Nước ta đi lên CNXH từ một nước nghèo, kém phát triển, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá nên thời kỳ quá độ sẽ rất lâu dài và khó khăn, phức tạp. Do chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc những đặc điểm của nước ta trong thời kỳ quá độ, nên trong một thời kỳ dài chúng ta đã phạm phải sai lầm, khuyết điểm, nóng vội xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế “phi” XHCN, hạn chế sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, đồng thời duy trì quá lâu mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Một trong những thành tựu có tính chất đột phá trong quá trình đổi mới của Đảng ta là phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Đó là kết quả của quá trình tìm tòi, đổi mới, sáng tạo, liên tục được bổ sung và phát triển trong nhận thức lý luận của Đảng và đã được kiểm nghiệm bởi những thành tựu rất to lớn trong thực tiễn hơn 35 năm đổi mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, KTTT định hướng XHCN “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(4).
Về mặt lý luận, quan niệm về phát triển nền KTTT định
hướng XHCN ở nước ta chính là kết quả của sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ và con đường đi lên
CNXH, trong đó lý luận về “khâu trung gian” trong sự phát triển xã hội có ý
nghĩa rất quan trọng về phương pháp luận trong nhận thức và vận dụng để xác lập
mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta, phù hợp với quy luật lịch sử -
tự nhiên.
Về mặt lịch sử, quá trình phát
triển của các nền văn minh trên thế giới cho thấy sản xuất hàng hóa đã có mầm
mống hình thành trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhưng
chỉ đạt đến trình độ nền KTTT trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bản
thân nền KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có những hình thức, trình độ phát triển
khác nhau. Do tranh thủ được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại mà
chủ nghĩa tư bản ngày nay đã không ngừng hiện đại hóa lực lượng sản xuất và
điều chỉnh quan hệ sản xuất, thúc đẩy quá trình xã hội hóa và toàn cầu hóa kinh
tế, cho nên KTTT ở một số nước đã đạt tới trình độ hiện đại. Tuy nhiên, do bản
chất của chủ nghĩa tư bản dù là loại thị trường nào cũng không thể loại bỏ được
khuyết tật vốn có của nó, đó là tính tự phát, khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh
đổ vỡ, về xã hội là sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, khuyến khích chủ
nghĩa thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân,... Mặc dù KTTT tư bản chủ nghĩa đã
phát triển đến trình độ hiện đại nhưng trong khuôn khổ phương thức sản xuất và
bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể nào khắc phục được những hạn chế
vốn có của mình.
Với tinh thần kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu CNXH, Đảng ta không ngừng tìm tòi, đổi mới con đường đi lên phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh thời đại ngày nay. Tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển nền KTTT định hướng XHCN sau 35 năm đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(5). Sự ra đời của KTTT dưới CNXH lúc đầu như là sự phủ định mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp nhưng trong quá trình đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về nền KTTT định hướng XHCN, phù hợp với quy luật khách quan và đã được thực tiễn kiểm nghiệm bằng những thành tựu to lớn sau 35 năm đổi mới. Có thể nói, những thành công không thể phủ nhận của mô hình KTTT định hướng XHCN đã có sức hấp dẫn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước đã và đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng KTTT không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà nó là mô hình kinh tế tổng quát của nhiều chế độ xã hội khác nhau. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu KTTT, mặc dù chưa phải hoàn thiện, nhưng nó khác về bản chất với nền KTTT tư bản chủ nghĩa. Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối”
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình
kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Về bản chất, đó là
“khâu trung gian” trong sự phát triển kinh tế. Diễn đạt về tính chất “khâu
trung gian” của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng nhấn mạnh: “Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và
cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta
đang trong thời kỳ quá độ)”. Với tư cách là “khâu trung gian”,
KTTT định hướng XHCN ở nước ta có những đặc trưng cơ bản sau
đây:
Một là, trong kết cấu của nền kinh tế có sự tồn tại đan xen của
nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, tiêu biểu cho các
phương thức sản xuất của xã hội tư bản, tiền tư bản và CNXH. Trong đó, kinh tế
nhà nước và chế độ công hữu mới được xác lập, đang trong quá trình phát triển
để giữ vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế; kinh tế tư nhân vẫn còn là động lực
quan trọng của nền kinh tế; trong điều kiện nền sản xuất nhỏ còn phổ biến, kinh
tế hộ cá thể vẫn còn đóng vai trò nhất định, góp phần ổn định đời sống xã hội;
ngoài ra, còn tồn tại những thành phần kinh tế hỗn hợp, kinh tế tập thể, hợp
tác xã... Sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường là một đặc trưng khách quan của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.
Hai là, trong nền KTTT các thành phần kinh tế luôn tác động
qua lại, thâm nhập vào nhau để chuyển hóa. Trong nền kinh tế của nước ta
hiện nay, các thành phần kinh tế tác động qua lại, thâm nhập vào nhau, từ đó mà
hình thành các hình thức kinh tế hỗn hợp mang tính chất “trung gian” quá độ.
Ngay cả các thành phần kinh tế cơ bản, đại diện cho phương thức sản xuất mới
XHCN cũng chưa thể tồn tại độc lập mà chịu sự tác động của các thành phần kinh
tế khác, đồng thời nó cũng thâm nhập vào quan hệ sản xuất, chi phối các thành
phần kinh tế khác. Do vậy, có thể coi mọi loại hình kinh tế, mọi thành phần
kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đều là những hình thức “trung
gian”, quá độ. V.I. Lê-nin coi những hình thức kinh tế quá độ được tạo ra từ sự
tác động qua lại, thâm nhập của các thành phần kinh tế là chủ nghĩa tư
bản nhà nước. Ông cho rằng, nó là cái gì có tính chất tập trung, được kiểm
soát và được xã hội hóa, cho nên chủ nghĩa tư bản nhà nước là nấc thang
tất yếu chuyển nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn tư bản chủ
nghĩa và từ sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa lên CNXH, và đó là “phòng chờ” để đi
lên CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó và CNXH không còn nấc thang nào ở
giữa cả.
Ba là, bản thân các hình thức kinh tế “trung gian” quá độ tồn tại
trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội, chịu sự tác động của các
nhân tố khách quan, chủ quan, tự phát, tự giác, bên trong và bên ngoài...,
những nhân tố đó quy định khuynh hướng vận động, phát triển khác nhau của nền
KTTT. Đóng vai trò định hướng và định hình phương thức sản xuất XHCN đối với
các hình thức kinh tế quá độ trước hết là nhân tố thuộc nguyên tắc và bản chất
của CNXH, thể hiện trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước XHCN. Bản chất XHCN trong nền KTTT là “phải gắn kinh tế
với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước,
từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(8). Cùng
với những nhân tố chính trị, vai trò định hướng XHCN đối với nền KTTT ở nước ta
còn được thực hiện thông qua kinh tế nhà nước. Vai trò định hướng và định hình
của kinh tế nhà nước không chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước mà còn bằng
các nguồn lực kinh tế nhà nước, được sử dụng để thâm nhập vào các thành phần
kinh tế khác, làm công cụ đòn bẩy, điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
theo định hướng XHCN, thông qua đó, từng bước định hình phương thức sản xuất
mới tiến bộ. Mặt khác, nền KTTT trong thời kỳ quá độ của nước ta đang trong quá
trình định hình nên còn chịu sự tác động, cản trở của “mặt trái”, tính tự phát,
bảo thủ của các nhân tố cũ, kể cả những sai lầm chủ quan có thể mắc phải trong
lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi khuynh hướng vận động của
nền KTTT định hướng XHCN vẫn còn gặp phải những khó khăn, trắc trở, thậm chí
còn vấp phải sự khủng hoảng, suy thoái nhất thời. Tuy nhiên, đó là những “đau
đớn” tạm thời khó tránh khỏi của sự “sinh nở” một phương thức sản xuất mới mà
vai trò “bà đỡ” là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Như vậy, lý luận về “khâu trung gian” và phép
biện chứng của thời kỳ quá độ cho chúng ta những luận cứ xác đáng để kiên quyết
bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về nền KTTT định
hướng XHCN. Đồng thời, qua đây chúng ta càng nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn, để
tiếp tục kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nền
KTTT định hướng XHCN và con đường đi lên CNXH do Đảng ta khởi xướng và lãnh
đạo./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét