bí thư đề nghị cần tập trung cao độ về thời gian và tâm sức, chủ động nghiên cứu sâu lý luận và tổng kết thực tiễn, không ngại đổi mới tư duy, không né tránh vấn đề khó; huy động trí tuệ của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, tham mưu cho Trung ương những nội dung đột phá thực sự, góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn tới./.

Yêu nước ST.

TỈNH TÁO VỚI CHIÊU TRÒ MƯỢN CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ ĐỂ CHỐNG PHÁ!

     Trong thời đại công nghệ số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, tư tưởng của con người rất dễ bị chi phối bởi các dòng thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là khi nó được thế lực thù địch, cơ hội chính trị mượn các diễn ngôn chính trị làm phương tiện để thao túng. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện và phê phán những chiêu trò ẩn giấu sau những diễn ngôn chính trị là rất cần thiết, có ý nghĩa góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những hệ lụy khôn lường từ diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”

Diễn ngôn chính trị là kiểu diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước. Diễn ngôn chính trị không chỉ giới hạn trong phát biểu của các chính trị gia mà còn được thể hiện qua các văn kiện pháp lý, chiến dịch truyền thông, các cuộc tranh luận công khai và hiện nay nó tồn tại cả ở các phương tiện truyền thông đại chúng, trên các nền tảng mạng xã hội hiện đại. Do tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại” bởi các chủ thể khác nhau nên diễn ngôn chính trị luôn chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực.

“Đồng phục tư tưởng” là một diễn ngôn chính trị đã xuất hiện từ lâu, nhưng gần đây nhất nó được các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến mang tâm thế chống phá “diễn lại” qua một số bài viết trên mạng xã hội. Ẩn chứa đằng sau cụm từ gợi hình này là những chiêu trò mang vẻ “khoa học giả định” nhưng lại nhằm mục đích phê phán, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi nhắc đến “đồng phục tư tưởng”, nhiều người, nhất là những người thiếu nhãn quan chính trị sắc bén sẽ dễ dàng chấp nhận nó và xem đó là cách “đặt lại vấn đề” về sự đa dạng tư tưởng, dung nạp chính trị và sự tôn trọng lịch sử đa chiều, mà đâu biết rằng nó đã và đang tạo ra những hệ lụy hết sức nguy hại trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, tạo ra sự hoài nghi đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi sử dụng diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”, các thế lực thù địch đã cố tình dùng lối nói bóng bẩy nhằm gán ghép sự lãnh đạo tư tưởng của Đảng thành thứ gì đó “áp đặt”, “độc đoán”. Đây là cách họ tiêm nhiễm công chúng, khiến một số người, nhất là giới trẻ và những người chưa có hiểu biết lý luận dần nghi ngờ và không còn tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng. Một khi sự nghi ngờ len lỏi, họ sẽ nghĩ rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “đã lỗi thời” hoặc “không còn phù hợp” và dần mất niềm tin. Khi gán nhãn “đồng phục tư tưởng” lên Chủ nghĩa Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch còn hướng tới phủ định công lao và nỗ lực phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không tỉnh táo trước diễn ngôn này, người dân sẽ ngộ nhận rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam không có sự đổi mới trong tư duy, tư tưởng mà chỉ có sự rập khuôn máy móc, chỉ có “một màu duy nhất”, và khi đó, niềm tin vào nỗ lực đổi mới của Đảng bị suy giảm, không chỉ trong nhân dân, mà thậm chí còn cả trong chính nội bộ Đảng.

Thứ hai, chia rẽ và kích hoạt xung đột nhận thức. Khi bị tiêm nhiễm vào cái gọi là “đồng phục tư tưởng”, nhiều người sẽ cho rằng sự thống nhất trong công tác tư tưởng là “sự ép buộc” và không thấy được sự cần thiết của tính thống nhất trong đường lối cách mạng. Diễn ngôn này đã và đang tạo ra sự xung đột, phân hóa giữa các thế hệ và các vùng miền. Chẳng hạn, một bộ phận những người từng gắn bó với chế độ cũ (hoặc thế hệ kế cận họ), khi nghe đến cụm từ “đồng phục tư tưởng”, họ dễ liên tưởng đến hình ảnh bị “áp đặt”.

Trong khi đó, một số người hoặc các thế hệ trẻ lớn lên trong thời bình, ít va chạm trực tiếp với quá khứ lại không chia sẻ cảm xúc hoặc ít đồng cảm. Hệ quả là, thay vì tìm thấy mẫu số chung để hòa giải ký ức và tăng cường gắn kết, các bên lại sa vào những tranh luận không đáng có, nhất là khi lại dựa trên cảm xúc lịch sử nhiều hơn lý trí và sự thấu hiểu toàn diện. Điều này vô tình “đóng băng” những mâu thuẫn lịch sử vốn có thể được hóa giải qua đối thoại và xây dựng niềm tin. Diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” đã lợi dụng chính những vết rạn lịch sử và cảm xúc chia rẽ, biến nó thành chất xúc tác cho xung đột ý thức hệ, từ đó kích động và khơi dậy những nghi ngờ đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, tạo ra nguy cơ “phân mảnh” hệ giá trị trong một xã hội đang cần sự đồng thuận cao. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi những biến động địa-chính trị, xung đột lợi ích, khủng hoảng giá trị và âm mưu “diễn biến hòa bình” len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống, thì sự nhất quán trong hệ giá trị cốt lõi càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với Việt Nam, hệ giá trị đó chính là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là khuôn mẫu khép kín, mà là nền tảng linh hoạt, dẫn dắt tiến trình đổi mới tư duy và hành động một cách kiên định... Vậy nên, diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” chính là thủ đoạn nhằm gieo rắc sự hoài nghi đối với tính chính danh và khả năng quy tụ niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, làm lệch hướng phản biện, dễ dẫn tới phản kháng cực đoan hoặc thờ ơ chính trị. Khi “đánh đồng” tư tưởng và công tác tư tưởng là một dạng “đồng phục”, các thế lực thù địch đã sử dụng thủ pháp đánh tráo khái niệm nhằm tầm thường hóa tư tưởng (vốn là nền tảng nhận thức, lập trường và phương hướng hành động) như một dạng hình thức bề ngoài có thể thay đổi tùy hứng. Bởi trong lẽ thông thường, “đồng phục” thường gợi liên tưởng về sự đồng đều, thống nhất, nhưng đồng thời cũng ngầm ám chỉ sự đồng hóa, mất cá tính. Đây là cách họ dẫn dắt đến luận điểm: Nếu tư tưởng chỉ là “đồng phục” thì nên được “đổi mẫu”, “thay mới” theo mùa, theo thời gian, vì thế, nó cũng khiến người dân rơi vào tình trạng thờ ơ chính trị và cho rằng “tư tưởng nào cũng được, không cần quan tâm”.

Thực tiễn ở Việt Nam không có cái gọi là “đồng phục tư tưởng”

Về bản chất, diễn ngôn chính trị thường mang tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại”. Tuy nhiên, cái nguy hại không thể hiện ở diễn ngôn, mà nằm ở cách diễn ngôn đó được dùng để đánh tráo khái niệm. Vậy nên, chúng ta cần lý trí tỉnh táo để nhận diện, cần bản lĩnh để phản biện và cần tri thức để lý giải thấu đáo, khoa học.

Trước hết, cần nói rằng, tư tưởng không phải “đồng phục”, mà là cốt lõi của bản lĩnh dân tộc. Tư tưởng là những suy nghĩ, quan điểm, niềm tin mang tính cá nhân. Nhưng khi vượt ra khỏi giới hạn cá nhân để hòa quyện với những đòi hỏi sâu xa của thời đại, với nhu cầu vận động của xã hội và lịch sử thì nó không còn là tư tưởng đơn lẻ mà trở thành hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm tức thời hay ngẫu nhiên. Nó được hình thành qua quá trình kết tinh lịch sử: Từ điều kiện vật chất-xã hội cụ thể, từ lợi ích và yêu cầu chính đáng của các giai cấp, từ chiều sâu văn hóa-lịch sử và đặc biệt từ vai trò sáng tạo, tổng kết, lý giải thực tiễn của con người. Vì thế, hệ tư tưởng không thể bị giản lược, không thể xếp vào thứ “trang phục” tinh thần theo kiểu “khoác lên” rồi “cởi bỏ”. Ví von tư tưởng là “đồng phục” để rồi hô hào “cởi bỏ” là một chiêu trò nhằm tầm thường hóa những gì thuộc về chiều sâu lý luận chính trị khoa học và bản lĩnh dân tộc. 

Với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn. Đây không phải là “bộ cánh của quá khứ” mà là kim chỉ nam, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và tiếp tục soi đường trong kỷ nguyên mới.

Trong dòng chảy lịch sử, thế giới từng chứng kiến nhiều mô hình chính trị khắc nghiệt, nơi tư tưởng bị đồng hóa, sáng tạo bị trấn áp và phản biện trở thành điều cấm kỵ. Nhưng tại Việt Nam, thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã cho thấy một hướng đi khác: Không gian tư tưởng không bị bóp nghẹt mà được nuôi dưỡng trong tinh thần đổi mới, khoa học và nhân văn. Đảng không chỉ kiên định với nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn chủ động cập nhật yêu cầu thời đại, mở rộng cánh cửa cho phản biện xây dựng và sáng tạo đổi mới. Phản biện không bị xem là đối lập mà được xem là nghĩa cử có trách nhiệm với sự nghiệp phát triển đất nước. Sáng tạo không bị gò bó, mà được khơi nguồn từ chính thực tiễn đời sống sôi động, từ tiếng nói của nhân dân, của trí thức, nhà khoa học, cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn 40 năm đổi mới của Việt Nam đã chứng minh rõ ràng: Đất nước không ngừng hoàn thiện, tự điều chỉnh và phát triển dựa trên một nền tảng tư tưởng vững chắc, linh hoạt, sáng tạo. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nền tảng trụ cột, định hướng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua không chỉ là sự tăng lên của các chỉ số, chỉ tiêu mà còn là chứng cứ sống động cho thấy tư duy lãnh đạo của Đảng không rập khuôn, không giáo điều và luôn vận động, sáng tạo để thích nghi và dẫn dắt Nhà nước và xã hội. Từ một quốc gia nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ, sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những nền kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) duy trì ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; đời sống người dân không ngừng cải thiện, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng liên tục. Những kết quả này là nhờ Đảng ta kịp thời nắm bắt những chuyển biến của tình hình và xử lý thích ứng, linh hoạt với sự biến động bất thường, tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức, lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Những thành tựu mà chúng ta đạt được là những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định, ở Việt Nam hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “đồng phục tư tưởng” mà các thế lực thù địch rêu rao, bịa đặt./.
Môi trường ST.