Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

SỰ ĐÁNH GIÁ PHIẾN DIỆN VÀ VÔ LÝ

 

Cách đây 30 năm, lúc 19g30 ngày 25/12/1991 sau khi Tổng thống Liên Xô Gorbachôp tuyên bố từ chức, lá cờ Liên Xô tồn tại gần 70 năm  trên nóc điện Kremlin đã được kéo xuống, đánh dấu sự kết thúc một Nhà nước đã từng làm thay đổi cục diện thế giới trong thế kỷ XX . Từ đó đến nay có vô số công trình nghiên cứu của Liên bang Nga cũng như của các nước khác về sự kiện này, đặc biệt là về nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô. Các ý kiến về sự kiện này đương nhiên là khác nhau.


 Những người đồng hành với Liên Xô thì mong muốn rút ra những bài học từ sự sụp đổ để không lặp lại.


 Những người chống đối Liên Xô thì nhân dịp này phủ định chủ nghĩa xã hội về mặt thực tế (chủ nghĩa xã hội hiện thực) và về mặt học thuyết (chủ nghĩa xã hội khoa học). Đáng nói là những điều họ phủ định lại là những điều  được thực tế khẳng định.


Về thực tế, họ đánh giá phiến diện về Liên Xô. Họ tuyệt đối hoá những sai lầm, khiếm khuyết của Liên Xô về nhiều mặt. Về kinh tế, Liên Xô duy trì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá cực đoan, duy ý chí, không chấp nhận kinh tế thị trường, phân phối theo chế độ bao cấp, bình quân, lãng phí tài sản xã hội, hạn chế động lực của người lao động. Về chính trị, bộ máy lãnh đạo quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, vi phạm chế độ dân chủ. Về xã hội, khoảng cách giầu nghèo ngày càng tăng, mức sống của người lao động ngày càng giảm. Những sai lầm, khiếm khuyết đó là một thực tế không thể phủ  nhận và đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Nhưng cũng không thể vì những sai lầm, khiếm khuyết đó mà phủ nhận những thành tựu của Liên Xô trong gần 70 năm tồn tại. Từ một nước phát triển trung bình trong một thời gian ngắn Liên Xô đã hoàn thành công nghiệp hoá, trở thành nước công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới. Dù phải chịu tổn thất lớn trong chiến tranh thế giới thứ hai nhưng Liên Xô đã phát triển mạnh mẽ và trở thành cường quốc thứ hai trên thế giới. Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới đã được xây dựng tại thành phố Obninsk thuộc tỉnh Kaluga (Nga) và ngày 26/8/1954 điện năng từ Nhà máy điện hạt nhân này đã được hòa vào mạng lưới điện quốc gia đánh dấu thời kỳ năng lượng nguyên tử được sử dụng vì mục đích hoà bình. Trong thời gian xây dựng nhà máy đã có  rất nhiều khách quốc tế đến tham quan, trong đó có Thủ tướng Anh Harold Macmillan, Phó Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Chủ tịch Cuba Fidel Castro. Ngày 4/10/1957 vệ tinh nhân tạo của Liên Xô lần đầu tiên bay vào vũ trụ. Ngày 12/4/1961 phi công vũ trụ Liên Xô Gagarin trên con tầu Phương Đông lần đầu tiên trên thế giới đã bay vòng quanh Trái Đất. Liên Xô trong thời gian tồn tại đã có đóng góp to lớn đối với nhân loại.


Đóng góp hàng đầu  của Liên Xô là đã đập tan chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại khỏi thảm họa phân biệt chủng tộc và chiến tranh xâm chiếm  lãnh thổ. Trong thời gian  thống trị, phát xít Đức đã tàn sát hàng chục triệu người mà chúng cho là  không thuộc chủng tộc thượng đẳng Arian, trong đó có 6 triệu người Do Thái, 2,7 triệu người Ba Lan trên lãnh thổ Đức và trên các lãnh thổ bị Đức chiếm đóng; 12 triệu người bị bắt làm lao động khổ sai. Đến năm 1942 lãnh thổ do phát xít Đức chiếm đóng là 3.202.000 km2, chủ yếu là ở châu Âu và châu Phi, trong  khi lãnh thổ Đức là 696.000 km2. Liên Xô  đã có sự giúp đỡ rất to lớn đối với nhiều nước. Quân đội Liên  Xô đã giải phóng nhiều nước ở Đông Âu thoát khỏi sự xâm lược của phát xít Đức và hơn 1 triệu binh sĩ quân đội Liên Xô đã hy sinh trên lãnh thổ các nước này. Chiến thắng của Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít đã tạo thời cơ thuận lợi cho nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc giành độc lập. Liên Xô đã dành cho các nước chậm phát triển sự giúp đỡ rất lớn dưới nhiều hình thức như xây dựng các cơ sở công nghiệp then chốt, chuyển giao công nghệ, cung cấp lương thực, tín dụng, cử chuyên gia, xây dựng nhiều cơ sở giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực. Vừa qua, Liên bang Nga – với tư cách là người kế thừa Liên Xô – đã xoá hơn 100 tỷ USD cho các nước Á, Phi, Mỹ Latinh nợ Liên Xô trước đây. Những đóng góp của Liên Xô như nói trên là thực tế không thể phủ nhận và đòi hỏi  việc đánh giá Liên Xô không thể phiến diện.                         


Về học thuyết, họ phủ định nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội. Họ cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô là “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội”, họ coi sự sụp  đổ của Liên Xô là sự sụp đổ của nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội. Thực ra, họ (do cố ý hoặc do nhận thức) đã đồng nhất chủ nghĩa xã hội với tư cách là một học thuyết hay còn được gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học (một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác -Lênin) và chủ nghĩa xã hội với tư cách là sự hiện thực hoá chủ nghĩa xã hội khoa học vào mỗi nước riêng biệt thành các mô hình đa dạng hay còn được gọi là chủ nghĩa xã hội hiện thực. Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -Lênin luôn luôn coi học thuyết của mình không phải là một giáo điều và nhấn mạnh: “Bất  cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời”. Điều đó có nghĩa là con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực sẽ có nhiều mô hình phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước.                 


Như vậy , Liên  Xô chỉ là một trong số các mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự sụp đổ của Liên Xô chỉ là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể dù mô hình đó có ảnh hưởng rất lớn đến cục diện thế giới.                 


Mặt khác,sự sụp đổ của Liên Xô là sự tổng hoà của nhiều nguyên nhân cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cả nguyên  nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa. Vì thế, không thể quy nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô vào một nguyên nhân duy nhất và cũng không thể quy nguyên nhân của sự sụp đổ của Liên Xô là do nền tảng lý luận của nó là chủ nghĩa Mác -Lênin. Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -Lênin  khẳng định học thuyết của mình “chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu so với cuộc sống “. Điều đó khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn đòi hỏi sự  sáng tạo và sự phát triển. Sự sáng tạo và sự phát triển là bản chất của chủ nghĩa Mác-Lênin.                   


Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô là ở chỗ xa rời bản chất sáng tạo và phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì thế ,không thể đồng nhất sự sụp đổ của Liên Xô với bản thân chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như không thể coi sự sụp đổ của Liên Xô là do chủ nghĩa Mác-Lênin.


Kể từ khi Liên Xô sụp đổ đến nay đã 30 năm. Với những thông tin mới được bạch hoá về sự kiện này cùng với sự phát triển của quá trình nhận thức, sự kiện Liên Xô sụp đổ đã được đánh giá đầy đủ hơn về những ưu việt, thành tựu cũng như những sai lầm, khiếm khuyết. Một kết quả thăm dò dư luận do Trung tâm Nghiên cứu ý kiến dư luận toàn Nga (VTsIOM) thực hiện mới đây nhân dịp 30 năm ngày tổ chức trưng cầu dân ý về việc duy trì Liên Xô (ngày 17/3/1991) cho biết, 67% người Nga bày tỏ sự tiếc nuối về sự sụp đổ của Nhà nước Liên bang Xô viết. Kết quả đó phản ánh tâm trạng của 2/3 người dân Nga hiện nay nhìn về Liên Xô không phải chỉ là những sai lầm, khiếm khuyết. Tất nhiên sự đánh giá hôm nay về Liên Xô chưa phải là sự đánh giá cuối cùng./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét