Trước
hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược
toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là xuất phát từ bản chất chế độ chính trị
cường quyền
Với mưu đồ xâm lược, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954),
đế quốc Mỹ đã thực hiện phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất nước Việt Nam.
R.S. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những kiến trúc sư hàng
đầu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam, đã nhắc đến quan điểm của Ai-xen-hao được
thể hiện qua diễn văn của J.F. Ken-nơ-đi (công bố năm 1956), rằng “Việt Nam là
hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng
ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”(1).
Trong bối cảnh lịch sử mới, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với Mỹ: Nơi thử
thách vai trò, sức mạnh to lớn của một đế quốc hàng đầu từ sau Chiến tranh thế
giới thứ hai, là sự tiếp tục và cao nhất chính sách thực dân mới của Mỹ, thực
hiện “Học thuyết Truman” (năm 1947) nhằm bảo đảm “an ninh quốc gia” và “bao vây
chủ nghĩa cộng sản”. Một nhà nghiên cứu trong bài viết “Chiến tranh
Việt Nam là gì?”, đăng trên báo The New York Times,
ngày 26-3-2018, đưa ra nhận xét: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không
phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia
của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc
gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”(2);
“các nhà hoạch định chính sách cảnh báo rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay
chủ nghĩa Cộng sản, các nước láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt gục ngã, lần lượt
như một hàng quân cờ domino”(3).
Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc
chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của
Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm
1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh(4). Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng
gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu
cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể
“Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt
Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ.
Chính giới Mỹ đã đặt “vấn đề Việt Nam” vào trong
luận thuyết của “chiến tranh lạnh”. Dùng biện pháp chiến tranh để thôn tính
miền Nam Việt Nam, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân
mới, mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản,
đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh
tế mà các tập đoàn tư bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua
cuộc chiến này; đồng thời, tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc
và phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của
giới tư bản Mỹ, vì vậy, là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc
đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm
cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa
mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì
cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng
lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng
cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn
giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực
dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối
liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục
tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp
chiến tranh là chủ yếu. Tháng 2-1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Hoa Kỳ ở
Việt Nam, đến tháng 7-1965, đổi thành Bộ tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam,
trực tiếp chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân
đồng minh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc
chiến 676 tỷ USD(5); cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy động 70%
lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân(6);
trên 72 nghìn quân(7) các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam(8). Với những vũ khí mới nhất, với khối
lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành
càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân
đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa
học(9). Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiến hành chiến
tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc Việt Nam.
Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân
kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù
nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Từ năm 1955 đến năm 1961, đế quốc
Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 7 tỷ USD(10). Những
năm 1955 - 1956, Mỹ chi 414 triệu USD xây dựng các lực lượng thường trực quân
đội Việt Nam Cộng hòa gồm 170.000 người và lực lượng cảnh sát với 75.000 người.
80% ngân sách quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ(11).
Trong giai đoạn 1962 - 1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 21.336 triệu
USD (bao gồm cả viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự)(12).
Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay
sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ
thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn
cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn
sàng thay thế, vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm
là một sản phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và
“việc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành
trướng Xô-viết”(13). Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền
Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra
cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ
luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực
chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”(14).
Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép.
Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên,
nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm
1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục
tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở
miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng
chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong
phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975, rằng: Mỹ là một
đồng minh “thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với
một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc”(15).
Một nghiên cứu nước ngoài chỉ rõ: “Nếu không có sự can thiệp của
Mỹ, thật khó có thể tưởng tượng rằng miền Nam Việt Nam đã ra đời hoặc nếu có
thì sẽ tồn tại được bao lâu”(16).
Từ tất cả những điều đã trình bày trên đây, có
thể thấy rõ rằng, đế quốc Mỹ đã chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của dân
tộc Việt Nam, chống lại tất cả những ai ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và mong
muốn độc lập, hòa bình, thống nhất của Việt Nam. Rõ ràng, đế quốc Mỹ đã chà đạp
luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, và vì thế, trở thành
đối tượng đấu tranh trước hết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét