Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, GCCN có sứ mệnh lịch sử toàn thế
giới là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải
phóng GCCN, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột,
nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng thành công CNXH và chủ nghĩa cộng sản. GCCN là sản
phẩm, là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, gắn với phương thức lao
động công nghiệp có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất
hàng đầu của xã hội; trong xã hội tư bản chủ nghĩa, họ không có hoặc có rất ít
tư liệu sản xuất nên phải bán sức lao động và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị
thặng dư. GCCN chịu sự tác động của mọi yếu tố, nhất là những biến đổi lớn lao
về công cụ lao động làm thay đổi quá trình lao động của họ do sự tác động của
các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử và hiện nay là cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được bắt đầu từ đầu thế kỷ
XXI, trên nền tảng của cách mạng công nghiệp lần thứ ba, với đặc trưng “là sự cải
tiến công nghệ một cách nhanh chóng thông qua việc tăng cường sử dụng truyền
thông di động và kết nối internet (“internet vạn vật”), dữ liệu lớn, trí tuệ
nhân tạo, công nghệ robot, phương tiện tự điều khiển, công nghệ in 3D, nano và
công nghệ sinh học, công nghệ điện toán”. Trên cơ sở ảnh hưởng bởi các cuộc cách
mạng công nghiệp trước đây, cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động mạnh mẽ
đến GCCN một cách toàn diện, làm cho giai cấp này có những biểu hiện mới về số
lượng, cơ cấu, chất lượng; theo đó, góp phần củng cố bản chất tiên tiến, cách mạng,
những yếu tố cốt lõi quy định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN.
Bản chất tiên tiến của GCCN trước hết do điều kiện kinh tế
quy định. Là giai cấp được sinh ra từ nền sản xuất đại công nghiệp, là sản phẩm
và là chủ thể của nền sản xuất đại công nghiệp với sự phân công lao động cao và
tính chất xã hội hóa của nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng phát triển. Nền
sản xuất công nghiệp ấy, cùng những yếu tố cấu thành như máy móc, cách thức tổ
chức quản lý sản xuất, trình độ cao của lao động và hợp tác lao động công nghiệp...
được C.Mác coi là “những nhà cách mạng” khiến xã hội hiện tại không thể duy trì
trạng thái cũ(2). Tính chất xã hội hóa của nền sản xuất công nghiệp
là yếu tố sâu xa, khẳng định sứ mệnh lịch sử của GCCN đối với quá trình phát
triển văn minh nhân loại. Theo đó, GCCN có trình độ sản xuất hiện đại nhất,
tiên tiến nhất, được trang bị và đổi mới, phát triển không ngừng về tri thức và
kỹ năng.
Cũng như các cuộc cách mạng trong lịch sử, cách mạng công
nghiệp lần thứ tư tiếp tục củng cố những điều kiện cho tính chất tiên tiến của
GCCN, cụ thể:
Thứ nhất, cách
mạng công nghiệp lần thứ tư góp phần
gia tăng số lượng công nhân trên thế giới
Quy mô và sự phát triển liên tục của GCCN cũng là một minh
chứng khẳng định vị trí ngày càng vững chắc mà GCCN nắm giữ trong sự phát triển
năng động của hệ thống tư bản. Trên thực tế, số lượng người lao động, số lượng
công nhân (lao động bằng phương thức công nghiệp) đều gia tăng qua các cuộc cách
mạng công nghiệp. Điều này được chứng minh thông qua các báo cáo số lượng lao động
của các tổ chức quốc tế lớn (Ngân hàng thế giới - WB, Tổ chức Lao động quốc tế
ILO) hoặc các nghiên cứu khoa học uy tín. Dù các số liệu có thể khác nhau đôi
chút, nhưng bức tranh toàn cảnh là sự tăng lên mạnh mẽ của lao động nói chung
trong đó có công nhân. Theo ILO, thế giới hiện nay có khoảng hơn 3,3 tỷ lao động,
trong đó, công nhân là lực lượng lao động được trả công và lao động theo phương
thức công nghiệp có khoảng 2 tỷ (chiếm trên 60% số lao động toàn cầu)(4).
Thực tế, lịch sử phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp cũng cho thấy,
việc ứng dụng công nghệ ngày càng tạo ra số lượng việc làm mới nhiều hơn số việc
làm bị mất đi: Một kết quả nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, trong giai đoạn
năm 1850- 2015, việc ứng dụng máy móc và công nghệ đã làm mất đi 3.508 việc
làm, nhưng lại tạo ra 19.263 việc làm mới (ví dụ, từ năm 1980 đến năm
2015, máy tính cá nhân (PC) đã làm mất đi hơn 3 triệu việc làm ở Mỹ, nhưng nó
cũng tạo thêm 19,2 triệu việc làm mới). Theo Báo cáo Tương lai nghề nghiệp 2018
(The Future of Jobs 2018) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), khoảng 75 triệu
việc làm sẽ bị thay thế nhưng sẽ có khoảng 133 triệu việc làm được tạo ra vào
năm 2022 ở các nền kinh tế phát triển và mới nổi.
Số việc làm mới được tạo ra đồng nghĩa với việc số lượng lao
động, số lượng công nhân tăng dưới sự tác động của cách mạng công nghiệp, và sẽ
tập trung tăng ở lĩnh vực dịch vụ và công nghệ cao. Nhìn chung, cách mạng công
nghiệp lần thứ tư làm thay đổi loại hình việc làm chứ không làm giảm số lượng
việc làm; Vì vậy, không làm giảm số lượng người lao động, trong đó có công
nhân.
Thực tế, xu hướng ngày càng phát triển về số lượng GCCN do sự
phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp trong đó có cách mạng công nghiệp
lần thứ tư đã phủ nhận luận điểm cho rằng, công nghệ ngày càng thay thế sức lao
động của con người, nên số lượng công nhân sẽ giảm, từ đó sẽ dẫn đến phủ nhận sứ
mệnh lịch sử của GCCN. Chẳng hạn Alvin Toffler trong “Làn sóng thứ ba” cho rằng:
“Hiện nay số phần trăm công nhân làm việc ở các ngành sản xuất trong các quốc
gia tiên tiến đã và đang giảm trong 20 năm qua... do sự co lại về sản xuất
trong thế giới công nghiệp”. Hoặc như quan điểm của Lưu Bảo Quốc trong “Từ phần
tử trí thức của giai cấp đến giai cấp của phần tử trí thức” đã nhận định: Kinh
tế tri thức làm “không có người ở nhà máy”, dùng máy tính và người máy để điều
khiển lao động..., nên dẫn đến sự thu hẹp của giai cấp vô sản công nghiệp, từ
đó “giai cấp công nhân trong thời đại kinh tế công nghiệp cũng mất đi vai trò
quan trọng trong xã hội”.
Sự phát triển về số lượng của GCCN là một tất yếu khách
quan, tạo ra một lực lượng to lớn sẽ thực hiện một cuộc cách mạng khác tất cả
các cuộc cách mạng trong lịch sử: “Phong trào vô sản là phong trào độc lập của
khối đại đa số, mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số”.
Thứ hai, cách mạng
công nghiệp lần thứ tư góp phần nâng
cao trình độ của người công nhân
Những tiến bộ của khoa học và công nghệ bởi cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đồng nghĩa với việc lao động theo phương thức công nghiệp có
phạm vi hoạt động phức tạp hơn. Các ngành công nghiệp sáng tạo sẽ ngày càng
phát triển, đòi hỏi những người công nhân tham gia quá trình đó phải có trình độ
cao hơn những kỹ năng cơ bản.
Với việc ứng dụng công nghệ ngày càng mạnh mẽ vào các hoạt động
kinh tế, dẫn đến một bộ phận không nhỏ lao động giản đơn bị công nghệ thay thế,
đòi hỏi công nhân phải tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng, trình độ để có thể tiếp tục
được tham gia vào quá trình sản xuất. Đồng thời, với những công việc mới được tạo
ra bởi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nhân cũng cần phải được đào
tạo, nâng cao trình độ kỹ năng để thích nghi với những công nghệ mới. Nâng cao
năng lực của công nhân trở thành xu hướng trong cách mạng công nghiệp lần thứ
tư. Hệ thống các kỹ năng được chú trọng, như: kỹ năng cứng (trước hết là các kỹ
năng số nhằm đáp ứng tiêu chuẩn năng lực công nghệ thông tin cao hơn trong
tương lai để thích ứng với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo,
Internet kết nối vạn vật (IoT, S.M.A.C) và kỹ năng mềm (kỹ năng học tập suốt đời,
tư duy phân tích và đổi mới, chiến lược học tập và học tập tích cực, sáng tạo,
tính độc đáo và sáng kiến, thiết kế và lập trình công nghệ, tư duy phân tích
và phản biện, khả năng giải quyết vấn đề phức tạp, lãnh đạo và ảnh hưởng
xã hội, trí tuệ cảm xúc, lý luận, giải quyết vấn đề và ý tưởng, phân tích và
đánh giá mang tính hệ thống. Diễn đàn kinh tế thế giới cũng dự báo rằng, đến
năm 2022, sẽ có khoảng 54% lao động được đào tạo lại kỹ năng và nâng cao kỹ
năng để thích ứng với cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Từ những xu hướng trên, bộ phận công nhân có trình độ cao
ngày càng tăng: công nhân “cổ trắng” (white - collar worker), công nhân “cổ
vàng” (gold - collar worker) - những lao động gián tiếp; công nhân trí thức
(Knowledge worker)(14), lao động với năng suất lao động cao, như:
các chuyên gia công nghệ (các chuyên gia lập trình và thiết kế web, kỹ sư, nhà
thiết kế...). Hiện nay, trên thế giới có hơn 1 tỷ lao động trí thức.
Như vậy, nội bộ GCCN có sự thay đổi giai tầng dẫn đến việc
xuất hiện các quan điểm có liên quan đến GCCN như “Thuyết tiêu vong”, “Thuyết
tan rã”, “Thuyết giai tầng trung gian”... gây hoài nghi đối với lý luận giai cấp
của C.Mác và Ph.Ănghen.
Theo đó, một số học giả cho rằng: GCCN trong quan niệm của
các nhà kinh điển mác xít chủ yếu là lao động chân tay và đã bị “giai cấp trung
lưu mới” hay “giai cấp mới” thay thế, từ đó, GCCN không còn sứ mệnh lịch sử nữa.
Các nhà tư tưởng như Andre Gorz, Luxembourg Hoffman đã tuyên bố rằng, GCCN truyền
thống đã không tồn tại, nên hiện nay phải tìm kiếm lại chủ thể, xem xét lại “ai
sẽ là người đảm nhận giải phóng xã hội”. Tác giả Lưu Quốc Bảo cho rằng: trong nền
kinh tế trí thức, phần tử trí thức nắm vững công cụ sản xuất là máy tính (điều
khiển nó, sắp xếp, ứng dụng những ký hiệu tin tức, tác động gián tiếp lên đối
tượng lao động, gián tiếp tham gia sản xuất vật chất, do đó phần tử trí thức là
đại biểu của lực lượng sản xuất tiên tiến, là người lao động chủ yếu của xã hội....
Những quan điểm trên thực ra đã bỏ qua sự biện chứng của
C.Mác, Ph.Ănghen trong quá trình nhận thức về GCCN. Các nhà kinh điển mác xít đã
khẳng định: GCCN không phải chỉ là những người lao động chân tay, bộ phận lao động
trực tiếp, mà còn bao gồm lao động trí óc, lao động gián tiếp, là “tất cả những
người tham gia bằng cách này hay cách khác vào việc sản xuất ra hàng hoá...”.
Hơn nữa, những “phần tử trí thức” được tác giả Lưu Quốc Bảo
đề cập đến không phải là bộ phận giai tầng nào khác, mà về bản chất chính là bộ
phận thuộc về GCCN - công nhân trí thức, vì họ nắm vững công cụ sản xuất là máy
tính: điều khiển nó, sắp xếp, ứng dụng những ký hiệu tin tức, tác động gián tiếp
lên đối tượng lao động, gián tiếp tham gia sản xuất vật chất... Cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư tiếp tục sản sinh ra những công nhân trí thức, đồng thời
cũng là những người làm chủ công nghệ mới thông qua việc sáng chế, điều khiển
nó, nhằm phục vụ quá trình sản xuất rất đa dạng, mới mẻ và các hoạt động dịch vụ
trong lĩnh vực công nghiệp và hoạt động theo lối công nghiệp trong xã hội mới.
Điểm chung ở họ - những người công nhân, dù là công nhân lao động chân tay hay
lao động trí óc, lao động trực tiếp hay gián tiếp thì đều tham gia vào quá
trình sản xuất hàng hóa (hàng hóa vật phẩm và hàng hóa dịch vụ, hàng hóa hữu
hình và hàng hóa vô hình), tham gia chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng lao động
toàn cầu ngày càng phát triển mạnh mẽ. Những công nhân ấy đều là biểu hiện của
bộ phận thuộc GCCN mang tính toàn thể. Trong sự phân tầng ấy, công nhân trí thức
đang là lực lượng chủ đạo của GCCN, giống như C.Mác đã coi bộ phận công nhân hiện
đại gắn với nền đại công nghiệp ở thế kỷ XVIII, XIX là hạt nhân, nòng cốt của
GCCN thời kỳ đó.
Như vậy, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang góp phần phát
triển GCCN cả về số lượng và chất lượng, nhấn mạnh bản chất tiên tiến của lực
lượng xã hội này, trước hết là xét trên phương diện kinh tế - kỹ thuật. Thực tiễn
này cũng đã góp phần phản bác những luận điệu phủ nhận sự thật GCCN đang phát
triển mạnh mẽ, phủ nhận vai trò và sứ mệnh lịch sử của GCCN đã và đang được các
điều kiện khách quan quy định một cách tất yếu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét