Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

CHIÊU TRÒ “BÌNH CŨ, RƯỢU ĐỘC”!

     Sáng chủ nhật, dưới gian bếp phảng phất mùi khói, vợ chồng ông Tỉnh lúi húi làm mâm cơm sum họp gia đình, còn đứa cháu trai tên Vinh được bố mẹ “cử” sang giúp ông bà thì cắm mặt vào điện thoại. Bất chợt Vinh la lên làm ông Tỉnh giật mình:

- Ông bà ơi, thế này thì loạn rồi!

Ông Tỉnh nhíu mày:

- Loạn cái gì mà loạn? Mau đi giúp ông bà lau bát đĩa cho sạch sẽ!

Vinh đến giơ điện thoại cho ông nội xem, miệng liến thoắng:

- Đây ông, toàn tin cập nhật nóng hổi. Các vụ xô xát, cháy nổ, va chạm xe... liên tục xảy ra. “Dân mạng” thì bình luận kêu ca chính quyền quản lý yếu kém. Cháu vừa chia sẻ để mọi người cùng biết và phòng tránh những sự việc đáng tiếc!

- Lại cái thói “tay nhanh hơn não” rồi cháu ạ! 

- Ông thì cái gì cũng nghi ngờ. Bây giờ tin tức cập nhật từng giây, có hình ảnh thực tế hẳn hoi. Với lại, tài khoản của người đăng tin có hàng chục nghìn lượt theo dõi chứ có phải tài khoản ảo đâu ông ơi! 

Thấy đứa cháu nội "trẻ người non dạ", ông Tỉnh nghiêm giọng:

- Cháu cứ dán mắt vào điện thoại mà lại mù mờ thông tin, không biết phân biệt thật, giả. Mấy hôm trước, bản tin truyền hình đã cảnh báo về những thông tin như thế này rồi. Không ít đối tượng xấu đang cố tình sử dụng phần mềm cắt ghép những video, hình ảnh từ các vụ việc cũ mèm, chèn giọng đọc AI (trí tuệ nhân tạo) vào rồi giật tít mập mờ, làm như thể sự việc vừa mới xảy ra.      

- Ô hay... Thế họ mất công “xào” thông tin cũ để làm gì ông nhỉ?

- Đó không chỉ đơn giản là “câu view” rẻ tiền, mà chính là chiêu trò “bình cũ, rượu độc” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chúng cố tình “nhặt nhạnh” những vụ việc tiêu cực cũ kỹ và đã được cơ quan chức năng giải quyết, rồi chắp ghép hòng vẽ nên một bức tranh xã hội u ám, đầy rẫy bất ổn. Một bộ phận người dân tò mò, nhẹ dạ như cháu đã trở thành “loa phóng thanh” tán phát thông tin ấy gây hoang mang dư luận, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. Mục đích sâu xa của chúng là bôi nhọ hình ảnh đất nước ta, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và năng lực quản lý của chính quyền địa phương, lực lượng chức năng. Đó chính là một thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của thế lực thù địch đấy!

- Vậy mà cháu cứ tưởng mình chia sẻ những thông tin này là làm việc tốt, giúp mọi người không mắc phải các sự cố.

- Muốn làm việc tốt nhưng lại thiếu hiểu biết, không phân biệt được thông tin thật, giả mà chia sẻ cho mọi người thì thành tiếp tay cho kẻ xấu đấy cháu ạ! Luật An ninh mạng đã quy định rõ, hành vi tán phát tin giả, tin sai sự thật gây hoang mang dư luận sẽ bị xử phạt nặng, thậm chí bị xử lý hình sự đấy!

- Cháu đã hiểu và sẽ xóa ngay những chia sẻ của mình. Từ nay cháu sẽ cảnh giác, tỉnh táo như ông để không bị lừa, không mắc mưu kẻ xấu.

Ông Tỉnh gật đầu hài lòng:

- Không gian mạng là ảo, nhưng hệ quả là thật đó. Khi tiếp nhận thông tin, cháu phải tỉnh táo, biết “gạn đục khơi trong” nhé! Thôi, ông cháu ta tiếp tục làm việc kẻo bà lại phê bình chỉ mải tán chuyện...
QV-ST!

VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC KHÔNG PHỦ NHẬN VAI TRÒ ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG NHẤT CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN!

THẤY ĐÚNG VAI TRÒ ĐỂ KHÔNG NGỘ NHẬN

     Sau khi Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6-1-2026 về phát triển kinh tế nhà nước (KTNN), xuất hiện những quan điểm sai lệch cho rằng vai trò chủ đạo của KTNN phủ nhận động lực của kinh tế tư nhân (KTTN) theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực chất, theo tinh thần hai nghị quyết trên, hai khu vực kinh tế không những không đối lập mà bổ sung, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhận thức đúng để tránh cực đoan, khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng.

Theo tinh thần Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về vai trò chủ đạo của KTNN và một động lực quan trọng nhất của KTTN thì một bên giữ vai trò định hướng, điều tiết, còn bên kia tạo ra xung lực tăng trưởng. Nhận thức đúng mối quan hệ này là “chìa khóa” vận dụng đúng đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

Tính thống nhất biện chứng giữa KTNN và KTTN 

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, việc xác định đúng vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế luôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đặc biệt, nhận thức về mối quan hệ giữa KTNN và KTTN vẫn còn tồn tại những cách hiểu chưa đầy đủ, thậm chí sai lệch, bóp méo. Có quan điểm cho rằng việc khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò động lực quan trọng của KTTN. Tuy nhiên, cách nhìn này chưa phản ánh đúng tinh thần trong các văn kiện của Đảng cũng như thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta. 

Theo đó, Nghị quyết 79 xác định KTNN giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết, ổn định và dẫn dắt nền kinh tế. Vai trò này không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế thuần túy mà còn gắn với yêu cầu bảo đảm định hướng XHCN, giữ vững các cân đối lớn, kiểm soát những lĩnh vực then chốt có tính chiến lược của quốc gia. Như vậy, chủ đạo ở đây phải được hiểu là vai trò dẫn dắt vĩ mô, thể hiện ở khả năng chi phối các “điểm nút” quan trọng của nền kinh tế, qua đó tạo nền tảng và môi trường ổn định cho toàn bộ nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Trong khi đó, Nghị quyết 68 nhấn mạnh KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, có vai trò thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế. Điều này phản ánh thực tế rằng khu vực KTTN, với tính linh hoạt, năng động và khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, chính là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội. Ở đây, động lực quan trọng nhất được hiểu là yếu tố có khả năng tạo ra xung lực phát triển mạnh mẽ, làm gia tăng tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Hai cách tiếp cận trên phản ánh hai phương diện khác nhau về bản chất nhưng gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế. Một bên tạo ra “khung”, “trật tự” và “định hướng” cho nền kinh tế vận hành ổn định, bền vững; bên kia tạo ra “sức sống” và “xung lực” để nền kinh tế phát triển nhanh và hiệu quả. Hai yếu tố này không những không mâu thuẫn mà còn là điều kiện của nhau: Không có sự dẫn dắt, định hướng của KTNN thì động lực từ KTTN có thể phát triển lệch hướng, thiếu bền vững; ngược lại, nếu không có động lực mạnh mẽ từ KTTN thì vai trò chủ đạo của KTNN cũng khó được hiện thực hóa một cách hiệu quả trong thực tiễn. 

Nói cách khác, nếu KTNN là “trục định hướng” của nền kinh tế thì KTTN chính là “động cơ tăng trưởng”. Hai yếu tố không thể thay thế nhau, càng không thể triệt tiêu lẫn nhau và không thể tuyệt đối hóa vai trò của KTNN mà xem nhẹ vai trò động lực của KTTN, hoặc ngược lại, đề cao KTTN một cách cực đoan mà phủ nhận vai trò chủ đạo của KTNN dẫn đến sai lầm về mặt nhận thức đối với bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Thể hiện rõ vai trò trong thực tiễn vận hành nền kinh tế

Theo tinh thần của Nghị quyết 79, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN thể hiện rõ nhất ở việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt, chi phối các cân đối lớn và có ý nghĩa nền tảng của nền kinh tế như: Năng lượng, tài chính-ngân hàng, viễn thông và hạ tầng giao thông. Đây là những lĩnh vực có tác động lan tỏa mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Chẳng hạn, trong hệ thống tài chính-ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối thị phần tín dụng và bảo đảm an toàn hệ thống. Trong lĩnh vực năng lượng, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ lực trong sản xuất và cung ứng điện, xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Những yếu tố này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang tính chính trị-xã hội sâu sắc. 

Vai trò chủ đạo của KTNN còn thể hiện ở chức năng điều tiết vĩ mô. Chẳng hạn, trong giai đoạn 2021-2025, khi nền kinh tế chịu tác động của đại dịch Covid-19, tác động từ sự bất ổn về chính trị, xung đột vũ trang ở một số khu vực trên thế giới và những biến động kinh tế toàn cầu, với khả năng kiểm soát của mình, KTNN đã trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế, giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc lớn từ bên ngoài, đồng thời bảo đảm các mục tiêu phát triển ổn định trong dài hạn.

Việc đẩy mạnh đầu tư công, phát triển kết cấu hạ tầng, hay các gói hỗ trợ kinh tế đều dựa trên nền tảng của KTNN. Riêng năm 2025, Chính phủ đã huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng trái phiếu để đầu tư vào các dự án hạ tầng lớn như đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng, năng lượng, qua đó vừa kích thích tăng trưởng vừa tạo nền tảng dài hạn cho phát triển. Điều này cho thấy chỉ có KTNN mới đủ tiềm lực và khả năng dẫn dắt các chương trình đầu tư quy mô lớn, mang tính chiến lược.

Số liệu thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ trọng đóng góp trực tiếp của khu vực KTNN trong tổng sản phẩm nội địa (GDP) không chiếm đa số, song vẫn duy trì ở mức khoảng 20% trong giai đoạn gần đây. Điều này cho thấy rõ rằng vai trò chủ đạo không được đo bằng tỷ trọng tuyệt đối, mà bằng khả năng kiểm soát các “điểm nút chiến lược”, nắm giữ các “huyết mạch” của nền kinh tế, KTNN đã phát huy vai trò, chức năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Ở chiều ngược lại, theo tinh thần Nghị quyết 68, vai trò của KTTN được thể hiện rõ qua các chỉ số định lượng trong các giai đoạn phát triển. Trước hết, xét về đóng góp vào GDP, giai đoạn 2021-2025, khu vực KTTN chiếm khoảng 50-51% GDP, vượt xa khu vực KTNN và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho vai trò trung tâm của khu vực tư nhân trong tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Không chỉ vậy, KTTN còn đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, cho thấy vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn lực tài chính rất lớn cho Nhà nước. Đồng thời, khu vực này sử dụng khoảng 82-85% lực lượng lao động của cả nước, tương đương hơn 40 triệu người. Điều này khẳng định KTTN chính là khu vực giải quyết việc làm chủ yếu, góp phần quan trọng vào ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Về đầu tư xã hội, khu vực tư nhân chiếm khoảng 56-60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong những năm gần đây. Đây là nguồn lực rất lớn, thể hiện khả năng huy động vốn trong dân cư và doanh nghiệp, đồng thời phản ánh niềm tin của xã hội vào khu vực tư nhân. Đây là một trong những lý do quan trọng khiến KTTN được xác định là động lực quan trọng nhất.

Ngoài ra, KTTN có vai trò nổi bật trong hoạt động xuất, nhập khẩu, đóng góp khoảng 35% kim ngạch nhập khẩu và 25% kim ngạch xuất khẩu, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, khu vực này là lực lượng đi đầu trong đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao năng suất lao động. Những yếu tố này tạo ra “xung lực” phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế, giúp duy trì tốc độ tăng trưởng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Điểm đáng chú ý là khu vực KTTN hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (theo số liệu thống kê năm 2025, số lượng doanh nghiệp tư nhân là 940.000). Điều này cho thấy sự lan tỏa rộng khắp của khu vực này trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, thương mại đến dịch vụ. Chính sự lan tỏa này tạo ra hiệu ứng dây chuyền, thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, qua đó khẳng định vai trò động lực của KTTN không chỉ ở quy mô mà còn ở tính lan tỏa và khả năng kích thích toàn bộ nền kinh tế.

Từ những số liệu trên có thể rút ra nhận định mang tính bản chất: Nếu KTNN giữ vai trò chủ đạo thông qua việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt và điều tiết vĩ mô thì KTTN chính là lực lượng trực tiếp tạo ra tăng trưởng, việc làm và đổi mới sáng tạo. Một bên tạo “nền tảng và trật tự”, bên kia tạo “động lực và sức sống”. Hai vai trò này khác nhau về chức năng nhưng thống nhất trong mục tiêu chung là phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Đây chính là mối quan hệ biện chứng, bổ sung lẫn nhau, phản ánh đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.
QV-ST!

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ SỰ ĐỐI LẬP GIỮA KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC!

     Để phát huy các nguồn lực, tạo đột phá phát triển trong kỷ nguyên mới, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước (gọi tắt là Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79).

Ngay lập tức nhiều quan điểm chống phá, xuyên tạc cho rằng kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân hoàn toàn đối lập nhau; coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất đồng nghĩa với kinh tế nhà nước là thứ yếu, không còn vai trò chủ đạo? Trước hết cần khẳng định: Đảng không đặt các thành phần kinh tế vào quan hệ triệt tiêu lẫn nhau, mà xác lập chúng trong một chỉnh thể thống nhất, cùng phát triển vì mục tiêu chung. Việc nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, đối lập giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay.

Khi sự phát triển của tư duy kinh tế trở thành mục tiêu xuyên tạc

Qua bốn thập niên đổi mới, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời không ngừng phát triển tư duy lý luận kinh tế cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đó là quá trình vừa giữ vững nguyên tắc chiến lược, vừa linh hoạt trong phương thức tổ chức thực hiện nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Cần khẳng định rằng Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 không phải hai quyết định rời rạc, trái chiều nhau. Đó là biểu hiện sâu sắc của tư duy phát triển thống nhất trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của nền kinh tế theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIV xác định: “Phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Đó chính là định vị đúng vị trí của từng thành phần kinh tế, theo đó kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân dù có vai trò, tỷ trọng, mức đóng góp khác nhau trong tổng thể nền kinh tế, nhưng cùng hướng về một mục tiêu chung là phát triển đất nước nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó cũng là sự nhất quán cả trong nhận thức, tư duy và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, tuy nhiên nhiều luận điệu xuyên tạc tìm cách bẻ cong nhận thức. Trên các nền tảng mạng xã hội, trên nhiều diễn đàn núp bóng phân tích chính sách, không ít ý kiến cố tình đặt Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 ở hai cực đối lập không thể dung hợp nhau. Chúng lập luận rằng nếu xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”, thì nhấn mạnh kinh tế nhà nước “chủ đạo” là “mâu thuẫn”; rằng Đảng đã không “nhất quán” ngay trong tư duy lãnh đạo và “lúng túng trong tư duy phát triển”; rằng Đảng “vừa muốn theo thị trường, vừa không dứt khỏi tư duy bao cấp”…

Thoạt nhìn luận điệu có vẻ như “phản biện chính sách” rất “thiện chí”; rất “công tâm”, rất “khoa học” nhưng bản chất bên trong chính là chúng cố tình tấn công vào nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Ở đây cũng không quá khó để nhận ra thủ đoạn dẫn dắt chính trị khá tinh vi: Cắt hai mệnh đề khỏi cùng một chỉnh thể đường lối, rồi dẫn dắt dư luận nhìn nhận chúng như hai lựa chọn loại trừ nhau. Đây chính là cách nhanh nhất, ngắn nhất để biến một chủ trương nhất quán thành “lỗi chính sách” nghiêm trọng cần khắc phục. Điều đó sẽ nhanh chóng dẫn tới mâu thuẫn trong cách nhìn, cách nghĩ của công chúng. Nguy hiểm ở chỗ nếu một chủ trương đúng nhưng bị cắt khúc, tách biệt, kéo lệch và lặp lại đủ nhiều cũng sẽ dẫn tới sự hoang mang, hoài nghi, dần dần len lỏi vào tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và người dân. Qua đó tác động tới sự đồng thuận trong nhận thức xã hội về những vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước và hệ lụy là rất lớn nếu không đấu tranh, bác bỏ kịp thời.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, lâu nay thủ đoạn xuyên tạc quen thuộc của các thế lực thù địch vẫn cố tình “đối lập hóa” nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước, nhất là các nghị quyết, các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước để tạo mâu thuẫn, xáo trộn trong tư tưởng, nhận thức của xã hội. Tuy nhiên, đối với Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, thủ đoạn này không còn “thô ráp” như trước, mà được bọc trong lớp ngôn ngữ có vẻ “khách quan” như: Phản biện; kiến nghị chính sách; so sánh, phân tích; góp ý cải cách... để tạo cảm giác rất “chân thành”, “cầu thị”, “vì dân” nhưng thực chất là để che đậy tinh vi dụng ý chính trị thâm sâu bên trong của các thế lực thù địch.

Thủ đoạn “ru ngủ” này dễ dẫn dắt người đọc, người nghe, người xem tới sự tò mò trong nhận thức, dần dần tới hoài nghi, mâu thuẫn nếu không đủ tỉnh táo để nhận ra trước khi quá muộn. Nói tới Nghị quyết 79, chúng bám vào cụm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, rồi gán ghép rằng đó là “tư duy bao cấp kéo dài”, “ưu ái doanh nghiệp nhà nước”, thậm chí “đi ngược quy luật thị trường”. Nói tới Nghị quyết 68, chúng thổi phồng cụm “một động lực quan trọng nhất”, suy diễn rằng Đảng đã “thừa nhận vai trò quyết định của kinh tế tư nhân”, rồi ngụy biện: Nếu kinh tế tư nhân đã là động lực lớn, thì kinh tế nhà nước còn “chủ đạo” để làm gì? Ở đây điểm đánh tráo nằm ở chỗ chúng cố biến hai khái niệm khác nhau về vai trò, chức năng thành hai lựa chọn đối nghịch, loại trừ nhau. “Chủ đạo” bị kéo thành “bao trùm, lấn át”. “Động lực” bị kéo thành “thay thế, chi phối”.

Quan hệ đúng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là quan hệ bổ trợ, phân công và cộng hưởng, một bên giữ nền, bảo đảm các cân đối lớn; bên kia phát huy sức bật thị trường, giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chúng khác nhau về chức năng, vai trò nhưng không đối lập, loại trừ hay buộc phải lựa chọn giữa có và không. Đại hội XIV đã xác định rất rõ: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Như vậy, quan điểm của Đảng đã rất rõ ràng, nhất quán, không hề mâu thuẫn trong định vị vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và đặt chúng trong một tổng thể có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau cùng hướng tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một chủ trương kinh tế đúng không phải vì nó làm mạnh riêng một khu vực kinh tế nào, mà vì nó làm đất nước phát triển hơn, nhân dân hưởng lợi nhiều hơn, xã hội ổn định, văn minh hơn, tạo sự đồng thuận lớn hơn trong quần chúng nhân dân. Mọi thủ đoạn cố ý đẩy kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân sang hai thái cực đối lập về thực chất là cố tình phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích thiết thực của nhân dân và cơ hội phát triển hùng cường của dân tộc trong kỷ nguyên mới. 

Kinh tế nhà nước - vai trò chủ đạo không thể bị làm lệch nghĩa

Trước hết cần khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không phải là sự tiếp tục cơ chế quản lý tập trung bao cấp trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, càng không phải ôm đồm, bao sân, lấn át hoặc làm suy giảm vai trò của các thành phần kinh tế khác, nhất là kinh tế tư nhân. Cốt lõi của vai trò chủ đạo là phải bảo đảm sử dụng các nguồn lực kinh tế hiệu quả nhất để thực hiện các chức năng điều tiết, ổn định vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, thực hiện vai trò định hướng chiến lược, giữ vững quốc phòng, an ninh đất nước. Kinh tế nhà nước chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực hạ tầng chiến lược và các ngành kinh tế có tính chất nền tảng như năng lượng, dầu khí, tài chính - ngân hàng, viễn thông, hạ tầng số, logistics hoặc những lĩnh vực gắn với quốc phòng - an ninh… Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước cũng là một thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Do vậy, các nguồn lực kinh tế nhà nước nắm giữ không thể phân bổ, sử dụng tùy tiện, ngược lại phải dựa trên tín hiệu thị trường để tính toán hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí nguồn lực.

Kinh tế tư nhân - động lực quan trọng nhất, không phải lực lượng đối lập

Xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” không có nghĩa trao cho khu vực này vai trò thay thế kinh tế nhà nước. Vai trò động lực quan trọng nhất không đồng nghĩa với chi phối kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, càng không phải là lực lượng kinh tế đối lập. Nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng ở những lĩnh vực trọng yếu, cốt lõi, thì kinh tế tư nhân sẽ là nơi thể hiện rõ nhất sức sống của thị trường, khả năng cạnh tranh, tính thích ứng nhanh với đổi mới công nghệ và cải thiện năng suất lao động. Nghị quyết 68 vì thế là kết quả của một quá trình tổng kết thực tiễn đủ dài để đi đến thống nhất nhận thức: “Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài”.

Thực tiễn cũng cho thấy vai trò và đóng góp to lớn của kinh tế tư nhân cho sự phát triển kinh tế, xã hội: “Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế”. Những con số biết nói đó cho thấy kinh tế tư nhân là nguồn lực rất quan trọng của nền kinh tế, sự phát triển của nó không đe dọa hoặc suy yếu vai trò kinh tế nhà nước mà ngược lại. Khi kinh tế tư nhân được tự do phát triển trong những lĩnh vực pháp luật không cấm sẽ phát huy được vai trò động lực cho phát triển kinh tế, xã hội, sẽ là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đóng góp to lớn trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, thịnh vượng.

Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 không phải hai văn bản tách rời, càng không phải hai hướng đi đối lập, loại trừ nhau. Mà là hai bộ phận hữu cơ trong tổng thể đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong tổng thể đó, kinh tế nhà nước phải đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân phải được giải phóng sức sản xuất để trở thành một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo. Mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá, đối lập giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cần được vạch trần, bác bỏ./.
QV-ST!

THẤM NHUẦN GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN MINH CỦA ĐẢNG ĐỂ PHÒNG NGỪA SUY THOÁI

     Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã làm từ nhiều năm nay góp phần ngăn chặn, đẩy lùi được một phần sự suy thoái ở một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên làm giảm uy tín của Đảng. Trong hoàn cảnh mới, để hoàn thành trọng trách trước đất nước, nhân dân để xứng đáng đảng cầm quyền thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì Đảng phải tự vượt lên mình để củng cố và hoàn thiện tấm gương văn hóa soi rọi con đường phát triển cho toàn dân tộc.

1. Câu “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 với tư cách là Chủ tịch Đảng. Nhắc lại thời điểm ra đời của câu nói này để nhận thức sâu hơn tư tưởng của Hồ Chí Minh về một Đảng cầm quyền đang lãnh trách nhiệm to lớn trước đất nước. Trong hoàn cảnh thời đó, nguy cơ về sự tha hóa quyền lực và những biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, đảng viên chưa lớn (tha hóa đạo đức, quyền lực, tư tưởng chính trị, lối sống...) nhưng trong các bài viết khác nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm trước và cả sau thời điểm này, Người đã nhấn mạnh đến vai trò gương mẫu, hành vi nêu gương của đảng viên, đạo đức cách mạng, về mục tiêu tối thượng của Đảng...

Trong những lời cuối cùng trước khi từ biệt thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự lo lắng đầu tiên “nói về Đảng”-một đảng cầm quyền, về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đoàn kết để xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ của nhân dân. Điều đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn ở Đảng không chỉ ở chỗ Đảng đã nắm quyền lãnh đạo mà điều quan trọng hơn là quyền lực đạo đức, quyền lực uy tín, quyền lực của sự tín nhiệm và sự gắn bó với nhân dân mới là quan trọng nhất của một tổ chức chính trị. Đó là nền tảng lâu bền nhất với một đảng cầm quyền. Chưa biết cụ thể khi nào cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn về lâu dài, Đảng cần có kế hoạch “nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Di chúc).

Nhắc lại thế để khẳng định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới đạo đức và văn minh của Đảng không chỉ từ yêu cầu đạo đức của một đảng cầm quyền, mà còn nói tới sự văn minh của cách cầm quyền không đơn giản chỉ là một đảng chính trị mà ở sự gắn bó máu thịt với đất nước, nhân dân, ở mục tiêu duy nhất phấn đấu vì nhân dân, dân tộc. Đây là cốt lõi của vấn đề, là cái gốc tạo nên sự bền vững của quyền lực Đảng. Quyền lực ấy không vì mục đích tự thân mà để phụng sự đất nước.

2. Từ thực tiễn hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự phân biệt rõ ràng giữa đảng cộng sản cầm quyền với các đảng phái chính trị khác ở mấy khía cạnh: Đảng cộng sản tuy nắm quyền lãnh đạo nhưng không phải là một “đảng cai trị” như các đảng phái chính trị khác, không phải là một tổ chức quyền lực dù được luật pháp bảo trợ, càng không phải là một nhóm lợi ích mà là một lực lượng lãnh đạo chịu trách nhiệm về mọi vấn đề của đất nước trước Tổ quốc và nhân dân.

Các đảng phái chính trị khác trong các tuyên ngôn của mình cũng nói tới họ phụng sự nhân dân, đất nước, nhưng cần phân biệt ở cái gốc, ở đây là: Đảng ấy vì ai mà tồn tại, hành động nhằm mục đích gì, đại diện cho ai? Trách nhiệm và đạo đức của Đảng ở chỗ là bộ tham mưu, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, là lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân, đất nước, là ý Đảng luôn hòa với lòng dân, được nhân dân yêu mến và ủng hộ từ tư tưởng chính trị, đường hướng hoạt động đến những tổ chức và con người cụ thể trong quan hệ với dân.

Một đảng hay tổ chức chính trị có thể giành được chính quyền bằng luật pháp, nhưng sự cầm quyền ấy có được ủng hộ lâu dài hay không lại là chuyện khác. Cách dùng từ “Đảng ta” không chỉ có các thành viên của Đảng mới dùng mà nhân dân nói chung, người ngoài Đảng cũng nói không phải như một thói quen mà nói lên sự gắn bó và tin yêu Đảng, nói về uy tín của Đảng trong xã hội.

3. Trong hoàn cảnh hiện nay, mệnh đề “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” được nhắc lại gắn với yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện để đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là việc nhắc lại một mệnh đề cũ mà phải đặt nó trong một bối cảnh xã hội khác trước, khi Đảng đã có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước hơn 80 năm, đã trải qua nhiều kinh nghiệm, thành công về nhiều mặt và cả chưa thành công trên một số mặt, khi hoàn cảnh xã hội đã đặt ra cả những thuận lợi và những thách thức khác trước. Ở đây có vấn đề cần nhìn lại, nhận thức đúng thế và lực đã có, cần tạo ra sinh lực mới cho sự phát triển. Mục tiêu vào năm thứ 100 (tức năm 2045), kinh tế nước nhà là một trong những nền kinh tế hàng đầu, đất nước hiện đại, nhân dân hạnh phúc.

Mục tiêu ấy đặt ra trách nhiệm vô cùng lớn cho Đảng. Với tư cách là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của đất nước gần một thế kỷ qua, không thể không thừa nhận những chiến công huy hoàng, nhưng cũng không thể không nhận thấy một số khuyết tật, yếu kém của hệ thống mà Đảng phải chịu trách nhiệm chính. Sự suy thoái ở cả tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận của Đảng (tổ chức, cá nhân, đại diện...), tình trạng tham nhũng, lối sống xa dân, hưởng thụ, mất ý chí chiến đấu... như virus tàn phá cơ thể Đảng. 

Đảng đã chỉ ra căn nguyên của các bệnh lạm dụng quyền lực, thiếu kiểm soát quyền lực, suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức, xa dân, nói không đi đôi với làm, thiếu gương mẫu khi thực thi công vụ và đời sống cá nhân xa hoa thì Đảng sẽ tìm ra những giải pháp mang tính đột phá để xử lý. Đó là con đường duy nhất để lấy lại vị thế, lòng tin với nhân dân. Không phải trở lại với những điều tốt đẹp như trước đây mà còn phải mới hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn vì thời đại mới đòi hỏi những yêu cầu, tiêu chuẩn mới.

Ba vấn đề lớn nhất, dễ gây ra những sai lầm nhất của Đảng cầm quyền nếu làm không tốt là ở đạo đức chính trị, văn hóa chính trị và quan hệ với nhân dân. Dễ nhận thấy nhất ở những tổ chức và cá nhân vi phạm kỷ luật, phạm pháp những năm qua là vấn đề kiểm soát quyền lực không thực sự chặt chẽ, quyết liệt, nghiêm minh. Có cán bộ và tổ chức có quyền lực đã lạm dụng quyền lực để thao túng các quan hệ xã hội vì lợi ích cá nhân và phe nhóm. Văn minh chính trị, văn minh quyền lực chưa được xây dựng thành những cơ chế giám sát hiệu quả, còn nặng về hô hào, khích lệ. Nhiều tổ chức và cá nhân tự cho mình quyền đứng cao hơn luật pháp, đồng nhất tổ chức và cá nhân họ là pháp luật. Họ ban phát đúng sai, nhân danh chân lý trong nhiều vấn đề xã hội và chuyên môn sâu. Nhiều vấn đề không tường minh. Nhiều chính sách bị điều chỉnh không theo nguyên tắc, quy định, pháp luật, không vì lợi ích đất nước, nhân dân. Phần lớn các quyết định của Đảng khi kỷ luật tổ chức, cá nhân thường có nội dung “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”, “làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức và cá nhân” chứng tỏ tổ chức, địa phương ấy đã đứng ngoài, đứng trên pháp luật, không minh bạch trách nhiệm, bao che cho nhau tạo nên một “tổ hợp” quyền lực để dễ bề thao túng. Nhiều cấp ủy cấp tỉnh như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh... và Bình Dương, Vĩnh Phúc (trước đây)... thời gian qua là những bằng chứng về sự vi phạm này.

Nhiều người hay nói xử lý tham nhũng không có vùng cấm, nhưng cơ chế để che giấu, kết bè cánh vi phạm, lũng đoạn chính quyền, sự bắt tay giữa cơ quan quyền lực với các doanh nghiệp thời gian qua đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức chính trị, uy tín của Đảng, lòng tin của nhân dân. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay thực chất là một trong những giải pháp căn cơ để khôi phục tính chính danh và tính chất đạo đức, văn minh của Đảng.

4. Một trong những nội dung quan trọng của đạo đức và văn minh của Đảng chính là văn hóa chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh lợi ích của giai cấp, dân tộc là lợi ích của Đảng. Thời kỳ vận mệnh quốc gia như "chỉ mành treo chuông", Người đã nêu vấn đề “Tổ quốc trên hết” như tư tưởng bao trùm, nguyên tắc nền tảng của văn hóa chính trị. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên tất cả nên Đảng đã nhân lên sức mạnh và trở thành tổ chức chính trị được nhân dân tin cậy, yêu mến và ủng hộ. Đảng không đứng trên pháp luật dù cầm quyền, đảng lãnh đạo bằng pháp luật chứ không bằng mệnh lệnh, càng không vì đặc quyền và từ đặc quyền. Tinh thần thượng tôn pháp luật và nêu gương của các thành viên của Đảng đem lại uy tín cho Đảng. Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, có thành công, có thất bại, có đúng, có sai lầm, khuyết điểm, Đảng đã nhận những khuyết điểm của mình và khắc phục những sai lầm, khuyết điểm công khai. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”. Soi vào thực tiễn thì đây là một bài học lớn sâu sắc về văn minh chính trị.

Đảng là một tổ chức chính trị nhưng có các thành viên giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt từ cấp cao nhất xuống cơ sở. Các cá nhân ấy như những biểu tượng của Đảng. Họ thực hiện tốt trách nhiệm của mình thì đạo đức và văn minh của Đảng được đề cao. Trong quan hệ với nhân dân, họ là biểu tượng cho tổ chức. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lãnh tụ của Đảng rất mẫu mực, dù làm gì, đến thăm ai, đi đâu cũng được nhân dân quý mến, kính trọng. Nhân dân tin yêu lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng vì họ nhìn thấy sự gắn bó máu thịt giữa cán bộ cấp cao với nhân dân, thấy mọi việc người lãnh đạo làm đều vì nhân dân, đất nước.

Lắng nghe dân, biết dân cần gì thì tìm cách đáp ứng bởi với mỗi người, mỗi tổ chức đều thấm nhuần tư tưởng điều gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, điều gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Đạo đức và văn minh của Đảng là ở đó, hiện hữu rất cụ thể vì họ thực sự vì nước, vì dân cả trong tình cảm lẫn hành động. Trong giai đoạn mới của đất nước, trách nhiệm của Đảng với việc củng cố, tăng cường tinh thần đạo đức và văn minh càng phải được đề cao bởi những trọng trách và kỳ vọng nhân dân đặt vào Đảng.

Lâu nay, trong nhận thức, từ cơ sở đến Trung ương, thường chỉ tồn tại quan niệm lãnh đạo nhân dân mà không thấy rằng trong lãnh đạo cũng cần học dân. Nhiều ví dụ cụ thể chứng minh rằng trong kinh tế, khoa học, tổ chức đời sống..., người dân có những sáng kiến mang tính đột phá. Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp tư nhân quản lý và tổ chức sản xuất thành công hơn một số doanh nghiệp nhà nước. Nhiều nhà khoa học có những phát minh, sáng chế hơn hẳn một số cơ sở nghiên cứu do Nhà nước lập ra, điều hành. Học nhân dân để vì nhân dân cũng là một biểu hiện đạo đức, văn minh của văn hóa chính trị. Nhân dân kỳ vọng đất nước vươn mình vào kỷ nguyên mới vì có Đảng biết vượt lên chính mình để cống hiến cho đất nước, nhân dân./.
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TRÁCH NHIỆM PHẢI LÀM, SAO LẠI BAN ƠN?

     Một trong những việc khiến nhiều người dân bất bình và các thế lực thù địch, đối tượng bất mãn lợi dụng chống phá là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu tinh thần phục vụ nhân dân; nhất là “biến” những việc thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm mình phải làm thành quyền “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp và cấp dưới, buộc đối tượng lẽ ra được phục vụ phải mang ơn, thậm chí phải hối lộ, “bôi trơn”...

Chuyện khiến nhiều người dân va vấp và bức xúc nhất có lẽ là việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu, vì hầu như hộ dân nào cũng phải làm sổ đỏ. Trách nhiệm giải quyết việc này thuộc chính quyền địa phương, trực tiếp là cán bộ địa chính phải hướng dẫn người dân làm các thủ tục cần thiết, kiểm tra đủ điều kiện để cấp sổ đỏ thì trình cấp có thẩm quyền ký duyệt; nếu không đủ điều kiện phải thông báo rõ lý do và hướng dẫn người dân cần phải làm gì tiếp theo.

Thế nhưng thực tế nhiều trường hợp phải chạy vạy, nhờ vả, phải thông qua “cò”, tốn nhiều tiền thì mới được cấp sổ đỏ-dù đó là quyền lợi hợp pháp của công dân, cơ quan chức năng phải có trách nhiệm thực hiện. Đặc biệt, có trường hợp người dân không khỏi thắc mắc, bức xúc khi thấy mảnh đất gần nhà mình có nguồn gốc tương tự, thậm chí là đất lấn chiếm, đất nông nghiệp... lại nhanh được cấp sổ đỏ (!)

Còn nhiều việc khác bị không ít cán bộ, công chức, viên chức “biến” từ nghĩa vụ, trách nhiệm phải làm thành sự “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp, như: Giải quyết các thủ tục hành chính; cung cấp những thông tin theo quy định (thông tin quy hoạch, các chính sách, hướng dẫn...); các tập thể, cá nhân đề nghị huân chương hoặc hình thức khen thưởng khác; cấp các loại giấy phép; đăng ký kinh doanh, sản phẩm... Ví dụ điển hình là vừa qua, một số cán bộ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã bị xử lý vì đặt ra “cơ chế ngầm”, mỗi hồ sơ của doanh nghiệp phải nộp vài triệu đồng mới được ký duyệt, nếu không sẽ bị trả lại không rõ lý do. Việc cán bộ, nhân viên các cơ quan chức năng cố tình đặt ra cơ chế “xin-cho”, “gây khó để có... phong bì” đã tạo nên nạn “tham nhũng vặt” khiến nhân dân rất bất bình, các thế lực thù địch có cớ chống phá, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Ngoài ra, trong giải quyết công việc của một số cơ quan, tổ chức cũng có tình trạng cấp trên “hành” cấp dưới, biến những việc thuộc trách nhiệm của mình thành “ban ơn”. Ví dụ như trong việc cấp kinh phí và trang thiết bị thuộc tài sản công, điều động, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng, mượn nhà công vụ hay thuê, mua nhà ở xã hội... Những việc này theo quy định thì cấp trên phải làm trên cơ sở xem xét khách quan, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho cấp dưới; nhưng không hiếm cán bộ tự cho mình có quyền ưu tiên, thiên vị hoặc gây khó, tạo tình huống xin-cho, thậm chí còn chỉ đạo cấp dưới làm không đúng quy định để “đặc cách” người nhờ vả mình, hình thành lệ xấu chạy chọt, xin xỏ. Hệ lụy là những người ngay thẳng, không quỵ lụy "đi cửa sau" thì thiệt thòi, nảy sinh tư tưởng chán nản, bất mãn, nội bộ mất đoàn kết.

Tư tưởng “ban phát” làm cho nhiều cán bộ mặc nhiên coi những người được mình “ban ơn” phải mang ơn và trả ơn; nếu không thì sẽ bị quy chụp là vô ơn, không biết điều, thậm chí bị rêu rao là “ăn cháo đá bát”. Thói xấu này làm cho cấp dưới bức xúc vì thực tế họ có đủ tiêu chuẩn được nhận những quyền lợi hợp pháp do tập thể thống nhất đề nghị chứ không cần cấp trên “ban ơn”, tạo điều kiện.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin-cho", giảm tối đa thủ tục hành chính... Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh... Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: Phải tăng cường kiểm soát quyền lực, không để người dân phải xin những gì lẽ ra được hưởng. Mô hình quản trị quốc gia phải dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương đi đôi với phục vụ. Đó mới là quản trị kiến tạo phát triển, không phải quản trị xin-cho.

Như vậy, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân; phải quan tâm chăm lo, bảo đảm những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo phẩm chất, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Quan điểm này được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ.

Tuy nhiên, trước thực tế một bộ phận cán bộ, nhân viên các cơ quan công quyền vẫn cố tình phớt lờ bổn phận, trách nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, Đảng, Nhà nước cần có biện pháp xử lý dứt điểm, kiên quyết không để “con sâu làm rầu nồi canh”, gây ảnh hưởng xấu tới kỷ cương, phép nước và đặc biệt là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng mới, với sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, chúng ta càng phải chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, càng phải tăng cường kỷ luật thực thi công vụ để thể hiện rõ tinh thần vì nhân dân phục vụ. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc cán bộ, công chức tiêu cực, “hành dân” để thổi phồng, suy diễn, quy chụp Đảng, Nhà nước ta “nói hay, làm dở”, “nói một đằng, làm một nẻo” hòng thực hiện mưu đồ nham hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động tâm lý bất mãn, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận mà quan trọng nhất là phải bắt đầu từ những việc cụ thể trong thực thi công vụ hằng ngày. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải nhận thức rõ: Phục vụ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình chứ không phải sự ban phát; không thể biến trách nhiệm, việc phải làm thành đặc quyền cho hay không cho, khiến người dân, doanh nghiệp và cấp dưới phải xin xỏ, nhờ vả và chạy chọt, từ đó nảy sinh tư tưởng bất mãn, bức xúc, mất niềm tin./.
QV-ST!

“BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA” LÀ QUAN ĐIỂM KHOA HỌC CỦA ĐẢNG!

     Quan điểm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” được hình thành, đúc kết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đã trở thành tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, là thượng sách giữ nước trong mọi thời đại. Tuy nhiên, có ý kiến bình luận rằng, đây chỉ là "nỗi lo hão huyền, không có cơ sở thực tế". Phía sau cách lập luận này là âm mưu xuyên tạc, chống phá Đảng nên cần phải vạch trần, bác bỏ bằng các luận cứ khoa học và thực tiễn.

Với tư duy lý luận nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa, vận dụng sáng tạo, phát triển kế sách giữ nước của ông cha ta thành quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong Chiến lược quốc phòng Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và chính thức được đưa vào Văn kiện Đại hội XIII và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Quan điểm, phương châm này đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân và các nhà nghiên cứu chiến lược trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, trên một số diễn đàn, trang mạng hải ngoại, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là "nỗi lo hão huyền, không có cơ sở thực tế; làm lãng phí tài nguyên quốc gia, khi mà các nguồn lực này có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo”. Mục đích sâu xa của họ nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước nói chung và sức mạnh quốc phòng của Việt Nam nói riêng, từ đó lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực.

Để làm sáng tỏ tính chân lý trong quan điểm chỉ đạo, phương châm chỉ đạo của Đảng và phản bác những luận điệu sai trái này, cần dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là sự kế thừa kinh nghiệm quý báu trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trước hiểm họa ngoại xâm, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm khẳng định “chủ quyền bất khả xâm phạm”, hình thành tư tưởng “dựng nước đi đôi với giữ nước”, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Chân lý đó đã trở thành một trong những truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong mọi điều kiện hoàn cảnh, các triều đại tiến bộ luôn hướng đến mục tiêu “Quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”, xây dựng đất nước giàu về kinh tế, mạnh về quân sự, giữ mối quan hệ bang giao hòa hảo và bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc. Để thực hiện được mục tiêu đó, các vương triều đã ban hành nhiều chính sách hợp lòng dân như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, “tận dân vi binh”, “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân”, “bách tính giai vi binh”... kết hợp các đối sách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, không chấp nhận những điều kiện bất lợi cho quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn lịch sử dân tộc đã chứng minh, thời đại, triều đại nào biết chăm lo cho dân, yên dân, vua tôi đồng lòng, luôn chủ động phòng bị giữ nước thì quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, kẻ thù ngoại bang không dám nhòm ngó, xâm phạm; ngược lại, nội bộ mất đoàn kết, lòng dân ly tán, chủ quan, lơ là việc giữ nước từ lúc chưa nguy, thì giang sơn xã tắc sẽ rơi vào loạn lạc, dân chúng nghèo đói, nguy cơ bị ngoại bang thôn tính, xâm lược trở nên hiện hữu.

Thứ hai, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là sự kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta.

Các nhà kinh điển mác xít, đặc biệt là V.I.Lênin-lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, đã đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi, Lênin nhấn mạnh: Giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, vì giai cấp bóc lột, các lực lượng thù địch với giai cấp công nhân không bao giờ tự nguyện rút khỏi vũ đài lịch sử; chúng sẽ tìm mọi cách, điên cuồng phản kích để khôi phục lại “thiên đường” đã bị mất. Vì vậy, Lênin yêu cầu cấp thiết: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết thì chúng ta phải đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của chúng ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”.

Thấm nhuần quan điểm của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được”, “sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”; đồng thời, Người khẳng định quyết tâm: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.

Quán triệt, vận dụng sáng tạo truyền thống giữ nước của dân tộc và quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã từng bước hình thành, bổ sung, phát triển lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa phù hợp với tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn lịch sử.

Thứ ba, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” xuất phát từ vị trí địa chính trị của nước ta và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Việt Nam là quốc gia nằm ở vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương; là cầu nối trên đất liền giữa phần lớn nhất của lục địa Á-Âu với khu vực Đông Nam Á. Điều kiện địa lý tự nhiên đã khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có vị trí địa chính trị quan trọng bậc nhất trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng chính là một trong những đáp án để lý giải vì sao lịch sử dân tộc Việt Nam được ví như những "trang binh sử", luôn phải đối đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của nhiều nước sừng sỏ trên thế giới; lý giải vì sao Việt Nam luôn là tâm điểm tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc và các tổ chức liên minh lớn trên thế giới.

Trong khi đó, nhiều thập kỷ qua và hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ và tạo cớ để sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược. Âm mưu, thủ đoạn của chúng đối với Việt Nam là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo khác.

Để kịp thời đối phó với sự thay đổi trong chiến lược, phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch đòi hỏi Đảng ta phải thường xuyên đổi mới tư duy về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” phù hợp với từng giai đoạn và phải được thực hiện một cách chủ động, tích cực nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh.

Thứ tư, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” xuất phát từ thực tiễn cách mạng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, ngay trong Chánh cương vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định rõ mục tiêu của cách mạng: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; chủ động đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận định: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch”. Đúng như dự báo, tiếp sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã tích cực, chủ động chuẩn bị để chiến đấu và giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và sau đó là bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng luôn xác định phải nâng cao cảnh giác. Trong Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” chính thức được sử dụng. Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới tiếp tục xác định: “Bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; chủ động phòng ngừa; ngăn chặn nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

Từ những cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn nêu trên, có thể thấy luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” thực chất là sự hướng lái những người hiểu biết hạn chế, thiếu bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin nên đã ngộ nhận, ảo tưởng, chủ quan, không thấy được những nguy cơ, thách thức đe dọa đến vận mệnh của Tổ quốc, sự tồn vong của chế độ; không nhận diện rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong kỷ nguyên mới, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó cần tập trung nâng cao chất lượng công tác xây dựng, bảo vệ Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội kết hợp chặt chẽ với tăng cường quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội; củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao; triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh tổng hợp cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt và thực hiện hiệu quả quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta sẽ trực tiếp góp phần tạo thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước để ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải nguy cơ, xử lý thắng lợi các tình huống, luôn bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
QV-ST!

XUNG ĐỘT GIÁ TRỊ VÀ BẢN LĨNH NHÀ VĂN!

     Xung đột giá trị trong văn hóa là chuyện không mới nhưng chưa bao giờ cũ. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam (gọi tắt là Nghị quyết 80) tiếp tục nhấn mạnh vấn đề này, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới rất cao về vai trò, vị thế, bản lĩnh của văn nghệ sĩ trong tư duy, định hướng sáng tạo...

Linh hồn văn hóa và những rung chấn xung đột

Nhận định về những xung đột giá trị văn hóa trong thời đại số, Nghị quyết 80 chỉ rõ: “Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới...”.

Xung đột giá trị trong văn hóa là sự va chạm, mâu thuẫn giữa các quan điểm tư tưởng, tư duy, chuẩn mực, phong tục và quan niệm sống, khuynh hướng sáng tạo... Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới và sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai, phản cảm. Từ sự tác động của môi trường xã hội dẫn đến những xung khắc, khác biệt về tư tưởng, tư duy trong tiếp nhận, xử lý thông tin cũng như mục tiêu, thái độ ứng xử của các chủ thể văn hóa.

Văn học là linh hồn của văn hóa. Khi những xung đột giá trị xảy ra (có thể dẫn đến bùng phát) trong lĩnh vực này sẽ tạo ra những rung chấn, để lại dư âm, hệ lụy dai dẳng cho môi trường văn hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Những tranh cãi gay gắt trên không gian mạng xung quanh một số tác phẩm văn học thời gian gần đây là những dẫn chứng điển hình. Trong sự xung đột giá trị ấy, chúng ta thấy dư luận phân rõ hai khuynh hướng. Một bộ phận nhà văn và công chúng văn học ra sức cổ xúy, tôn vinh, đề cao các giá trị theo hướng sính ngoại. Họ vin vào cớ đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, cần căn cứ vào những đánh giá của dư luận quốc tế từ bên ngoài để định giá trị tác phẩm. Sự sính ngoại này vô hình trung coi nhẹ yếu tố văn hóa nền tảng, bản sắc dân tộc. Đặc biệt, không ít giải thưởng mang danh “quốc tế”, nhưng thực chất là của các tổ chức có tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam. Ở đó, họ chỉ lợi dụng văn học để thực hiện mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, chống phá đất nước. Ở chiều ngược lại, một bộ phận lại phê phán tác phẩm văn học theo kiểu phủ nhận sạch trơn, coi sự ảnh hưởng từ bên ngoài là “rác” văn hóa, cần loại bỏ.

Xét một cách công bằng, khách quan, cả hai khuynh hướng trên đều mang tính cực đoan. Trong một số trường hợp, nó đẩy xung đột giá trị lên mức phản kháng, đối đầu, gây hệ lụy cho môi trường văn hóa và nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong thời đại các nền tảng số bùng nổ mạnh mẽ, sự xung đột giá trị trong văn học nếu không được hóa giải kịp thời tất yếu sẽ dẫn đến những rung chấn văn hóa. Và đây chính là mảnh đất cho những mầm mống tư tưởng lệch lạc nảy sinh, kéo theo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tạo môi trường để các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc, lôi kéo, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nhìn lại một cách hệ thống, bằng phương pháp tư duy biện chứng, chúng ta thấy, Nghị quyết 80 là sự kế thừa, phát triển, cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng trong tình hình mới. Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 và nay là Nghị quyết 80, Đảng ta luôn nhất quán mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là chiến lược cốt lõi, lâu dài. Đất nước càng hội nhập quốc tế sâu rộng càng phải coi trọng yếu tố nền tảng. Bản sắc dân tộc chính là tấm “căn cước” trong môi trường hội nhập. Mọi hành vi coi nhẹ, chối bỏ, phủ nhận bản sắc dân tộc đều là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cần được nhận diện và đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. 

Như vậy, để giải quyết xung đột giá trị thì mọi tranh luận đều phải dựa vào, bám vào chính hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Đây chính là vị “trọng tài” công minh, công bằng nhất. Quy luật của văn hóa là vận động, giao thoa, tiếp biến. Trong tiến trình ấy, văn hóa có cơ chế tự đào thải những thứ phi văn hóa, phản văn hóa và sàng lọc, chưng cất những giá trị tiến bộ, đậm đà bản sắc. Lịch sử văn học cho thấy, những tác phẩm đỉnh cao, có sức sống vượt thời gian, xuyên biên giới, đều được xây dựng từ chính nền tảng văn hóa dân tộc.

Kỳ vọng của Đảng và bản lĩnh nhà văn

Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá, trong đó có sứ mệnh vẻ vang của văn học. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã hoạch định những mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển đất nước trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2031) và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Mục tiêu này gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và vị thế thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Nghị quyết 80 đề ra các mục tiêu, giải pháp và định hướng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó Đảng ta đặt niềm tin và kỳ vọng lớn vào nền văn học và đội ngũ nhà văn. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó là tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá...

Cụ thể hóa định hướng của Đảng về phát triển văn học Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP, quy định về khuyến khích phát triển văn học. Những chuyển động mạnh mẽ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn học cho thấy sự kỳ vọng rất lớn của đất nước đối với đội ngũ nhà văn Việt Nam đương đại.

Nhất quán tinh thần lấy “xây” để “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, yêu cầu đặt ra rất cao đối với nền văn học đương đại và đội ngũ nhà văn Việt Nam không chỉ là lao động sáng tạo mà còn ở ý thức chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp. Trong môi trường hội nhập, xung đột giá trị là hiện tượng bình thường của đời sống xã hội. Tuy nhiên, khi xung đột giá trị trong văn học khởi nguồn từ lập trường tư tưởng, ý thức chính trị của nhà văn thì hiện tượng bình thường rất dễ biến thành bất thường và diễn biến phức tạp.

Tại cuộc tọa đàm về văn học ở TP Hồ Chí Minh vừa qua, có một nhà văn nêu ý kiến: Con đường của văn học là xuyên biên giới. Muốn có tác phẩm đỉnh cao thì nhà văn phải được tự do sáng tạo, hoàn toàn không chịu bất cứ sự định hướng nào. Chỉ khi thoát khỏi mọi rào cản tư tưởng, nhà văn mới có thể tạo ra tác phẩm mang tầm thời đại... Thực ra, những quan điểm này không mới. Trong 40 năm đất nước đổi mới, trên các diễn đàn văn học, đâu đó chúng ta vẫn bắt gặp những ý kiến tương tự. Thậm chí, không ít tác giả đã công khai đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đòi được thành lập hội nọ, nhóm kia hoạt động độc lập, đứng ngoài khuôn khổ pháp luật và hệ sinh thái văn học cách mạng. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thấu đáo thì đó chỉ là một kiểu ngụy biện. Chính vì vậy, sau khi nhà văn nọ nêu ý kiến, đã có ngay một số nhà văn phản biện, khẳng định rõ thực tế không thể có một nền văn học nào tồn tại và phát triển tự do kiểu vô khuynh hướng, vô lập trường, vô tổ chức. Điều đáng bàn là nếu những quan điểm lệch lạc ấy không được góp ý phê bình và người nêu quan điểm không có thái độ cầu thị, tiếp thu thì chính ở đó sẽ tạo ra sự xung đột giá trị. Xung đột ngay từ trong tư duy và ý đồ sáng tạo của nhà văn.

Trong bối cảnh mới, Đảng ta coi trọng phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, "sức đề kháng" trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước. Bản lĩnh nhà văn thể hiện trước hết ở tư duy, mục đích lao động sáng tạo. Tác phẩm văn học, dù theo phong cách nào, trường phái nào, trào lưu nào, khuynh hướng nào... cũng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Mọi khám phá, đổi mới, đột phá trong ý tưởng và hành trình sáng tạo đều phải đi từ cái tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có được điều đó, chính nhà văn là chủ thể tự do trong hệ sinh thái sáng tạo, cống hiến. Và trong hệ sinh thái ấy, những xung Xung đột giá trị trong văn hóa là chuyện không mới nhưng chưa bao giờ cũ. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam (gọi tắt là Nghị quyết 80) tiếp tục nhấn mạnh vấn đề này, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới rất cao về vai trò, vị thế, bản lĩnh của văn nghệ sĩ trong tư duy, định hướng sáng tạo...

Linh hồn văn hóa và những rung chấn xung đột

Nhận định về những xung đột giá trị văn hóa trong thời đại số, Nghị quyết 80 chỉ rõ: “Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới...”.

Xung đột giá trị trong văn hóa là sự va chạm, mâu thuẫn giữa các quan điểm tư tưởng, tư duy, chuẩn mực, phong tục và quan niệm sống, khuynh hướng sáng tạo... Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới và sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai, phản cảm. Từ sự tác động của môi trường xã hội dẫn đến những xung khắc, khác biệt về tư tưởng, tư duy trong tiếp nhận, xử lý thông tin cũng như mục tiêu, thái độ ứng xử của các chủ thể văn hóa.

Văn học là linh hồn của văn hóa. Khi những xung đột giá trị xảy ra (có thể dẫn đến bùng phát) trong lĩnh vực này sẽ tạo ra những rung chấn, để lại dư âm, hệ lụy dai dẳng cho môi trường văn hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Những tranh cãi gay gắt trên không gian mạng xung quanh một số tác phẩm văn học thời gian gần đây là những dẫn chứng điển hình. Trong sự xung đột giá trị ấy, chúng ta thấy dư luận phân rõ hai khuynh hướng. Một bộ phận nhà văn và công chúng văn học ra sức cổ xúy, tôn vinh, đề cao các giá trị theo hướng sính ngoại. Họ vin vào cớ đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, cần căn cứ vào những đánh giá của dư luận quốc tế từ bên ngoài để định giá trị tác phẩm. Sự sính ngoại này vô hình trung coi nhẹ yếu tố văn hóa nền tảng, bản sắc dân tộc. Đặc biệt, không ít giải thưởng mang danh “quốc tế”, nhưng thực chất là của các tổ chức có tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam. Ở đó, họ chỉ lợi dụng văn học để thực hiện mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, chống phá đất nước. Ở chiều ngược lại, một bộ phận lại phê phán tác phẩm văn học theo kiểu phủ nhận sạch trơn, coi sự ảnh hưởng từ bên ngoài là “rác” văn hóa, cần loại bỏ.

Xét một cách công bằng, khách quan, cả hai khuynh hướng trên đều mang tính cực đoan. Trong một số trường hợp, nó đẩy xung đột giá trị lên mức phản kháng, đối đầu, gây hệ lụy cho môi trường văn hóa và nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong thời đại các nền tảng số bùng nổ mạnh mẽ, sự xung đột giá trị trong văn học nếu không được hóa giải kịp thời tất yếu sẽ dẫn đến những rung chấn văn hóa. Và đây chính là mảnh đất cho những mầm mống tư tưởng lệch lạc nảy sinh, kéo theo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tạo môi trường để các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc, lôi kéo, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nhìn lại một cách hệ thống, bằng phương pháp tư duy biện chứng, chúng ta thấy, Nghị quyết 80 là sự kế thừa, phát triển, cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng trong tình hình mới. Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 và nay là Nghị quyết 80, Đảng ta luôn nhất quán mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là chiến lược cốt lõi, lâu dài. Đất nước càng hội nhập quốc tế sâu rộng càng phải coi trọng yếu tố nền tảng. Bản sắc dân tộc chính là tấm “căn cước” trong môi trường hội nhập. Mọi hành vi coi nhẹ, chối bỏ, phủ nhận bản sắc dân tộc đều là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cần được nhận diện và đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. 

Như vậy, để giải quyết xung đột giá trị thì mọi tranh luận đều phải dựa vào, bám vào chính hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Đây chính là vị “trọng tài” công minh, công bằng nhất. Quy luật của văn hóa là vận động, giao thoa, tiếp biến. Trong tiến trình ấy, văn hóa có cơ chế tự đào thải những thứ phi văn hóa, phản văn hóa và sàng lọc, chưng cất những giá trị tiến bộ, đậm đà bản sắc. Lịch sử văn học cho thấy, những tác phẩm đỉnh cao, có sức sống vượt thời gian, xuyên biên giới, đều được xây dựng từ chính nền tảng văn hóa dân tộc.

Kỳ vọng của Đảng và bản lĩnh nhà văn

Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá, trong đó có sứ mệnh vẻ vang của văn học. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã hoạch định những mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển đất nước trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2031) và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Mục tiêu này gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và vị thế thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Nghị quyết 80 đề ra các mục tiêu, giải pháp và định hướng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó Đảng ta đặt niềm tin và kỳ vọng lớn vào nền văn học và đội ngũ nhà văn. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó là tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá...

Cụ thể hóa định hướng của Đảng về phát triển văn học Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP, quy định về khuyến khích phát triển văn học. Những chuyển động mạnh mẽ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn học cho thấy sự kỳ vọng rất lớn của đất nước đối với đội ngũ nhà văn Việt Nam đương đại.

Nhất quán tinh thần lấy “xây” để “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, yêu cầu đặt ra rất cao đối với nền văn học đương đại và đội ngũ nhà văn Việt Nam không chỉ là lao động sáng tạo mà còn ở ý thức chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp. Trong môi trường hội nhập, xung đột giá trị là hiện tượng bình thường của đời sống xã hội. Tuy nhiên, khi xung đột giá trị trong văn học khởi nguồn từ lập trường tư tưởng, ý thức chính trị của nhà văn thì hiện tượng bình thường rất dễ biến thành bất thường và diễn biến phức tạp.

Tại cuộc tọa đàm về văn học ở TP Hồ Chí Minh vừa qua, có một nhà văn nêu ý kiến: Con đường của văn học là xuyên biên giới. Muốn có tác phẩm đỉnh cao thì nhà văn phải được tự do sáng tạo, hoàn toàn không chịu bất cứ sự định hướng nào. Chỉ khi thoát khỏi mọi rào cản tư tưởng, nhà văn mới có thể tạo ra tác phẩm mang tầm thời đại... Thực ra, những quan điểm này không mới. Trong 40 năm đất nước đổi mới, trên các diễn đàn văn học, đâu đó chúng ta vẫn bắt gặp những ý kiến  tương tự. Thậm chí, không ít tác giả đã công khai đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đòi được thành lập hội nọ, nhóm kia hoạt động độc lập, đứng ngoài khuôn khổ pháp luật và hệ sinh thái văn học cách mạng. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thấu đáo thì đó chỉ là một kiểu ngụy biện. Chính vì vậy, sau khi nhà văn nọ nêu ý kiến, đã có ngay một số nhà văn phản biện, khẳng định rõ thực tế không thể có một nền văn học nào tồn tại và phát triển tự do kiểu vô khuynh hướng, vô lập trường, vô tổ chức. Điều đáng bàn là nếu những quan điểm lệch lạc ấy không được góp ý phê bình và người nêu quan điểm không có thái độ cầu thị, tiếp thu thì chính ở đó sẽ tạo ra sự xung đột giá trị. Xung đột ngay từ trong tư duy và ý đồ sáng tạo của nhà văn.

Trong bối cảnh mới, Đảng ta coi trọng phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, "sức đề kháng" trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước. Bản lĩnh nhà văn thể hiện trước hết ở tư duy, mục đích lao động sáng tạo. Tác phẩm văn học, dù theo phong cách nào, trường phái nào, trào lưu nào, khuynh hướng nào... cũng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Mọi khám phá, đổi mới, đột phá trong ý tưởng và hành trình sáng tạo đều phải đi từ cái tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có được điều đó, chính nhà văn là chủ thể tự do trong hệ sinh thái sáng tạo, cống hiến. Và trong hệ sinh thái ấy, những xung đột giá trị (nếu có) sẽ được hóa giải một cách văn hóa, văn minh và rất văn học......
QV-ST!

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ BẢN CHẤT CỦA “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” ĐỂ KHÔNG “MẮC BẪY” SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

     Nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị.

Bản chất của “tam quyền phân lập” và vấn đề chân lý khoa học xã hội

Trong dòng chảy của tư tưởng chính trị, học thuyết “tam quyền phân lập” gắn liền với tên tuổi các nhà khai sáng, nổi lên như một nguyên tắc tổ chức quyền lực được nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa áp dụng.

Lịch sử tư tưởng chính trị đã ghi nhận người có công đầu tiên trong việc hệ thống hóa và phát triển học thuyết phân chia quyền lực thành mô hình “tam quyền phân lập” một cách đầy đủ nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (năm 1748). Trong đó, điểm cốt yếu của học thuyết “tam quyền phân lập” không chỉ là sự phân chia về mặt chức năng mà còn là sự độc lập tương đối của 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp; cùng với sự cần thiết của cơ chế kiểm soát và cân bằng. Mỗi nhánh có những quyền hạn nhất định để giám sát, kiềm chế hoặc tác động lẫn nhau, ngăn không cho bất kỳ nhánh nào có thể lấn át các nhánh còn lại. Nghiên cứu trên được coi là một trong những nền tảng lý luận về nhà nước pháp quyền gắn liền với việc bảo vệ chế độ dân chủ và các quyền tự do cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản.

Tuy nhiên, trong các xã hội tư sản, việc áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” cũng có nhiều biến thể và không hoàn toàn giống với mô hình lý tưởng của Montesquieu. Ví dụ, mô hình nghị viện phổ biến ở nhiều nước châu Âu và khối thịnh vượng chung lại thể hiện sự dung hợp giữa lập pháp và hành pháp, khi người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) và nội các thường là thành viên của cơ quan lập pháp và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Điều này cho thấy, ngay trong khuôn khổ nhà nước tư sản, “tam quyền phân lập” cũng không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, bất biến mà có sự điều chỉnh, thích nghi với điều kiện lịch sử và cấu trúc chính trị cụ thể của từng quốc gia.

Trước khi khẳng định “tam quyền phân lập” có phải là “chân lý khoa học xã hội” hay không, chúng ta cần có sự so sánh giữa chân lý trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Đối với khoa học tự nhiên (toán học, vật lý, hóa học, sinh học...), “chân lý” thường được hiểu là những quy luật khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người, có tính phổ quát (đúng trong mọi không gian và thời gian xác định), có tính lặp lại và có thể kiểm chứng một cách chính xác bằng thực nghiệm (ví dụ: Định luật hấp dẫn, định luật bảo toàn năng lượng).

Còn đối với lĩnh vực khoa học xã hội là một tập hợp các ngành khoa học nghiên cứu về con người trong đời sống xã hội, các quan hệ xã hội, hành vi con người, cấu trúc xã hội, các thể chế và sự phát triển của xã hội. Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội vô cùng phức tạp, đa dạng, mang tính lịch sử cụ thể và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố (kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm lý...).

Như vậy, trong khoa học xã hội, việc đạt đến chân lý theo nghĩa tuyệt đối như khoa học tự nhiên là cực kỳ khó khăn, thậm chí là không thể đối với nhiều vấn đề. Hay nói cách khác, khoa học xã hội thường đưa ra các lý thuyết và mô hình để giải thích và đôi khi dự báo về xã hội, chứ ít khi tìm kiếm các định luật phổ quát, bất biến như khoa học tự nhiên.

Tính đúng đắn của một học thuyết khoa học xã hội thường được đánh giá dựa trên khả năng giải thích, tính nhất quán nội tại, khả năng dự báo (nếu có) và sự phù hợp với bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh nghiên cứu của nó, chứ không phải là tính tuyệt đối phổ quát. Ngay cả trong các lý thuyết khoa học xã hội không thuộc hệ thống lý luận Mác-Lênin, “tam quyền phân lập” cũng không được coi là một “chân lý” theo nghĩa một quy luật khách quan, bất biến.

“Tam quyền phân lập” không phải chân lý khoa học xã hội

Xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản. Trong khuôn khổ phân tích này, “tam quyền phân lập” được nhìn nhận không phải là một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước mang tính phổ quát, mà là một hình thức tổ chức quyền lực đặc thù của nhà nước tư sản. Trong đó, “tam quyền phân lập” là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, là cơ chế để điều hòa mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp thống trị, nó tạo ra ảo tưởng về một nhà nước trung lập, dân chủ, đứng trên giai cấp. 

Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, sự phát triển của nhà nước gắn liền với sự thay thế các hình thái kinh tế-xã hội và sự thay đổi về bản chất giai cấp của quyền lực nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất là chuyên chính vô sản (nhà nước của đại đa số nhân dân lao động), có nguyên tắc tổ chức khác về căn bản so với nhà nước tư sản. Do đó, “tam quyền phân lập” không thể là một quy luật phổ quát cho mọi kiểu nhà nước trong lịch sử.

Như vậy, “tam quyền phân lập” không phải là chân lý khoa học xã hội mà là một sản phẩm lịch sử cụ thể của chế độ tư bản chủ nghĩa, là một hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và duy trì sự thống trị của giai cấp này. Phân tích “tam quyền phân lập” là một phần của việc phân tích bản chất nhà nước trong xã hội có giai cấp, chứ không phải là việc thừa nhận nó là một nguyên lý tổ chức nhà nước chung cho mọi thời đại và mọi xã hội.

Nhận thức thấu đáo về sự vận dụng quan điểm “tam quyền phân lập” ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình nhà nước này được tổ chức và vận hành dựa trên những nguyên tắc căn bản khác biệt so với mô hình “tam quyền phân lập” của nhà nước tư sản.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, khẳng định: “Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của nhân dân”.

Nguyên tắc tổ chức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quyền lực nhà nước thống nhất, thuộc về nhân dân. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quyền lực nhà nước thống nhất đó có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động nhưng đồng thời chịu sự kiểm soát của nhân dân (thông qua các cơ chế giám sát, phản biện xã hội) và đặc biệt là chịu sự giám sát của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân).  

Cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang tính khoa học, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mô hình này thể hiện bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là sự cụ thể hóa lý luận Mác-Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản trong điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Theo lý luận Mác-Lênin, giai đoạn quá độ là giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới với nhiều khó khăn, phức tạp. Cần có một nhà nước mạnh mẽ, thống nhất để tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng. Mô hình tổ chức quyền lực thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế-xã hội một cách đồng bộ, hiệu quả.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có việc tấn công vào nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ chính trị. Việc khẳng định và kiên trì nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, chống lại quan điểm đòi “tam quyền phân lập” theo kiểu tư sản, là sự tự bảo vệ cần thiết để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, việc khẳng định tính đúng đắn và phù hợp không có nghĩa là mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã hoàn thiện. Đảng ta chỉ rõ, trong những năm tới cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị.

Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước đi đôi với nâng cao năng lực thực thi; xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ðẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Như vậy, có thể khẳng định rằng học thuyết “tam quyền phân lập” không phải là một chân lý khoa học xã hội mang tính phổ quát, bất biến cho mọi thời đại và mọi xã hội. Nó là một sản phẩm lịch sử cụ thể, một hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản ra đời trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định, nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và duy trì sự thống trị của giai cấp này. Dù có vai trò nhất định trong việc kiểm soát quyền lực trong khuôn khổ chế độ tư bản và là một đối tượng nghiên cứu quan trọng, bản chất giai cấp của nó khiến nó không thể là quy luật chung cho sự phát triển của mọi kiểu nhà nước.

Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình nhà nước này được tổ chức dựa trên nguyên tắc khoa học, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Vì vậy, nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị./.
Ảnh: Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng, sáng 20-1-2026.
QV-ST!

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: AI LÀ NGƯỜI ĐỀ XUẤT ĐẶT TÊN CHO CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ?

     Giữa thời khắc sục sôi của mùa Xuân 1975, khi bánh xe lịch sử đang chuẩn bị lăn qua những mét đường cuối cùng để tiến vào trung tâm Sài Gòn - Gia Định, có một quyết định đặc biệt đã ra đời, trở thành biểu tượng không thể tách rời của Đại thắng 30/4. Đó là việc đặt tên Chiến dịch Hồ Chí Minh như một lời hẹn ước thiêng liêng với vị lãnh tụ đã dành trọn đời mình cho độc lập, thống nhất.

Nhiều năm sau, trong buổi gặp mặt các nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975 được phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam (2002), Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ người đầu tiên đề xuất ý tưởng mang tính biểu tượng ấy là đồng chí Vũ Lăng, Tư lệnh Quân đoàn 3.

Ngày 12/4/1975, giữa bộn bề chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược, ý tưởng của Vũ Lăng được Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhất trí cao. Phải đặt tên chiến dịch quyết định bằng chính tên của Bác - người mà toàn dân tộc đang hướng về trong khát vọng độc lập trọn vẹn. Hai ngày sau, ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn đề xuất. 

Trong hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại không khí khẩn trương và trang trọng của thời điểm đó. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch đồng lòng điện ra Trung ương, tha thiết đề nghị lấy tên Bác Hồ cho trận đánh quyết định. Và rồi, trong bức điện số 37 TK, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, thay mặt Bộ Chính trị, đã đáp lời bằng một câu ngắn gọn nhưng đầy sức nặng lịch sử: “Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Khoảnh khắc ấy là sự thống nhất về quân sự, sự hòa quyện giữa ý chí của Bộ Chính trị, khát vọng của quân dân cả nước và lòng tôn kính vô hạn dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên gọi “Chiến dịch Hồ Chí Minh” từ đó trở thành lời thề danh dự, là động lực tinh thần để các quân đoàn thần tốc tiến vào Sài Gòn, mở ra thời khắc lịch sử 11 giờ 30 phút ngày 30/4.

Và người đã gieo mầm cho biểu tượng bất tử ấy, không ai khác, chính là Thượng tướng Vũ Lăng, vị tướng sắc sảo, quyết đoán, để lại dấu ấn sâu đậm trong một trong những quyết định thiêng liêng nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước./.
QV-ST!