Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa.
Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước,
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp
hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn
sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng.
Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả
lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ
tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình
Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên(17),
nhưng đều bị từ chối.
Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các
phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp
miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị
bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại(18). Một
báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị
bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số
người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài
Gòn lên tới trên 60.000 người(19).
Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô
cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên
trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải
tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ
buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống
nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của
Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất
định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước,
Nam, Bắc một nhà””(20).
Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối
đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu
tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc
lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên
cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa
bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có
sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung.
Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc
dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được
thành lập(21). Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện
cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt
Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn
kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa
miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung
lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là
một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu
xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay
sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào
vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông
đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách
mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận(22),
với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam.
Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng
trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ
vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử
lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn
kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước
xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các
nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm
1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt
Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là
Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ
công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế
tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự
viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình.
Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của
nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi
hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế
giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964,
đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền
Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng
chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến
của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao
giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một
dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu
mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc
chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến
tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của
chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt
Nam.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc
và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ,
yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến
đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của
nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng
lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn
khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận
thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở
phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc
ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng,
thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì
thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước
sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử,
xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét