Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

BẠN CÓ BIẾT: NGƯỜI LÍNH HÓA HỌC - DẤU LẶNG GIỮA NHỮNG BÌNH YÊN!

     Ai đó nói rằng, lịch sử được viết nên bằng tiếng súng. Rằng vinh quang của người lính là bước chân xông pha nơi tuyến đầu, là ánh chớp của kim loại, là âm vang của những trận đánh làm rung chuyển đất trời.

Nhưng khi bạn khoác lên mình màu áo của người lính Hoá học, bạn sẽ hiểu: có những chiến công không cần âm thanh, vẫn đủ sức làm nên lịch sử.

Bộ đội Hoá học bước vào trận địa khi mọi thứ dường như đã lắng xuống. Không còn tiếng nổ, không còn khói lửa, chỉ còn lại những âm thầm mà nguy hiểm. Kẻ thù đối diện không mang hình hài cụ thể, không lộ diện rõ ràng chỉ là những yếu tố vô hình: một làn khí độc, một vùng nhiễm xạ, một nguồn nước tưởng như yên bình nhưng ẩn chứa hiểm họa.

Trận chiến của người lính Hoá học vì thế cũng khác. Không có ranh giới rõ rệt giữa chiến tuyến. Không có tiếng hò xung phong. Chỉ có sự tĩnh lặng đến căng thẳng, nơi mỗi bước chân đều phải đo đếm, mỗi thao tác đều phải chính xác đến tuyệt đối.

Chúng tôi không chiến đấu để khiến kẻ thù khiếp sợ, mà để giữ cho bộ đội, cho Nhân dân không còn phải sợ hãi, được sống bình an. Chúng tôi không tạo ra sức ép, mà xoá bỏ những mối đe doạ. Sức mạnh không nằm ở sự huỷ diệt, mà ở khả năng bảo vệ bảo vệ sự sống trong hình hài mong manh nhất.

Nếu cần gọi tên “hoả lực” của người lính Hoá học, thì đó không phải là tiếng nổ, mà là năng lực kiểm soát nguy cơ VLHDHL. Là những thiết bị trinh sát PXHH tinh vi lần theo dấu vết của hiểm họa, là quy trình tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng khép kín, là sự phối hợp nhịp nhàng giữa người lính và công nghệ để biến cái vô hình thành hữu hình, thành những chỉ số an toàn; biến nguy cơ thành điều có thể chế ngự. “Hoả lực” ấy không phát ra âm thanh, nhưng lan toả bằng độ tin cậy Bộ đội Hoá học có mặt, hiểm nguy buộc phải lùi bước.

Chúng ta nói về phần thưởng, thì trong những thời khắc khốc liệt nhất. Phần thưởng của chúng tôi là khi những vùng nhiễm độc được khống chế, khi từng mét đất, từng khoảng không được trả lại sự an toàn; là khi đồng đội có thể tiếp tục chiến đấu mà không còn nỗi lo phía sau lưng, là khi nhân dân được bảo vệ trước những hiểm hoạ tưởng chừng không thể chống đỡ. Và hơn hết, đó là khi chiến trường trở lại trạng thái có thể sống được khi cái chết hoá học bị đẩy lùi trong im lặng. Có những chiến công không được gọi tên, bởi vùng nhiễm đã bị xoá đi trước khi kịp được nhắc đến. Và chính sự lặng im ấy, lại là minh chứng sâu sắc nhất cho giá trị của chúng tôi.

Ẩn sau lớp mặt nạ và bộ khí tài kín mít là những con người rất đỗi bình thường- chúng tôi cũng biết mệt, biết lo, biết nhớ. Mồ hôi thấm lặng, những hi sinh không gọi thành tên, những khó khăn không nói thành lời. Tất cả đều được giữ lại phía sau mặt nạ. Bởi phía trước chúng tôi, điều cần hiện hữu là sự chắc chắn và niềm tin.
         
Ngày 19 tháng 4 năm 1958 một mốc son mở đầu cho hành trình của Bộ đội Hoá học. Năm 2026 tròn 68 năm một chặng đường đủ dài, đủ sâu để tự hào. 68 năm ấy không chỉ là con số của thời gian, mà là chiều dài của những cống hiến thầm lặng của biết bao lớp lớp những người Chiến sĩ Phòng hóa, của những bước chân đi qua những nơi không ai muốn đến, để đổi lại những nơi ai cũng muốn ở lại.
            
Hôm nay, khi thế giới vẫn tiềm ẩn những xung đột khó lường, khi nguy cơ sự cố hoá chất độc, sinh học, phóng xạ và hạt nhân (CBRN) ngày càng phức tạp, vai trò của người lính Hoá học càng trở nên quan trọng hơn. Họ không chỉ đối diện với hiểm họa truyền thống, mà còn phải thích ứng với những thách thức mới tinh vi hơn, khó nhận diện hơn và nhanh hơn.
            
Chiến trường hôm nay có thể không hiện hữu bằng hình ảnh quen thuộc, nhưng lại mở rộng trong không gian số, trong môi trường công nghiệp, trong đời sống dân sinh. Và ở đó, người lính Phòng hóa vẫn lặng lẽ giữ vai trò “người gác cửa” cho sự an toàn bằng tri thức, bằng công nghệ và bằng trách nhiệm.
          
Giữa dòng chảy ấy, mỗi chúng tôi chỉ là một phần rất nhỏ. Nhưng chính những phần nhỏ bé ấy đã góp lại thành một sức mạnh bền bỉ âm thầm mà kiên định, lặng lẽ mà vững vàng. Mỗi chúng tôi, cũng như bao người lính Phòng hoá khác, không cần đứng giữa ánh hào quang để thấy tự hào. Bởi đôi khi, được là một “dấu lặng” trong bản nhạc lớn của bình yên-lại chính là vinh quang sâu sắc nhất./.




QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRUY KÍCH NHÓM BIỆT KÍCH THÁI LAN TẤN CÔNG TRẠI GIAM LÀO!

     Tôi vẫn luôn nghĩ mình là người may mắn khi được sống và chiến đấu qua những năm tháng đầy thử thách. Từ tuyến 559 vào B3, rồi lặng lẽ băng qua Nam Tây Nguyên đến những cánh rừng hạ Lào mênh mông trên cao nguyên Boloven, men theo đường 16, 23, 24. Hành trình ấy đưa tôi về Binh Trạm 37, rồi Binh Trạm 44, qua Quảng Nam, trước khi lại tiếp tục sang tận vùng Tây Bắc Campuchia... Là lính Quân báo, tôi quen với việc cứ mỗi khi cấp trên giao nhiệm vụ là lập tức lên đường. Nhìn lại, đó là quãng đời thanh xuân được thử thách, được rèn luyện và cũng là những ký ức mà tôi luôn trân trọng, như một phần sâu đậm nhất trong hành trình đời mình. Trong muôn vàn chuyện đã trải qua, ấn tượng nhất vẫn là lần truy kích toán biệt kích Thái Lan tấn công trại giam của bạn Lào!

Những năm đầu 1972, quân báo chúng tôi ngày ấy chẳng khác gì “ma xó”, len lỏi khắp rừng sâu núi thẳm. Khi đóng quân ở Paksong (Champasak, Lào) gần đó có một bản nhỏ của đồng bào người Việt sinh sống. Tuy vậy, để giữ bí mật, chúng tôi vẫn chọn ngủ cách bản chừng một cây số.

Tinh mơ hôm sau, chừng 5 giờ sáng, dân bản tìm đến báo tin rằng đêm qua có khoảng ba chục người mặc quần áo giống bộ đội Việt Nam tới xin gạo. Nhưng điều làm họ cảnh giác chính là giọng nói của họ nghe lơ lớ tiếng Thái. Chúng tôi lập tức báo về đoàn bộ: “Có toán lạ đi ngay qua khu vực chúng tôi đóng đêm qua. Dấu chân còn mới, rất nhiều. Xin chỉ thị!”. 

Chừng ít phút sau, có điện trả lời biệt kích Thái vừa tấn công trại giam của quân đội Lào, cướp tù và đang tìm đường rút. Mệnh lệnh được đưa ra, phải truy kích ngay.

Chúng tôi tăng cường thêm một tiểu đội công binh, tỏa đi lùng sục khắp các cánh rừng quanh bản. Suốt buổi sáng không thấy gì, đến gần 9 giờ anh em tôi nghỉ giải lao. Tôi và một vài anh em vác súng đi kiếm vài trái dừa uống nước cho mát. Ai dè chỉ vì bước chân rẽ qua bụi cây cứt lợn mà phát hiện ra một lối mòn như của heo đi. Linh cảm trỗi dậy, tôi men theo lối nhỏ ấy, hướng xuống bờ sông.
Bất ngờ một tiếng la phía trước. Phản xạ của lính trận khiến chúng tôi xoay súng, lia nhanh một loạt xuống khu vực phát tiếng động rồi hô lớn: “Đứng im! Đầu hàng ngay không chết!”.

Lúc ấy tôi mới nhận ra, chúng tôi chỉ cách họ chừng mười mét, đủ gần để chúng nhìn thấy từ đầu gối tôi trở xuống. Vì toán biệt kích bị lạc nhau, chúng tưởng tôi là người của chúng nên vừa ló mặt ra thì gặp ngay loạt đạn phản ứng của tôi. Một loạt thôi, nhưng cũng đủ làm mấy tên bị thương, còn lại hơn chục tên sợ tái mét, giơ tay xin hàng.

Nghe tiếng súng, anh em còn lại ùa đến. Chúng tôi ném dây dù bắt bọn chúng tự trói nhau, rồi dẫn giải về. Dân bản kéo ra xem, lập tức nhận ra chính là những kẻ đêm qua đến xin gạo. Có một tên từng hai lần trốn trại, nghe đâu rất giỏi võ karate vậy mà lúc bị bắt lại run như lá, sợ chết hơn ai hết.

Khi đem cho chúng thau cơm độ 4 - 5 lon gạo, cả bọn xúm lại bốc ăn ngấu nghiến.Tôi dọa bắt thằng toán trưởng đứng ra khai báo, hắn sợ đến phát khóc như trẻ con.

Sau vụ đó không lâu, tôi được điều ra Bắc, về Bắc Ninh học tập. Mãi đến sau mới trở lại mặt trận, mang theo ký ức khó quên về buổi sáng bất ngờ nơi rừng Paksong năm ấy./.
Theo lời kể của Cựu chiến binh Bùi Văn Dũng; Ảnh minh hoạ: Bộ đội Việt Nam tại chiến trường Lào năm 1972.
QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: NGÀY 9-4-1975, MỞ MÀN CHIẾN DỊCH XUÂN LỘC!

     Thị xã Xuân Lộc là tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), nằm cách thành phố Sài Gòn 80 km về phía Đông, án ngữ trên trục đường số 1; từ đây nối với Đà Lạt qua đường 20, nối với Bà Rịa - Vũng Tàu qua đường 2 và đường 15. Nằm trong hệ thống phòng vệ Sài Gòn từ xa với các tuyến mắt xích trọng yếu Phan Rang - Xuân Lộc, Tây Ninh - Bắc Củ Chi, Long An - Bến Lức, Xuân Lộc được mệnh danh là “cánh cửa thép” trên cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Tại đây, địch bố trí lực lượng cực mạnh với hệ thống công sự phòng thủ kiên cố, nhiều tầng, gồm: Sư đoàn bộ binh 18, Trung đoàn 8/Sư đoàn bộ binh 5, Lữ đoàn kỵ binh 3 (các thiết đoàn M41, M113, M48), 2 tiểu đoàn Biệt động quân, 2 tiểu đoàn Pháo binh (các pháo đội 105mm và 155mm), cùng lực lượng cảnh sát, địa phương quân. Lực lượng sẵn sàng tăng viện gồm Lữ đoàn dù số 1, Liên đoàn 81 biệt cách dù, toàn bộ hỏa lực của không quân từ hai sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất.

Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc

Để mở thông đường tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch đập tan tuyến phòng ngự Xuân Lộc. Ngày 3-4-1975, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thông qua phương án tác chiến: dùng lực lượng lớn bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh thẳng vào Sở chỉ huy Tiểu khu và Sư đoàn 18, nhanh chóng chiếm Xuân Lộc, tạo thế và lực cho Quân giải phóng tiến công áp sát Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.

5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, chiến dịch tiến công giải phóng Xuân Lộc bắt đầu. Sự an nguy của Sài Gòn và Dinh Độc Lập lệ thuộc trực tiếp vào diễn biến tại “cánh cửa thép” này, vì vậy quân địch tại đây kháng cự rất quyết liệt./.



QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: KHI KẺ CẦM ĐẦU NGU XUẨN!

     Thảm họa kinh hoàng khi mà kẻ cầm đầu ngu xuẩn & độc đoán, chuyên quyền.

Nhân tháng 4, xin kể về những quyết định sai lầm của những kẻ nắm sinh mạng hàng triệu con người, đã ra những quyết định sai lầm nghiêm trọng, làm tình hình đổ bể theo hiệu ứng domino, không thể cứu vãn nổi.

Đó là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu & Thiếu tướng Phạm văn Phú.

Trước hết nói về tướng Phú.
Hắn sinh tại Hà Đông, trong một gia đình khá giả, có học vấn, đi lính cho pháp vào đơn vị nhảy dù, tham chiến tại Điện Biên phủ 1953, 1954 thì bị bắt làm tù binh, được trao trả theo hiệp định Giơnevơ, lại vào Nam theo Mỹ...sau đó Phú được Nguyễn Văn Thiệu phong Thiếu tướng đưa lên làm Tư lệnh QĐ2 chấn ải cao nguyên - vùng đất có vị trí chiến lược cực kì quan trọng.

Cái sai lầm của tướng Phú là coi thường trí thông minh & trình độ nghi binh chiến dịch của tướng Hoàng Minh Thảo (Quân giải phóng), trong 6 tháng cho mở đường, điều quân, cắm đài canh 15w hướng PleiKu. Bỏ lơi Buôn Ma Thuột. Phú mắc bẫy, điều lực lượng chính về Pleiku, chỉ để sư 23 + quân địa phương chốt giữ Buôn Ma Thuột. 

Kho tàng, Xe tăng Quân giải phóng ém hướng Buôn Ma Thuột, công binh cưa 1/2 cây lớn mở sẵn đường.

Rạng sáng 10. 3.1975, quân giải phóng đồng loạt tiến công, xe tăng ủi đổ cây thành đường , đánh thẳng vào sân bay Hòa Bình, kho Mai Hắc Đế, sở chỉ huy địch. Xe tăng và bộ binh thọc sâu vào trung tâm thị xã. Hệ thống phòng thủ của đối phương bị tê liệt nhanh chóng. Ngày 11/3/1975 Các vị trí còn lại bị tiêu diệt hoặc đầu hàng.

Buôn Ma Thuột hoàn toàn thất thủ, trở thành chiến thắng lớn mang tính quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh Tướng Phú giữ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá.

Tướng Phú bốc quân từ Pleiku lệnh trực thăng đổ xuống tái chiếm Buôn Ma Thuột, nhưng lại rơi vào trúng trận địa mai phục của quân giải phóng, toàn bộ quân chi viện bị tiêu diệt & bắt tại trận.

- Ngày 14.3, Thiệu gọi Phú và 5 tướng về Cam Ranh họp khẩn. Sau 117 phút nắm, phân tích tình hình, Thiệu đã ra một quyết định trái ngược với lệnh trước là tử thủ; đây là quyết định ngu xuẩn & dốt nát nhất:
- Bỏ Tây Nguyên, rút quân chủ lực về đồng bằng ven biển. Không cho các tỉnh trưởng, và hơn 20 tiểu đoàn địa phương quân biết !, bất chấp sự phản đối của tướng Phú. 
- Các đường 14, 25,19 rút lui về đồng bằng đều bị quân giải phóng cắt đứt và khống chế. Phú cho rút theo đường 7B đã bỏ hoang từ lâu.
- Thông tin quân chủ lực Ngụy rút chạy, rò rỉ từ gia đình sĩ quan binh lính QĐ2 rút theo chồng, tiết lộ... dân, quân địa phương ồ ạt rút chạy theo... đã làm chẹn cứng đường 7B. Sau 2 ngày lại bị sư đoàn 320A truy kích kịp, tấn công mãnh liệt, pháo 130 li bắn cấp tập, con đường 7B trở thành con đường máu!

Trận đánh Buôn Ma Thuột là trận mở màn nhưng mang tính quyết định của Chiến dịch Tây Nguyên 1975 trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam.

Trận Buôn Ma Thuột đã điểm trúng huyệt, tạo hiệu ứng Domino, đặc biệt tinh thần hoang mang cực độ trong hàng ngũ quân đội VNCH, sau đó gần như mất sức chiến đấu, tháo chạy ngay khi bị quân giải phóng tấn công: như Huế, Đà Nẵng... sau đến Phú Yên, Phan Rang...

Tại sao Nguyễn Văn Thiệu trong 10 ngày ra 2 quyết định trái ngược nhau như vậy. Và quyết định của một kẻ cầm đầu bỏ địa bàn chiến lược Tây Nguyên là một sai lầm rất nghiêm trọng là do đâu?!

Sau này tìm hiểu sâu thì biết có sự mê tín mù quáng của Thiệu, đồng thời có sự chọc ngoáy của Ông Nhạ: 
Thiệu sinh giờ TÝ, ngày TÝ (chuột), năm 1923, Quý Hợi. 
Năm 1975 là năm Ất Mão, là năm MÈO bắt chuột, ông Nhạ khuyên khi mèo đuổi, chuột nên chui vào lỗ là an toàn. Cho nên Thiệu cho bỏ Tây Nguyên lui về đồng bằng ven biển. Có ngờ đâu đó là sai lầm chiến lược vô cùng quan trọng.

Trước khi từ chức, Thiệu lên đài phát thanh, Truyền hình đổ lỗi hết cho Phạm văn Phú, Ngô Quang Trưởng... (không hề nói tới cái lệnh rút bỏ Tây Nguyên của hắn).

Chiều 29.4, Phú nói vợ dẫn 8 con đến điểm di tản, ông ta ở lại nhà một mình nói là đi sau. Rồi ổng uống 1 liều thuốc độc cực mạnh tự sát. Linh tính mách bảo, và đúng lúc nghe tin kịp nên vợ Phú dẫn con trở về đưa Phú vào bệnh viện cấp cứu, tuy nhiên thuốc độc làm Phú hôn mê sâu, trưa 30.4 chỉ mở mắt hỏi:
 - Tình hình sao rồi?
 - Hết rồi!
Thế là Phú nhắm mắt lại & vĩnh viễn ra đi.
Khi đó Thiệu đã qua Đài Loan, rồi sang Pháp lưu vong, giận Mỹ bỏ rơi kiếp chó săn hết thời nên hổng thèm sang Washington bắt đền lịch sử như lũ đu càng.

Qua đó thấm cái câu: Kẻ cầm đầu mà ngu xuẩn, độc đoán, chuyên quyền... sẽ làm khổ rất rất nhiều người!
Kính cám ơn!




QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHẠM TRÁN THÁM BÁO ĐỊCH Ở ĐÈO BÙ LẠCH!

     Năm 1969, Trung đoàn 4 công binh được lệnh tiếp quản cụm trọng điểm liên hoàn từ Cô Tiên, dốc Con Mèo, sân bay A Sầu, A Lưới, ngầm A Vương đến đèo Bù Lạch. Đại đội 3, Tiểu đoàn 47 do tôi phụ trách đảm bảo giao thông tại đèo Bù Lạch, một con đèo hiểm trở dài 2km với 6 khúc cua gấp, dưới chân là suối A Vương nước chảy cuồn cuộn. Nhiệm vụ của tôi là phá bom, dò mìn, mở đường cho xe vận tải vượt tuyến.

Trong đội phá bom có khoảng 20 người, ăn lương khô, uống nước suối, ngủ hầm công sự dựng tạm. Những đêm thao thức bên lằn bom chưa nổ, những phút nằm sát vách núi lắng nghe từng tiếng động khả nghi, đó là “bài học nằm lòng” của lính công binh Trường Sơn.

Một buổi chiều có sương mù bảng lảng, lúc 15 giờ, tôi cùng Thỏa, một trinh sát người Tày ở Hạ Lang, Cao Bằng, nhanh nhẹn, gan lỳ, nổi tiếng trong đội vì có nhiều cách phá bom sáng tạo tranh thủ nhập tuyến sớm. Chúng tôi lần theo vệt đường từ đỉnh đèo qua khúc cua số 6 thì phát hiện hai bóng người đang ngược lên từ phía cua số 5. Không cần ra hiệu, chúng tôi lập tức mở chốt an toàn khẩu AK.

Khi hai bên chỉ còn cách nhau chừng 10 mét, trong làn sương xám đục, chúng tôi nhận ra đối phương cũng mang ba lô nhẹ, khoác áo Tô Châu, súng AK nòng chúc xuống đất giống như bao chiến sĩ Trường Sơn khác. Tuy nhiên, bản năng của người lính đã từng trải khiến tôi cảnh giác. Tôi lên tiếng hỏi trước:
- Các đồng chí ở đơn vị nào? Phía dưới có tình huống gì không?

Người đi trước trả lời ngập ngừng, còn người đi sau thì lặng lẽ nâng khẩu súng lên. Một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Trong đầu tôi chợt hiện lại vụ việc vài hôm trước: một toán thám báo địch giả dạng bộ đội bất ngờ xả súng khiến đơn vị tổn thất nặng.

Không chần chừ, tôi lập tức nghiêng người, thu hẹp khoảng cách, đồng thời đưa nòng súng AK về phía đối phương và siết cò. Gần chục viên đạn găm thẳng vào tên phía trước, hắn đổ gục tại chỗ. Tên thứ hai lãnh trọn hai viên đạn vào cánh tay, khẩu súng chưa kịp đưa lên đã văng xuống vệ đường. Ngay tức thì, Thỏa lao đến khống chế, khóa tay hắn lại, kéo vào hầm phòng không gần đó. Tôi cũng lập tức xóa dấu vết, chạy về hầm công sự.

Vừa chui vào hầm thì tiếng máy bay phản lực gầm rú vang vọng. Địch thả bom dồn dập, đất đá trút như mưa, bầu trời Bù Lạch tối sầm vì khói lửa. Một cơn bão bom vừa được hóa giải phần nào nhờ hành động kịp thời của hai người lính công binh./.
Theo lời kể của cựu chiến binh, thương binh Bùi Hòa Bình - nguyên chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 4 công binh, Sư đoàn 470 Trường Sơn.
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ISRAEL - BÀI HỌC CHO SỰ ẢO TƯỞNG VỀ "HỢP TÁC" QUÂN SỰ VỚI NƯỚC NGOÀI

Giải pháp tình thế và cái bẫy "ăn xổi"

Nhìn lại quá khứ, khi Mỹ đã gỡ bỏ cấm vận nhưng chưa trực tiếp bán phụ tùng máy bay quân sự cũ cho Việt Nam, họ đã chỉ lối cho chúng ta sang Israel. Israel đồng ý bán, nhưng đi kèm với những điều kiện chính trị ngặt nghèo: chúng ta phải bỏ phiếu trắng về vấn đề Palestine và các quốc gia không thân thiện với họ.

Thời điểm đó, các phái đoàn kỹ thuật Israel đã rất nhiệt tình sang Việt Nam. Tuy nhiên, đằng sau sự "nhiệt tình" đó là một thực tế phũ phàng: Chúng ta đang mua sắm theo kiểu "ăn xổi". Thay vì dồn lực vào nghiên cứu, sao chép hay thực hiện thiết kế ngược (reverse engineering) các công nghệ hàng không từ Liên Xô để tự chủ, chúng ta lại chọn con đường mua sẵn thiết bị để có kết quả tức thì.

Sự sai lầm từ những "tầm nhìn" ngắn hạn

Chính những lãnh đạo dẫn đầu các dự án hợp tác với Israel thời đó đã thể hiện một tầm nhìn hạn hẹp. Điển hình như trường hợp của ông NCV - người từng được coi là kiến trúc sư cho quan hệ này. Khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine năm 2022, ông đã tiên đoán Nga sẽ thất bại. Thực tế chiến trường sau đó đã chứng minh đó là một nhận định thiếu tầm nhìn, bị chi phối bởi tư tưởng thân phương Tây.

Tại sao những người quan sát độc lập có thể thấy rõ Nga sẽ duy trì sức mạnh và chiến thắng, hay Iran sẽ đứng vững trước các cuộc tấn công của Israel, mà những người nắm quyền quyết định lại không nhận ra? 

Câu trả lời nằm ở chỗ những tướng lĩnh có xu hướng "hợp tác với Phương Tây" đã quá tin vào các chuẩn mực và công nghệ hào nhoáng của họ mà quên đi logic của nội lực và chiều sâu chiến lược.

Sai lầm của họ đó là họ coi chiến tranh và địa chính trị là một phép tính tĩnh (ai nhiều tiền hơn thì thắng), trong khi thực tế đó là một hệ động lực (dynamic system).

Hậu quả của sự đứt gãy tự cường

Việc quá phụ thuộc vào Israel đã tạo ra một khoảng trống nguy hiểm. Hiện nay, khi Israel bị cuốn vào các xung đột tàn khốc và nền công nghiệp quân sự của họ bị quá tải, Việt Nam rơi vào thế bị động: không còn chỗ để mua và cũng không có linh kiện thay thế.

Sự sai lầm của thế hệ trước đã làm lỡ đi một khoảng thời gian cực kỳ dài trong việc tự thân phát triển và bám bắt công nghệ thế giới. Việc mua thiết bị mà không nỗ lực làm chủ công nghệ lõi chính là bước đi sai lầm nhất trong chiến lược quốc phòng.

Bước ngoặt sửa sai: Trở lại với công nghệ lõi

Rất may mắn, hiện nay các tập đoàn quân sự như Viettel đã nhận ra bài học xương máu này. Họ đang phải "cắm đầu" vào nghiên cứu các công nghệ lõi thay vì đi mua như trước. Đây là nỗ lực muộn màng nhưng bắt buộc phải làm để khôi phục lại những gì đã mất.

Bài học rút ra (còn thời gian mà rút là may mắn)

Mọi sự hợp tác quân sự với nước ngoài mà không dựa trên nền tảng tự lực cánh sinh đều là xây nhà trên cát. Chỉ khi nào chúng ta tự làm chủ được "tầng hệ thống", tự sản xuất được linh kiện từ tư duy thiết kế của chính mình, lúc đó độc lập dân tộc và an ninh quốc gia mới thực sự bền vững. Đừng để sự ảo tưởng về công nghệ mua sẵn làm mờ đi con đường tự cường của dân tộc./.
QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: CÁC NHÀ KHOA HỌC NGA ĐÃ KÍCH THÍCH HỆ THỐNG MIỄN DỊCH TẤN CÔNG TẾ BÀO UNG THƯ BẰNG ÁNH SÁNG!

🇷🇺🇷🇺🇷🇺
     Nhờ phương pháp mới này, các tế bào "chuyển đổi" và bắt đầu chống lại khối u.

Các nhà khoa học đã đề xuất một phương pháp có thể "vô hiệu hóa" hệ thống miễn dịch bên trong khối u. Để làm được điều này, một loại thuốc được tiêm trực tiếp vào mô bị ảnh hưởng và sau đó được kích hoạt bằng ánh sáng. Kết quả là, các tế bào miễn dịch bắt đầu chống lại ung thư thay vì hỗ trợ nó. Phương pháp này được phát triển bởi các nhà khoa học từ Đại học Nghiên cứu Quốc gia Saratov, cùng với các đồng nghiệp từ Skoltech, Viện Vật lý và Công nghệ Moscow và Đại học ITMO.

Phương pháp này liên quan đến việc thay đổi hoạt động của các tế bào miễn dịch trực tiếp bên trong khối u. Đó là các đại thực bào - những tế bào thường bảo vệ cơ thể nhưng trong bệnh ung thư, chúng có thể giúp khối u phát triển bằng cách ức chế phản ứng miễn dịch.

Các vi nang chứa hoạt chất được tiêm vào khối u. Điều này kích hoạt một con đường truyền tín hiệu một trong những cơ chế chính để tăng cường phản ứng miễn dịch chống khối u. Tuy nhiên, phân tử hoạt chất vẫn nằm bên trong các nang và không hoạt động ngay lập tức.

Quá trình kích hoạt diễn ra bằng tia laser. Ánh sáng cận hồng ngoại, loại ánh sáng có thể xuyên qua mô nhưng cơ thể hấp thụ kém, được sử dụng. Ánh sáng này phá hủy lớp vỏ nang, giải phóng thuốc trực tiếp vào khối u.

Sau đó, các đại thực bào chuyển sang trạng thái chống khối u và bắt đầu tấn công các tế bào ung thư.

Chúng cũng thu hút các tế bào hệ miễn dịch khác tế bào T. Theo Olga Guslyakova, nhà nghiên cứu cấp cao tại Phòng thí nghiệm Quang âm Sinh y học thuộc Đại học Quốc gia Saratov, sau một lần điều trị, tỷ lệ các đại thực bào này đã tăng từ 1% lên 28%.

Bộ Giáo dục và Khoa học nhấn mạnh rằng sự phát triển này giải quyết một trong những thách thức then chốt của liệu pháp miễn dịch hiện đại: đưa thuốc chính xác đến khối u mà không gây ra tác dụng phụ toàn thân./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐIỆN CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG GỬI NHÂN DÂN PALEXTIN!

     Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói gì về tình đoàn kết với Pa-le-xtin? “Nhân dân Việt Nam Là người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Pa-le-xtin”!

"ĐIỆN MỪNG

Ngày 15-1-1979, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi tới Hội nghị Hội đồng dân tộc Pa-le-xtin, bức điện mừng sau đây :

NHÂN dịp Hội đồng dân tộc Pa-le-xtin họp hội nghị, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến các bạn và qua các bạn gửi đến nhân dân và các chiến sĩ Pa-le-xtin kiên cường lời chúc mừng nhiệt liệt.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin, đứng đầu là Chủ tịch Y-ét-xo A-ra-phát, nhân dân Pa-le-xtin đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, kiên quyết đấu tranh chống bọn xâm lược xi-ô-nít I-xra-en, tay sai của đế quốc và đã giành được những thắng lợi to lớn. Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin ngày càng có uy tín trên trường quốc tế và đã được các nước A-rập, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước không liên kết và dư luận tiến bộ trên thế giới công nhận là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân Pa-le-xtin.

Trong lúc chủ nghĩa đế quốc, bọn xi-ô-nít và các thế lực phản động tìm mọi cách chia rẽ và làm suy yếu Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin, chia rẽ các nước A-rập, âm mưu phủ nhận vai tròcủa Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin, Hội nghị Hội đồng dân tộc Pa-le-xtin họp lần này là biểu thị ý chí đoàn kết và quyết tâm của nhân dân Pa-le-xtin trong cuộc đấu tranh để thực hiện mục tiêu cao cả của mình.

Là người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Pa-le-xtin, nhân dân Việt Nam hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Pa-le-xtin vì các quyền dân tộc thiêng liêng của mình. Chúng tôi cho rằng một giải pháp nhằm đem lại hòa bình lâu dài và bền vững ở Trung Đông phải bao gồm việc I-xra-en rút khỏi toàn bộ đất đai A-rập mà chúng đang chiếm đóng, phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Pa-le-xtin, trong đó có quyền lập một Nhà nước Pa-le-xtin độc lập trên Tổ quốc mình. Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin nhất thiết phải được tham gia vào việc giải quyết vấn đề Trung Đông.

Chúng tôi tin rằng với tinh thần đoàn kết và quyết chiến quyết thắng của mình, được sự ủng hộ của nhân dân các nước A-rập và lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân Pa-le-xtin sẽ đưa sự nghiệp cách mạng Pa-le-xtin đến thắng lợi vẻ vang.

Xin chúc hội nghị thành công tốt đẹp và gửi đến các bạn lời chào trân trọng."
Ảnh: Báo Nhân Dân, Số 8988, 16 Tháng Một 1979./.
QV-ST!

THẾ GIỚI 24 GIỜ QUA: IRAN ĐÃ TUYÊN BỐ TẠM NGỪNG VIỆC VẬN CHUYỂN TÀU THUYỀN QUA EO BIỂN HORMUZ!

     Theo hãng tin Fars trên kênh Telegram, Tehran đã tạm dừng việc vận chuyển tàu thuyền qua eo biển Hormuz sau các cuộc tấn công quy mô lớn của Israel vào Lebanon.

Theo hãng tin này, sáng thứ Tư, ngày 8 tháng 4, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump chấp nhận các điều khoản của Iran và đạt được thỏa thuận ngừng bắn, hai tàu chở dầu đã có thể an toàn đi qua eo biển Hormuz với sự cho phép của Iran.

Đồng thời, Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) phát động Chiến dịch Bóng tối Vĩnh cửu, bao gồm các cuộc không kích vào hàng chục khu vực ở Lebanon.
Bộ Y tế Lebanon cho biết hàng trăm người đã thiệt mạng và bị thương trên khắp cả nước do các cuộc tấn công của Israel.

Hội Chữ thập đỏ Lebanon làm rõ rằng, theo dữ liệu sơ bộ, 80 người đã thiệt mạng và 200 người bị thương do các cuộc không kích của Israel vào Beirut.

Trong bối cảnh các cuộc tấn công, một quan chức Iran tuyên bố rằng Tehran sẽ đáp trả mạnh tay các tội ác ở Lebanon và các hành vi vi phạm lệnh ngừng bắn. Ông nói thêm rằng lệnh ngừng bắn áp dụng cho toàn bộ khu vực.

Do đó, các nhà báo cho biết, Tehran đã không trì hoãn và đình chỉ việc các tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz./.
QV-ST!

THẾ GIỚI 24 GIỜ QUA: LỰC LƯỢNG VỆ BINH CÁCH MẠNG HỒI GIÁO (IRGC) CÔNG BỐ DANH SÁCH CÁC MỤC TIÊU BỊ TẤN CÔNG TRONG ĐỢT TRẢ ĐŨA THỨ 100!

     Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã công bố chi tiết các mục tiêu của Mỹ và Israel bị tấn công bằng tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và máy bay không người lái tấn công vào đêm thứ Ba để đáp trả hành động gây hấn của Mỹ và Israel, trước khi thỏa thuận ngừng bắn tạm thời do Pakistan làm trung gian có hiệu lực vào sáng sớm thứ Tư.

Trong một tuyên bố, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo cho biết binh lính của họ đã tiến hành các hoạt động vào ngày 7 tháng 4 để đáp trả các hành động khiêu khích của kẻ thù, nhắm mục tiêu vào hơn 25 địa điểm chiến lược thuộc về những kẻ xâm lược độc ác trong đợt tấn công thứ 100 của Chiến dịch Lời Hứa Chân Thực 4.

Thông báo cho biết các mục tiêu bao gồm 13 khu phức hợp năng lượng và đường ống dẫn dầu có liên quan đến Mỹ và chế độ Zionist, cũng như 10 địa điểm quân sự, an ninh và hậu cần, cùng với một số mục tiêu công nghệ và cơ sở hạ tầng của kẻ thù.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) báo cáo rằng trong đợt tấn công trả đũa thứ 100, lực lượng Iran đã nổ súng vào các mục tiêu của Mỹ và Do Thái trải dài từ bờ biển Địa Trung Hải đến phía đông bán đảo Ả Rập, nhấn mạnh rằng kẻ thù ngu ngốc nên hiểu rằng bất kỳ cuộc tấn công nào vào cơ sở hạ tầng của Iran sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng.

Các mục tiêu bị tấn công vào đêm thứ Ba bằng tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và máy bay không người lái tấn công bao gồm:
1. Nhà máy lọc dầu và các cơ sở dầu khí của công ty Chevron của Mỹ tại Ra's al Ju'aymah, Ả Rập Xê Út, được coi là cơ sở phân hủy NLG lớn nhất và là nhà cung cấp năng lượng quan trọng cho Hoa Kỳ.

2. Các cơ sở khai thác dầu khí và hóa dầu của ExxonMobil và Dow Chemical tại Jubail, Ả Rập Xê Út.

3. Các cơ sở khai thác dầu khí của các công ty Mỹ tại Yanbu trên bờ Biển Đỏ với công suất sản xuất 250.000 thùng mỗi ngày.

4. Các cơ sở dầu khí của Mỹ tại Habshan - đường ống dẫn dầu từ Dubai đến Fujairah, được thiết kế để tránh eo biển Hormuz.

5. Các cơ sở khai thác dầu khí chính của ExxonMobil tại Rass Laffan, Qatar, với công suất sản xuất 146.000 thùng mỗi ngày.

6. Các cơ sở khai thác dầu quan trọng của công ty Bapco của Mỹ tại Bahrain, sản xuất 267.000 thùng dầu mỗi ngày.

7. Nhà máy lọc dầu Das của Mỹ tại UAE, với công suất chế biến dầu thô là 60.000 thùng mỗi ngày.

8. Các cơ sở của các công ty dầu khí Mỹ tại Fujairah với sức chứa kho lưu trữ một triệu mét khối.

9. Nhà máy lọc dầu Al-Ahmadi ở Kuwait, sản xuất 346.000 thùng dầu mỗi ngày.

10. Công ty American Dolphin Gas có trụ sở tại Qatar, với công suất xuất khẩu 2 tỷ feet khối mỗi ngày.

11. Mỏ dầu đảo Zirku, với công suất sản xuất 750.000 thùng dầu thô mỗi ngày.

12. Công ty SATORP của Mỹ; với công suất lọc dầu 460.000 thùng mỗi ngày, là một trong những nguồn nhiên liệu cho các nhà máy điện.

13. Nhà máy lọc khí Manifa, với công suất tách 900.000 thùng dầu và khí mỗi ngày.

14. Các trung tâm công nghệ thông tin và công nghiệp tiên tiến của chế độ Zionist tại Be'er Sheva, miền nam Palestine bị chiếm đóng.

15. Các trung tâm tình báo và giám sát của quân đội và lực lượng an ninh thuộc chế độ Israel tại Israel và Tháp Kim Cương ở thủ đô của Palestine bị chiếm đóng.

16. Bộ Chỉ huy Trung ương của Hoa Kỳ trong khu vực, đặt tại Al-Azraq, Jordan, và việc phá hủy các mục tiêu quan trọng tại trung tâm đó.

17. Sân bay Ben Gurion ở thành phố Jaffa, Palestine bị chiếm đóng.

18. Nhà máy lọc dầu Haifa ở Palestine bị chiếm đóng, với công suất sản xuất 300.000 thùng mỗi ngày.

19. Khu phức hợp chính phủ của lực lượng chiếm đóng Israel tại thủ đô bị chiếm đóng, nơi đặt các trung tâm chỉ huy và kiểm soát của chế độ Zionist.

Theo tuyên bố, đồng thời, Hải quân IRGC, trong khi tiếp tục duy trì kiểm soát thông minh các tuyến đường hàng hải của eo biển Hormuz, đã nhắm mục tiêu vào các địa điểm sau:

1. Tàu tấn công đổ bộ LHA7 bị trúng tên lửa hành trình và sau khi bị hư hại và bốc cháy trên boong, đã rút lui xuống vùng biển sâu của Ấn Độ Dương.

2. Tàu sân bay CVN 74 cũng bị một số máy bay không người lái tấn công và phải rút lui xuống vùng biển sâu của Ấn Độ Dương sau khi bị hư hại phần thân tàu.

3. Cơ sở sản xuất máy bay không người lái của chế độ Zionist đặt tại UAE.

4. Các cơ sở đầu tư dầu khí của các công ty Mỹ tại LSB, Kuwait.

5. Căn cứ của những kẻ xâm lược Mỹ tại Ali Al Salem, Kuwait.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) đã khẳng định rõ ràng rằng họ vẫn luôn tuân thủ mệnh lệnh của Lãnh tụ Cách mạng Hồi giáo Ayatollah Seyed Mojtaba Khamenei và sẵn sàng hành động, được trang bị kinh nghiệm dày dặn từ hai cuộc chiến tranh do liên minh Mỹ-Zionist tiến hành.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) cảnh báo rằng họ sẵn sàng tạo ra một cuộc đối đầu khốc liệt hơn nữa nếu kẻ thù có bất kỳ tính toán sai lầm nào nữa, đồng thời cho biết thêm rằng các đối tác của Mỹ trong khu vực đã chứng kiến sự bất lực của Mỹ và chế độ Zionist./.
QV-ST!

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 5: NĂNG LỰC THỰC THI - YÊU CẦU CHIẾN LƯỢC CỦA NĂNG LỰC CẦM QUYỀN!
(Tiếp theo và hết)

     Cơ hội không chờ đợi bất kỳ ai, cũng không chờ đợi bất cứ quốc gia nào. Nhiều thời cơ chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc; nếu thiếu bản lĩnh và năng lực hành động để nắm bắt kịp thời, cơ hội sẽ trôi qua, thậm chí để lại những hệ lụy lâu dài. Bởi vậy, năng lực thực thi không thể xem là một kỹ năng quản trị thông thường, mà phải được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược, là thước đo trực tiếp, sinh động và thuyết phục nhất của năng lực cầm quyền.

Thành công không chỉ ở khâu ban hành nghị quyết

Khắc phục những hạn chế trong việc thực thi nghị quyết, tại Phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Cần tập trung thực hiện nghị quyết theo hướng hành động, bảo đảm hiệu quả thực chất, khắc phục bằng được tình trạng “tổ chức thực hiện là khâu yếu”.

Tinh thần hành động cần được cụ thể hóa thành giải pháp cụ thể, thực hiện nghiêm túc trong toàn hệ thống: Mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu phải chủ động chuyển từ “nhận thức đúng” thành “tổ chức triển khai có hiệu quả”; từ “quyết tâm cao” thành “kết quả rõ”; kết hợp “chỉ đạo, điều hành” với “kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm”.

Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở tầm nhìn chiến lược, khả năng hoạch định đường lối mà còn được đo bằng hiệu quả tổ chức thực hiện. Chủ trương đúng mà không đi vào cuộc sống thì cũng chỉ dừng lại trên giấy. Nghị quyết hay mà không được cụ thể hóa bằng hành động thì không thể tạo ra chuyển biến thực chất.

Lâu nay, có một thực tế là chỉ cần xây dựng, ban hành được nghị quyết hay đã được coi là thành tựu lớn, khiến cho đảng viên khi học tập nghị quyết có cảm giác như việc đã xong, tất cả những mục tiêu trong nghị quyết dường như đã trong tầm tay. Ở không ít nơi, việc triển khai nghị quyết còn mang nặng tính hình thức. Hội nghị quán triệt tổ chức rầm rộ, tài liệu in ấn đầy đủ, nhưng sau đó thiếu chương trình hành động cụ thể, khả thi; phân công trách nhiệm không rõ ràng; thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát, phối hợp hiệu quả. Có nơi, người đứng đầu phát biểu rất quyết liệt, nhưng khi đi vào thực thi lại lúng túng, chậm trễ, thậm chí né tránh va chạm.

Điểm yếu trong khâu tổ chức thực hiện nghị quyết còn biểu hiện ở tâm lý an toàn, sợ trách nhiệm, ngại đổi mới, thiếu tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ở đó có cả sự buông lỏng kiểm tra, thiếu quyết liệt trong xử lý sai phạm. Hệ quả là “trên nóng dưới lạnh”, quyết tâm chính trị ở cấp cao không được chuyển hóa thành hành động cụ thể ở cơ sở, các mục tiêu chiến lược không được cụ thể hóa thành kết quả đo đếm được.

Ban hành nghị quyết chỉ là bước khởi đầu. Thành công hay không nằm ở bước tổ chức thực hiện. Nếu khâu tổ chức thực hiện yếu kém, mọi nỗ lực xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đều trở nên vô nghĩa. Uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân không đến từ những lời hứa, mà đến từ những thay đổi tích cực, cụ thể. Khi người dân thấy thủ tục hành chính được rút ngắn, hạ tầng cải thiện, môi trường kinh doanh minh bạch hơn, cán bộ gần dân, sát cơ sở, điều kiện sống của nhân dân tốt hơn, vị thế đất nước ngày càng nâng lên... thì niềm tin sẽ được củng cố. Vì vậy, việc Đại hội XIV và người đứng đầu Đảng ta đặt trọng tâm vào yêu cầu hành động thực thi nghị quyết không chỉ là sự điều chỉnh có tính chiến lược trong phương thức lãnh đạo mà còn xác lập chính xác vai trò, vị trí của khâu tổ chức thực hiện cho toàn bộ hệ thống chính trị.

Vai trò Đảng cầm quyền: Từ nhấn mạnh hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi

Tổ chức thực hiện nghị quyết không phải là công việc hành chính thuần túy, mà là khả năng chuyển hóa các chủ trương, đường lối thành hành động thực tế và kết quả cụ thể trong đời sống thông qua chương trình, kế hoạch hành động; phân công, phân cấp, phân quyền; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; kiểm tra, giám sát; nắm và dự báo tình hình, phản ứng chính sách... nhằm huy động, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Vậy nên, nếu coi tổ chức thực hiện là khâu trung tâm thì năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu giữ vai trò then chốt, có ý nghĩa quyết định.

Năng lực chỉ đạo tổ chức thực thi của người đứng đầu thể hiện trước hết ở việc chuyển hóa nghị quyết thành kế hoạch hành động với mục tiêu rõ ràng, có các bước đi cụ thể gắn với thời hạn hoàn thành và quyền hạn, trách nhiệm của từng người, từng bộ phận, cùng cơ chế phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả nhằm tránh xảy ra tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm.

Năng lực thực thi còn được phản ánh qua khả năng kiểm tra, giám sát và điều chỉnh. Thực tiễn luôn vận động, vì vậy, quá trình thực thi không thể cứng nhắc. Vì thế, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, phát hiện kịp thời những vướng mắc để điều chỉnh phù hợp. Kiểm tra, giám sát không chỉ khi xảy ra sai phạm, khi có phản ánh tiêu cực hay nhằm bắt lỗi mà còn để phát hiện rõ ai làm tốt, ai làm chưa tốt, ai phải chịu trách nhiệm, khâu nào thông suốt, chỗ nào trục trặc, cấp trên cần hỗ trợ những gì để bảo đảm công việc được hoàn thành tốt, đạt mục tiêu đề ra.

Năng lực thực thi còn thể hiện ở kết quả vận hành của cả bộ máy. Một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, quy trình phức tạp sẽ làm chậm mọi quyết sách. Ngược lại, một bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát cơ sở sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống thông suốt, thống nhất.

Song, kể cả khi hội đủ những yếu tố trên mà thiếu vai trò nêu gương của người đứng đầu, nhất là nếu người đứng đầu thiếu trách nhiệm, ngại va chạm, sợ sai, không quyết tâm làm đến cùng, làm cho bằng được thì mọi quy trình cũng trở nên hình thức. Chỉ khi nào người đứng đầu thực sự vào cuộc, quyết tâm, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm, dám xử lý những tồn tại thì cả hệ thống sẽ chuyển động theo, không có tình trạng co cụm, sợ sai, né việc khó hay làm chiếu lệ. Thực tế cho thấy, ở đâu người đứng đầu quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì ở đó chất lượng, tiến độ công việc thường nhanh hơn, tốt hơn. Điều đó khẳng định một chân lý: Năng lực thực thi trước hết là năng lực con người.

Sau khi thực hiện tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền thì vai trò của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương ngày càng quan trọng hơn. Họ đã được trao đủ các quyền hành cần thiết để tự quyết các việc lớn trong phạm vi được giao quản lý. Điều họ cần, bên cạnh năng lực, trình độ là phải có hoài bão lớn, quyết tâm lớn, muốn làm được việc lớn cho nước, cho dân. Bởi, nếu cái gì cán bộ cũng chờ và xin ý kiến cấp trên thì dù có hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, cuối cùng mọi công việc cũng sẽ được dồn lên cho người ở cấp cao nhất. Và như vậy, cơ hội sẽ trôi qua, khiến địa phương lỡ nhịp phát triển, đất nước mất lợi thế cạnh tranh, nguy cơ tụt hậu so với thế giới.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt, đòi hỏi tầm nhìn phát triển dài hạn, không chỉ cho nhiệm kỳ 2025-2030 mà còn hướng tới các mốc lớn như năm 2045 và xa hơn nữa. Bối cảnh đó cùng những yêu cầu của Đại hội XIV, của công cuộc đổi mới toàn diện đòi hỏi đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu phải hội đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, đạo đức, lối sống, đặc biệt là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, thực sự là những người yêu nước, thương dân thì mới dám hành động và biết hành động.

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam thì thành công của Đại hội XIV góp phần làm rõ một bước phát triển quan trọng trong lý luận về Đảng cầm quyền ở Việt Nam: Từ nhấn mạnh vai trò hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi. Đây là sự bổ sung có giá trị vào lý luận xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo trong điều kiện mới. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng này tạo động lực nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị; củng cố niềm tin của nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tóm lại, tổ chức thực hiện thành công nghị quyết không phải là khâu cuối mà chính là khâu trung tâm, khâu quan trọng nhất, bảo đảm thành công của nghị quyết. Năng lực tổ chức thực hiện thành công nghị quyết chính là thể hiện năng lực cầm quyền của Đảng, là cơ sở để nhân dân tin vào những mục tiêu phát triển lớn của đất nước ta là hoàn toàn khả thi và sẽ trở thành hiện thực./.
Ảnh: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 4: KỶ LUẬT NGHIÊM NHƯNG KHÔNG TRIỆT TIÊU ĐỘNG LỰC HÀNH ĐỘNG!

     Giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, kỷ cương, pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi nghị quyết là yêu cầu tiên quyết, sống còn đối với mọi cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, làm thế nào để giữ nghiêm kỷ luật nhưng không khiến cả bộ máy sợ hãi mà triệt tiêu động lực sáng tạo của cán bộ, không làm lỡ thời cơ, vận hội cũng là bài toán đặt ra.

Kỷ luật nghiêm minh là yêu cầu sống còn

Đối với Đảng ta, chấp hành kỷ luật, kỷ cương là yêu cầu sống còn, nguyên tắc cốt lõi bảo đảm sự tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt, nghĩa là tự giác và nghiêm minh. Người cũng chỉ rõ, Đảng có những điều kiện kỷ luật bắt buộc mỗi đảng viên phải theo. Đảng đã chỉ thị nghị quyết là phải làm. Không làm thì đuổi ra khỏi Đảng...

Nhìn lại các đại án lớn xảy ra trong những năm qua, không ít cán bộ cấp cao vướng vòng lao lý là vì làm trái các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Khi đứng trước hội đồng xét xử, có người biện minh rằng, vì nóng vội, mong muốn nhân dân sớm được thụ hưởng thành quả; có người viện cớ vì sự phát triển của địa phương... Những lời tự bào chữa này là sự ngụy biện, thật khó chấp nhận, không đúng bản chất vụ án, vì những cán bộ ấy không hành động vì lợi ích chung mà chỉ vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Vì thế, dư luận xã hội từng có câu nói hàm ý đầy mỉa mai “cán bộ nói thì hay nhưng làm thì dở, nói đúng nghị quyết nhưng làm trái pháp luật”...

Như ở bài trước chúng tôi đã chỉ ra, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại việc khó, không dám làm, vì sợ làm sai, rồi né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, làm việc cầm chừng, với lập luận “làm nhiều thì sai nhiều, làm ít thì sai ít, không làm thì không sai”; hoặc “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử”...

Cán bộ, đảng viên thận trọng trong công tác để không vi phạm kỷ luật của Đảng, không vi phạm pháp luật là rất cần thiết. Nhưng, không thể viện lý do sợ sai để bào chữa cho việc cố tình chây ì, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với công việc theo chức trách, nhiệm vụ của mình, theo kiểu “sống chết mặc bay”. Đây chính là dấu hiệu của một loại “tự diễn biến”, là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, làm cản trở nghiêm trọng sự phát triển.
 
Cần thấu cảm và đồng hành với đội ngũ cán bộ

Nhưng cũng sẽ là thiếu thực tế, nếu tổ chức cứ buộc cán bộ phải liều mình với công việc, trong khi không tính đến những rủi ro do những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp với thực tiễn của các quy định pháp luật. Thực tế là, ai là người ký văn bản, ai trực tiếp thực hiện sẽ là người chịu trách nhiệm chính trước pháp luật. Vì thế, nếu quy định của pháp luật đang có những cách hiểu khác nhau, hoặc chưa có các quy định pháp luật hướng dẫn xử lý một tình huống cụ thể phát sinh thì người thực hiện sẽ chịu một sức ép và rủi ro không nhỏ. Tổ chức và người lãnh đạo cấp trên cần thấu cảm điều này để có những hướng dẫn phù hợp, tạo ra sự vững tin cho cán bộ thực thi.

Câu chuyện ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An cho thấy rõ độ “vênh” giữa tinh thần dám làm vì dân với khuôn khổ pháp lý còn nhiều ràng buộc. Trước năm 2020, đất nông nghiệp bị bỏ hoang, nguồn lực lãng phí, đời sống người dân khó khăn. Trên cơ sở chủ trương tích tụ ruộng đất, phát triển kinh tế trang trại, lãnh đạo xã đã linh hoạt tổ chức thực hiện, tạo điều kiện cho người dân xây dựng các công trình phục vụ sản xuất. Từ cách làm này, nhiều mô hình trang trại hiệu quả đã hình thành, khơi thông nguồn lực đất đai, cải thiện sinh kế và được thực tiễn ghi nhận. Tuy nhiên, khi đối chiếu quy định, một số công trình được xác định vượt giới hạn cho phép, người đứng đầu chính quyền xã bị xử lý kỷ luật.

Vấn đề đặt ra không chỉ là đúng-sai về quy định mà là khoảng cách giữa yêu cầu phát triển với độ mở của thể chế. Thực tiễn đó đòi hỏi cách tiếp cận biện chứng hơn: Vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật, vừa có cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm. Bởi nếu chỉ “đúng quy định” mà thiếu tinh thần dấn thân, phát triển sẽ chững lại; nhưng nếu vượt khung mà không được dẫn dắt bởi thể chế phù hợp, những nỗ lực vì dân cũng có thể phải trả giá.

Ngày 5-3-2026, làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh việc siết chặt kiểm soát quyền lực, đồng thời tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tổng Bí thư cho rằng, cần quán triệt đầy đủ chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; tuy nhiên cần phân biệt rõ giữa sáng tạo đúng quy định với làm ẩu, làm tắt hoặc lợi dụng sáng tạo để vi phạm, trục lợi. Cũng theo Tổng Bí thư, ở cấp cơ sở, có thể thiết kế danh mục việc khó cần người chịu trách nhiệm; cơ chế xin ý kiến nhanh đối với tình huống mới; đánh giá riêng các sáng kiến có hiệu quả; biểu dương kịp thời cán bộ xử lý tốt việc phức tạp, tồn đọng kéo dài.

Ý kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm là sự gợi mở quý giá cho các cấp ủy đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương trong việc đề ra phương hướng, cách thức để tháo gỡ khó khăn cho cán bộ khi giải quyết công việc.

Nghị định số 172/2025/NĐ-CP của Chính phủ cũng đã quy định một số tình tiết cán bộ, công chức vi phạm sẽ được miễn kỷ luật như: Vi phạm trong tình thế cấp thiết, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp khi thi hành công vụ; đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng có gây ra thiệt hại vì lý do khách quan; thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng có thiệt hại xảy ra...

Trước mắt, có một số việc cần làm để cán bộ đỡ "bệnh" sợ trách nhiệm: Thứ nhất, tiếp tục phân cấp, phân quyền cụ thể, rõ ràng xem cấp nào được phép làm gì. Thứ hai, cần minh bạch trách nhiệm. Thứ ba, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ làm đúng vì lợi ích chung.

Cấp ủy đảng các cấp cần đồng hành với đội ngũ cán bộ, cần xây dựng cơ chế để xin ý kiến nhanh đối với tập thể cấp ủy, xin ý kiến nhanh cấp trên đối với những vấn đề mới phát sinh mà chưa có thông lệ, chưa có hướng dẫn pháp luật để giải quyết. Nếu vấn đề gì có thể vận dụng ngay thì giải quyết ngay. Vấn đề gì quá lớn, vượt thẩm quyền cho phép, cần phải sửa luật, sửa quy định thì cần có cơ chế đề xuất để sớm điều chỉnh, tránh vì chậm trễ, trì trệ mà gây nguy hại cho việc chung. 

Thời gian qua, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát được đề cao trong việc phát hiện những sai phạm của quá trình thực thi công vụ. Điều này là rất cần thiết để bảo đảm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng được thực hiện nghiêm minh. Tuy nhiên, có lẽ nên xác định rằng, kiểm tra, giám sát không phải để cứ chăm chăm vào việc phát hiện sai phạm, xử lý cán bộ, gây những căng thẳng và áp lực không cần thiết cho đội ngũ cán bộ; mà qua công tác kiểm tra, giám sát cần phát hiện những vướng mắc, khó khăn khách quan, từ đó đồng hành, giúp đỡ đội ngũ cán bộ, đề xuất lên cấp trên những giải pháp để giúp cán bộ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, tránh được những rủi ro pháp luật.

Suy cho cùng thì các biện pháp quản lý cũng nhằm để hệ thống chính trị, hệ thống hành chính thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Do đó, tăng cường năng lực thực thi thì phải tạo ra một môi trường quản lý mà trong đó kỷ luật nghiêm minh và đổi mới, sáng tạo không đối lập nhau, hay nói cách khác, kỷ luật nghiêm minh không làm triệt tiêu sự sáng tạo. Để từ đó, cán bộ thực sự vững tin rằng khi dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung sẽ được tổ chức và pháp luật bảo vệ.

Kỷ luật nghiêm minh là nền tảng của bộ máy, tuy nhiên nếu thiếu cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung thì kỷ luật có thể vô tình làm triệt tiêu động lực hành động./.
(Còn nữa)
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 3: SỢ TRÁCH NHIỆM - CĂN BỆNH LÀM “ĐÔNG CỨNG” BỘ MÁY!

     Nghị quyết của Đảng dù đúng đắn, tầm nhìn có chiến lược đến đâu cũng khó có thể xoay chuyển thực tiễn nếu đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, mắc "căn bệnh" sợ trách nhiệm. Thực ra, sợ trách nhiệm cũng chính là vô trách nhiệm. Căn bệnh này làm vô hiệu hóa bộ máy, lãng phí thời cơ vàng của đất nước và nguy hiểm hơn là bào mòn niềm tin của nhân dân với Đảng.

Khi cán bộ “án binh bất động” hòng giữ “an toàn”

Trong dòng chảy của lịch sử cách mạng Việt Nam, hai chữ “trách nhiệm” luôn được đặt ở vị trí trang trọng và thiêng liêng nhất. Đó là đạo đức, là danh dự, là cái "gốc" của người cán bộ cách mạng như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần căn dặn. Cũng chính vì trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân mà lớp lớp cán bộ, đảng viên của Đảng không ngại vào sinh ra tử, gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày nay, cần nhìn nhận rằng, trách nhiệm không đơn thuần là làm đúng những gì văn bản quy định. Bởi thực tiễn là một dòng chảy, không văn bản nào lường hết được sự đa dạng, đa màu của cuộc sống. Vì thế, trách nhiệm của cán bộ chính là sự dấn thân, phát huy hết năng lực để thực hiện nhiệm vụ, qua đó phát hiện những vấn đề nổi cộm, những điểm nghẽn cần khơi thông, từ đó có đủ bản lĩnh để tham mưu, đề xuất, giải quyết với mục đích vì công việc chung, vì lợi ích chung của đất nước, của nhân dân. Thế nhưng, thật đáng báo động khi thời gian qua, trong bộ máy công quyền đã và đang xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên mắc “căn bệnh” sợ trách nhiệm.

"Bệnh" sợ trách nhiệm không khó để nhận diện. Đó là tình trạng trì hoãn ra quyết định, né tránh việc khó, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên hoặc đẩy sang ngang cho các cơ quan khác. Nhìn lại thực trạng từ cuối năm 2021 đến năm 2024, chúng ta không khỏi xót xa: Các bệnh viện lớn thiếu từng cuộn băng gạc, hóa chất xét nghiệm chỉ vì lãnh đạo đơn vị "không dám ký" quyết định đấu thầu vì sợ sai, sợ bị thanh tra. Những dự án bất động sản, những hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp bị "ngâm" từ năm này qua năm khác khiến nhiều mảnh đất “vàng” bị bỏ hoang, vì phải "chờ xin ý kiến" hay "nghiên cứu thêm"... Đó thực sự là thực trạng rất đáng báo động. Khi người đứng đầu sợ sai, họ sẽ tạo ra một môi trường làm việc "thủ thế", chọn “án binh bất động” là thượng sách để bảo đảm an toàn.

Hậu quả của “căn bệnh” sợ trách nhiệm vô cùng khốc liệt. Nó làm "đông cứng" bộ máy công vụ, biến những bánh răng năng động thành những khối sắt gỉ sét. Lãng phí thời cơ phát triển chính là cái giá đắt nhất mà đất nước phải trả. Các cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ, các dự án treo, các chính sách an sinh chậm thực thi không chỉ là tổn thất về vật chất, tài chính có thể đo đếm được lên tới hàng nghìn tỷ đồng, mà nguy hại hơn là sự xói mòn niềm tin, thứ tài sản quý giá nhất gắn kết Đảng với dân. Những chủ trương lớn, mục tiêu lớn, những cam kết với dân đều không thể thực hiện được, bởi cán bộ “án binh bất động”, “bình chân như vại”. Tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV (tháng 6-2023), có đại biểu Quốc hội đã phát biểu đầy trăn trở: “Bên trong cán bộ sợ sai, bên ngoài dân chúng thở dài lo âu...”.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ rõ: “Không thể để tình trạng nghị quyết thì đúng, tổ chức thực hiện thì yếu, chậm trễ, hiệu quả thấp mà không có ai chịu trách nhiệm cụ thể. Không được phép để sự yếu kém trong tổ chức và con người làm chậm bước tiến của quốc gia...”. Lời nhắc nhở của người đứng đầu Đảng ta không chỉ là một mệnh lệnh chính trị mà còn là một tiếng chuông cảnh tỉnh đanh thép.

Bản lĩnh và danh dự đảng viên

Đi sâu phân tích nguyên nhân, chúng ta thấy cũng có những yếu tố khách quan tác động khiến cán bộ e dè. Ấy là, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, có việc không biết làm thế nào cho chuẩn, rồi áp lực từ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán chặt chẽ của Đảng và Nhà nước, rồi những trường hợp làm sai bị vướng vào vòng lao lý tác động tới tâm lý đội ngũ cán bộ... Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan từ năng lực, từ cái tâm của người cán bộ mới là yếu tố quyết định. Đó chính là do năng lực kém, do sự suy thoái về bản lĩnh chính trị, sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, do sự thiếu tự trọng. Nhiều cán bộ chây ì, chọn cách "giữ mình", “án binh bất động”, không phải vì sợ sai cho công việc chung, mà sợ mất "cái ghế" chức vụ, sợ mất quyền lợi cá nhân. Họ không làm gì, nhưng cũng không chịu đứng sang một bên để người khác làm. Họ thà để mặc nhân dân mòn mỏi chờ đợi, mặc doanh nghiệp khốn đốn, địa phương và đất nước mất cơ hội phát triển, còn hơn là mất "ghế" của mình.

PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhận định: Những hiện tượng “trì hoãn quyết định”, “né việc khó” thể hiện sự yếu kém về trình độ, bản lĩnh của người đứng đầu. Tại sao cùng một chủ trương của Đảng mà có cơ quan, địa phương triển khai thực hiện tốt, tạo chuyển biến tích cực, còn địa phương mình thì giậm chân tại chỗ? Câu hỏi ấy, người đứng đầu từng cấp phải tự vấn lương tâm mình.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định rằng: Đường lối đúng đến đâu mà cán bộ yếu kém cũng không thành công; ngược lại, cán bộ tốt có thể biến chủ trương đúng đắn thành kỳ tích.

Rõ ràng, bản lĩnh không phải là làm liều, không phải là bất chấp luật pháp và quy định của Đảng, mà là sự kết tinh của trí tuệ, sự am hiểu luật pháp và tinh thần tận hiến. Nếu cán bộ nắm vững quy định, làm việc vì mục tiêu chung của dân, của nước, với cái tâm trong sáng thì không có lý gì phải sợ hãi.

Để trị dứt điểm "căn bệnh" sợ trách nhiệm không thể chỉ dùng những lời giáo huấn chung chung mà phải bằng những cơ chế "thép" lồng ghép hài hòa trong công tác cán bộ. Phải nhanh chóng thực hiện phương châm "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả. Khi trách nhiệm được lượng hóa, không ai có thể lẩn khuất sau "tấm khiên" tập thể. Cơ chế, quy định bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung đã được xây dựng, điều quan trọng là cơ chế ấy cần được thực hiện, tạo thành "bệ đỡ" vững chắc để cán bộ yên tâm cống hiến.

Để chọn được người phù hợp thì công tác cán bộ phải thực sự là khâu đột phá, cần thực hiện tốt tinh thần "có vào, có ra; có lên, có xuống". Ai không dám làm, ai làm việc cầm chừng thì dứt khoát phải “đứng sang một bên”, phải được thay thế bằng người khác. Việc xử lý cán bộ không chỉ áp dụng với người làm sai, mà phải nghiêm khắc kỷ luật cả những người thờ ơ, “bình chân như vại”, "không làm gì". Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng phải đi đôi với sự khơi dậy lòng tự trọng và khát vọng cống hiến của mỗi cán bộ, đảng viên.

Dứt khoát phải trị "bệnh" sợ trách nhiệm. Vì sợ trách nhiệm không chỉ làm mất cơ hội phát triển mà còn bào mòn niềm tin!
Ảnh minh họa.
(còn nữa)
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 2: VÌ SAO CÙNG MỘT CHỦ TRƯƠNG, NHƯNG HIỆU QUẢ KHÁC NHAU?

     Thời gian qua xuất hiện một nghịch lý: Cùng một chủ trương của Trung ương, cùng một cơ chế, chính sách, nhưng khi triển khai vào đời sống, kết quả thu về lại có sự khác biệt giữa các địa phương. Nơi thì bứt phá ngoạn mục, nơi lại trì trệ, nghị quyết không đi vào cuộc sống. Nguyên nhân vì đâu?

Nơi bứt phá, nơi trì trệ

Xin lấy một số ví dụ làm minh chứng cho sự phân hóa rõ rệt về kết quả khi triển khai nghị quyết của Đảng vào thực tiễn. Cụ thể như việc thực hiện chủ trương chuyển đổi số, hai địa phương là TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ninh đã bứt phá mạnh mẽ, vươn lên trở thành điểm sáng của cả nước.

Nhiều người lý giải rằng, đó là do Đà Nẵng, Quảng Ninh có nguồn lực dồi dào hơn nơi khác. Nhưng không đơn giản chỉ là do nguồn lực, bởi cũng có địa phương nguồn lực tốt hơn nhưng kết quả thực hiện lại chưa bằng. Quan trọng là hai địa phương nói trên có quyết tâm chính trị cao độ, sự chỉ đạo quyết liệt và cách tiếp cận toàn diện. Cụ thể, hai địa phương đã ban hành nghị quyết chuyên đề nhằm dồn sức lãnh đạo, tập trung nguồn lực và xác định rõ khâu đột phá là xây dựng hạ tầng (trung tâm hành chính công hiện đại, hạ tầng dữ liệu dùng chung) và đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ trình độ, năng lực để vận hành. Khi thủ tục hành chính được giải quyết thông suốt qua dịch vụ công trực tuyến, giúp giảm thời gian, bớt phiền hà cho người dân, doanh nghiệp và kết quả thu về là chỉ số năng lực cạnh tranh và sự hài lòng của người dân tại Đà Nẵng và Quảng Ninh đạt mức cao, thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh.

Ngược lại, cùng thực hiện chủ trương chuyển đổi số, nhưng có địa phương chỉ tập trung vào việc mua sắm máy móc, trang thiết bị thật đắt tiền. Máy tính hiện đại được trang bị đến tận cơ sở nhưng cán bộ không biết sử dụng; hạ tầng chắp vá, thiếu đồng bộ, đường truyền yếu, người dân không thể thực hiện được một số dịch vụ công trực tuyến đơn giản... Kết quả chuyển đổi số tại những nơi ấy rất yếu vì thiếu sự chuẩn bị cần thiết về con người.

Một ví dụ khác là về thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới. Các tỉnh như Hưng Yên, Ninh Bình... thực hiện với quan điểm nhất quán “nhân dân là chủ thể, là trung tâm của nông thôn mới” theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhờ đó, các địa phương này đã khơi dậy sức dân, huy động được mọi nguồn lực trong dân và về đích sớm nông thôn mới, rồi tiếp đà đó để xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu bền vững, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

Cũng thực hiện chủ trương ấy, không ít địa phương vì chạy theo thành tích nên nóng vội, huy động quá sức dân, rồi vay mượn để hoàn thành một vài tiêu chí nông thôn mới mà đáng ra phải cần thêm thời gian, thêm nguồn lực. Có địa phương chạy theo sự hào nhoáng, cố xây trụ sở, quảng trường to đẹp, hoành tráng, trong khi hạ tầng sản xuất lạc hậu, thiếu nguồn lực cho phát triển, người dân thiếu việc làm ổn định, đời sống khó khăn. Kết quả là, dù được công nhận nông thôn mới, nhưng địa phương phải oằn mình gánh thêm khoản nợ đọng xây dựng cơ bản.

Người đứng đầu - căn nguyên quyết định của bứt phá

Thời gian qua, tốc độ triển khai các nhiệm vụ tại Hà Nội được đẩy nhanh hơn. Nhiều việc, nhiều dự án là điểm nghẽn nhiều năm đã được tháo gỡ. Để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội Đảng XIV vào cuộc sống, Thành ủy Hà Nội đã đề ra chương trình hành động xác định rõ mục đích, yêu cầu xuyên suốt là cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng gắn với hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố. Trong đó, có thể thấy rõ vai trò nổi bật của người đứng đầu với tinh thần “nói ít, làm nhiều”, cụ thể hóa quyết sách bằng hành động.

Dấu ấn rõ nét là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục). Với sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, công tác giải phóng mặt bằng của dự án cơ bản hoàn thành. Tổng diện tích thu hồi đạt 153.341m², liên quan 1.983 hộ dân và tổ chức. Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường Ô Chợ Dừa, Giảng Võ và Láng đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất đối với 1.295 hộ dân, trong khi 7 năm trước đó, các quận chỉ giải quyết được 686 hộ. Hiện nay, Thành ủy Hà Nội đang chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng của thành phố khẩn trương đẩy nhanh tiến độ xây dựng 8 hồ điều hòa mới và các bể điều tiết ngầm để chống ngập khẩn cấp trước mùa mưa năm nay với tổng mức đầu tư gần 5.600 tỷ đồng. Nếu việc này được thực hiện, Hà Nội sẽ giải quyết cơ bản vấn đề rất nhức nhối thời gian qua: Ngập úng trong nội đô.

Đây là dẫn chứng tiêu biểu cho việc Hà Nội đã thực hiện được tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII là: "Hà Nội đã nói là làm-làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng".

Để đạt được kết quả như vậy, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội đã có sự chuyển biến rất tích cực, quyết liệt; kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ với tinh thần "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Thành ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh để giải quyết những vấn đề bức xúc và tìm các giải pháp để xử lý 5 điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô, gồm: Ùn tắc giao thông, trật tự đô thị, ô nhiễm môi trường, úng ngập, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thực tiễn cho thấy, nghị quyết vận hành có hiệu quả hay không thì yếu tố đầu tiên và cũng là quan trọng nhất chính là vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương. Hay nói cách khác, đó là phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của người đứng đầu.

Rõ ràng, cùng một chủ trương của Trung ương, khi người đứng đầu bộ, ngành, địa phương có năng lực tổ chức, đủ tâm và tầm sẽ biết soi chiếu vào tiềm năng, thế mạnh của bộ, ngành, địa phương mình để có những quyết sách mang tính đột phá. Họ không chờ những yếu tố đến từ bên ngoài, mà chủ động tìm giải pháp vượt qua khó khăn; không chờ “cầm tay chỉ việc” mà hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung.

Năng lực tổ chức thực thi nghị quyết được thể hiện ở khả năng vận dụng, triển khai sáng tạo trong thực tiễn, bởi thực tiễn luôn biến đổi không ngừng. Nếu người lãnh đạo chỉ muốn an toàn sẽ thực hiện nghị quyết theo kiểu trông chờ hướng dẫn, rồi từ đó rập khuôn. Kiểu ỷ lại như vậy chính là căn nguyên làm triệt tiêu tinh thần đổi mới, động lực sáng tạo. Kết quả là, chủ trương thì hay nhưng hiệu quả lại rất thấp, thậm chí không mang lại hiệu quả.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng, tổ chức thực thi hiệu quả nghị quyết phụ thuộc quyết định ở chất lượng đội ngũ cán bộ. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thực tế cho thấy, nghị quyết có hay đến đâu cũng phải thông qua bàn tay, khối óc và nhất là tinh thần tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận của nhân dân thì mới mang lại hiệu quả. Nơi nào cán bộ có năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ tốt, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, nơi đó chính sách được thực thi đúng, đủ, hiệu quả cao. Nơi nào phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, nơi đó nghị quyết có sức sống bền vững. Nếu bộ máy quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu thì mọi chủ trương tốt đẹp của Đảng cũng trở nên méo mó khi vận hành trong thực tiễn. Hiệu quả thực thi nghị quyết thực sự là cuộc sát hạch về bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, đạo đức của cán bộ, đảng viên trước nhân dân, cũng chính là thước đo chính xác nhất lòng tin của nhân dân với Đảng. Muốn nghị quyết của Đảng thực thi hiệu quả, chúng ta cần những người đứng đầu tận tâm, tận tụy, tận hiến.

Như vậy, khác biệt trong hiệu quả thực hiện nghị quyết không nằm ở nội dung mà nằm ở năng lực tổ chức./.
(còn nữa)
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

BÀI 1: KHI ĐIỂM NGHẼN PHÁT TRIỂN KHÔNG CÒN NẰM Ở CHỦ TRƯƠNG!

     Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng với các nghị quyết của Bộ Chính trị thời gian qua đã đề ra nhiều chủ trương lớn, mang tính đột phá, mở ra không gian phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra một yêu cầu ngày càng rõ: Nghị quyết dù đúng đắn đến đâu, nếu không được tổ chức thực hiện hiệu quả thì vẫn chỉ dừng lại trên giấy. Thực thi thành công nghị quyết chính là thước đo trực tiếp, sinh động và thuyết phục nhất đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần thẳng thắn chỉ rõ: Thể chế chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Nhận diện rõ vấn đề này, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết với tư duy đổi mới, đột phá nhằm tháo gỡ rào cản từ thể chế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, để những chủ trương, quan điểm trong từng nghị quyết đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, lại đang vướng phải một điểm nghẽn khác, thậm chí còn khó tháo gỡ hơn, đó là: Năng lực tổ chức thực thi nghị quyết.

Từ “hệ điều hành” lỗi thời đến cuộc cách mạng về thể chế

Đại hội XIV của Đảng xác định nhiều mục tiêu lớn và đầy thách thức: Đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500USD/năm.

Để đạt được các mục tiêu đầy tính bứt phá này là điều không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới đang có những biến động khó lường. Do đó, cần phải có những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”. Đây là một hạn chế kéo dài nhiều năm, khiến không ít mục tiêu lớn trong từng nghị quyết của Đảng các nhiệm kỳ trước đây không đạt được kỳ vọng. Nghị quyết Đại hội Đảng XIV xác định 3 đột phá chiến lược là đòn bẩy quyết định cho cả giai đoạn 2026-2030; trong đó, “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực” được xác định ở vị trí đầu tiên.

Phấn khởi trước những chủ trương đúng đắn và những mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra, tuy nhiên, PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Thực thi là "thước đo" giá trị của nghị quyết. Một nghị quyết dù hay đến đâu, một đạo luật dù tiến bộ thế nào, nếu không đi vào cuộc sống thì vẫn chỉ nằm trên giấy. Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở việc ban hành các quyết sách đúng đắn, mà quan trọng hơn là ở khả năng biến các quyết sách đó thành kết quả thực tế: Tăng trưởng kinh tế, sự hài lòng của người dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Nếu khâu thực thi yếu, sẽ dẫn đến tình trạng "trên nóng dưới lạnh", làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào các chủ trương của Đảng. Do đó, thực thi chính là bài kiểm tra thực tế nhất đối với uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Để thúc đẩy phát triển đất nước, nâng cao năng lực bộ máy, chỉ trong hơn một năm vừa qua, Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện rất nhiều công việc. Cùng với việc ra một loạt nghị quyết đột phá, tư duy cởi mở như: Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 59-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW; Nghị quyết số 71-NQ/TW; Nghị quyết số 72-NQ/TW..., Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy để loại bỏ bớt các rào cản, tối ưu hóa nguồn lực. Tinh gọn bộ máy được xác định là phương thức quản trị xã hội mới.

Để thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, đưa ngay vào cuộc sống, thời gian qua, Quốc hội đã làm việc với tinh thần hết sức khẩn trương. Tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã xem xét, thông qua tới 51 luật, 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Đây là con số luật, nghị quyết được xem xét, thông qua lớn nhất từ trước đến nay tại một kỳ họp Quốc hội. Điểm đáng chú ý nhất không chỉ là số lượng, mà là tư duy lập pháp mới: “Một luật sửa nhiều luật”. Với việc sửa đổi trực tiếp nhiều luật liên quan đến đầu tư, ngân sách, đất đai... cho thấy một cuộc đại điều chỉnh của hệ điều hành quốc gia, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và chuyển mạnh sang tư duy “kiến tạo phát triển”.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Tư duy đột phá đã thay đổi rất căn bản. Không chỉ làm luật, mà phải làm cho luật sống; không chỉ ban hành chính sách, mà phải biến chính sách thành tác động thật trong đời sống. Và vì thế, đột phá thể chế không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản, mà phải đo bằng năng lực tháo gỡ điểm nghẽn, bằng sự thông suốt của môi trường đầu tư-kinh doanh, bằng sự giảm thực chất của chi phí tuân thủ, bằng niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với bộ máy công quyền. Có thể thấy rằng, thứ khác biệt không phải là tầm nhìn, mà là năng lực chuyển tầm nhìn thành hành động.

Năng lực thực thi - thước đo năng lực Đảng cầm quyền

Bức tranh thực tế đang có sự phân hóa rõ nét. Tại một số tỉnh, thành phố, ngay sau khi các nghị quyết, các luật mới được thông qua, không khí làm việc thay đổi hẳn. Các dự án tồn đọng nhiều năm được khơi thông, thủ tục hành chính được cắt giảm tối đa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Những con số về tăng trưởng và thu hút đầu tư tại các địa phương này là minh chứng sống động cho việc khi thể chế được cởi trói, năng lượng xã hội sẽ bùng nổ.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, vẫn còn tình trạng “chờ hướng dẫn”, “nghe ngóng”. Điều này cho thấy, điểm nghẽn thực thi vẫn là thứ không dễ giải quyết. Vấn đề đặt ra là khả năng phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương. Sự tắc nghẽn thường nằm ở các "mối nối", nơi các cơ quan đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.

Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra những chỉ đạo rất sát đúng. Trong 5 điểm then chốt có ý nghĩa quyết định để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, ngay ở điểm then chốt thứ hai, Tổng Bí thư nhấn mạnh rõ về yêu cầu phải quyết liệt cải cách phương thức tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi. Kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn hệ thống chính trị, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết.

Điều rõ ràng là, lãnh đạo các cấp phải gương mẫu, tiên phong trong đổi mới tư duy và hành động; dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia. Đây chính là mệnh lệnh hành động. Trong kỷ nguyên mới, không có chỗ cho những “mắt xích” yếu làm chậm bước tiến của cả dân tộc. Đất nước và nhân dân không chỉ cần những cán bộ “đúng quy trình”, mà cần những cán bộ có năng lực tổ chức thực hiện hiệu quả.

Nếu xem các nghị quyết và luật mới ban hành thời gian qua là "bản thiết kế" cho một tòa nhà vĩ đại thì đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là những "kỹ sư và thợ xây". Tòa nhà có vững chãi, có đẹp đẽ hay không hoàn toàn phụ thuộc vào đôi bàn tay, khối óc của những kỹ sư và những người thợ này. Trận địa bây giờ không còn là bàn nghị sự, mà là ở các công trường, trong từng nhà máy, trên mỗi thửa ruộng và ở mỗi quyết định, hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng: Trong lý luận chính trị, phương thức lãnh đạo được hiểu là tổng thể các cách thức, biện pháp, quy trình mà Đảng sử dụng để tác động, định hướng, tổ chức hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện đường lối, mục tiêu đã đề ra. Đối với một đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo không chỉ phản ánh trình độ lý luận mà còn thể hiện năng lực tổ chức, khả năng biến chủ trương thành hiện thực.

Bởi vậy, năng lực thực thi nghị quyết không chỉ là kỹ thuật mà là biểu hiện trực tiếp của năng lực cầm quyền. Điểm nghẽn không phải ở chủ trương mà ở năng lực tổ chức thực hiện./.
Ảnh: Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
(còn nữa)
QV-ST!