Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định kèm Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị COVID-19 ở trẻ em. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có văn bản hướng dẫn riêng
cho đối tượng này.
Theo hướng dẫn, bệnh khởi phát với các triệu chứng như sốt, mệt
mỏi, đau đầu, ho khan, đau họng, nghẹt mũi/sổ mũi, mất vị giác/khứu giác, nôn
và tiêu chảy, đau cơ, tuy nhiên trẻ thường không có triệu chứng.
Thống kê cho thấy, triệu chứng lâm sàng thường gặp: sốt (63%),
ho (34%), buồn nôn/nôn (20%), ỉa chảy (20%), khó thở (18%), triệu chứng mũi
họng (17%), phát ban (17%), mệt mỏi (16%), đau bụng (15%), triệu chứng giống
Kawasaki (13%), không có triệu chứng (13%), triệu chứng thần kinh (12%), kết
mạc (11%) và họng đỏ (9%).
Một số biểu hiện khác có thể gặp nhưng ít hơn là tổn thương da
niêm (hồng ban các đầu ngón chi, nổi ban da…); rối loạn nhịp tim; tổn thương
thận cấp; viêm thanh mạc (tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng, tràn dịch
màng tim); gan to, viêm gan; bệnh não (co giật, hôn mê hoặc viêm não)
Hầu hết trẻ chỉ bị viêm đường hô hấp trên với sốt nhẹ, ho, đau
họng, sổ mũi, mệt mỏi; hay viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1-2 tuần.
Khoảng 2% trẻ có diễn tiến nặng, thường vào ngày thứ 5-8 của bệnh. Trong đó một
số trẻ (khoảng 0,7%) cần điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với các biến
chứng nặng như: hội chứng nguy kịch hô hấp cấp (ARDS), viêm cơ tim, nhiễm khuẩn
huyết, sốc nhiễm trùng, và hội chứng viêm đa hệ thống (MIS-C). Các yếu tố tiên
lượng nặng trẻ béo phì, trẻ chậm phát triển, bại não, bệnh phổi mạn, suy giảm
miễn dịch, đái tháo đường, tim bẩm sinh... Tỷ lệ tử vong ở trẻ rất thấp (<
0,1%), hầu hết tử vong do bệnh nền.
Hướng dẫn cũng chỉ ra các yếu tố nguy cơ bệnh diễn biến nặng
gồm: trẻ đẻ non, cân nặng thấp; béo phì, thừa cân; đái tháo đường, các bệnh lý
gene và rối loạn chuyển hoá; các bệnh lý phổi mạn tính, hen phế quản; ung thư
(đặc biệt là các khối u ác tính về huyết học, ung thư phổi…); bệnh thận mạn
tính; ghép tạng hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu; bệnh tim mạch (tim bẩm sinh,
suy tim, tăng áp phổi, bệnh động mạch vành hoặc bệnh cơ tim, tăng huyết áp);
bệnh lý thần kinh (bao gồm cả chứng sa sút trí tuệ, rối loạn tâm thần), bệnh
hồng cầu hình liềm, bệnh thalassemia, bệnh huyết học mạn tính khác; các bệnh lý
suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải; bệnh gan; bệnh nhân đang điều trị
bằng thuốc corticoid hoặc các thuốc ức chế miễn dịch khác và các bệnh hệ thống.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét