Sau cuộc gặp Bác Hồ ở Pháp năm 1946, người trí thức Trần Đại Nghĩa quyết định theo Bác về nước chiến đấu.
Ông đã có những phát minh làm lay chuyển cục diện chiến trường. Với những phát minh thần kỳ mà ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là “Ông Phật làm súng”. Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là “Ông vua vũ khí".
TỪ BỎ MỨC LƯƠNG 22 LẠNG VÀNG THEO BÁC TRỞ VỀ TỔ QUỐC LÀM VIỆC ĐẠI NGHĨA
Trần Đại Nghĩa (1913-1997) tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ở Chánh Hiệp, Tam Bình, Vĩnh Long. Cha ông là Phạm Văn Mùi làm nghề dạy học, mẹ ông là bà Lý Thị Diệu. Ông mồ côi cha lúc 6 tuổi. Năm 1930, ông thi đỗ vào đệ nhị cấp Pétrus Ký tại Sài Gòn.
Năm 1933, ông đỗ thủ khoa Tú tài bản xứ, lẫn tú tài Tây. Nhờ sự giúp đỡ của nhà báo Vương Quang Ngươu, ông được Trường Chasseloup Laubat cấp cho một năm học bổng sang Pháp theo học một lớp dự bị để thi vào đại học.
Năm 1936, ông trở thành sinh viên Đại học Quốc gia Paris và bước đầu mở được cánh cửa vào con đường nghiên cứu vũ khí. Sau khi có tấm bằng kỹ sư ông làm việc ở Pháp. Năm 1942, ông sang Đức làm trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.
Ngày 22/6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, hay tin, ông đã đến sân bay Le Bourget để chào đón Người.
Được bác sĩ Hoàng Xuân Mãn (em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn), Chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp giới thiệu, ông được tiếp kiến Bác. Sau đó, nhiều lần ông được tháp tùng Bác đi thăm nói chuyện với Việt kiều. Những ngày ở gần Bác, ông đã cảm phục và quý mến vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Trí tuệ, và sự uyên thâm của Bác đã cho ông một niềm tin để đi theo Người thực hiện hoài bão lớn ấp ủ bấy lâu.
Có lần Bác hỏi: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”. Ông đã trả lời rất nhanh: “Dạ thưa, nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”. Những lần sau, khi nói chuyện với Bác, ông đã chia sẻ những điều ông học được và 30.000 trang tài liệu về vũ khí ông thu thập được. Bác nói ông cần giữ kín để tránh phiền hà về sau.
Hội nghị Fontainebleau không thành, sau khi ký bản Tạm ước với 14/9/1946 với Pháp, Bác đã cho gọi Phạm Quang Lễ: “Bác sắp về nước, chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường về nước. Chú sẵn sàng chưa?”. Ông sung sướng trả lời: “Thưa Bác, cháu đã sẵn sàng”.
Ngày 19/9/1946, ông về nước cùng Bác trên chiến hạm Dumont d’Urville từ cảng Toulon và mang theo 1 tấn tài liệu được đóng hòm dán nhãn “ngoại giao”. Trong hồi ký Trở về Tổ quốc kính yêu, tác giả Thành Đức dẫn lại trong sách, ông đã chia sẻ những gửi gắm của mình với bạn bè ở Paris. Trước khi theo Bác trở về Tổ quốc, ông được hưởng mức lương của kỹ sư trưởng là 5.500 fance/tháng, tương đương với 22 lạng vàng.
NHỮNG PHÁT MINH LÀM LAY CHUYỂN CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG
Ngay sau khi trở về nước, Phạm Quang Lễ được cử lên xưởng quân giới Giang Tiên ở Thái Nguyên tham gia nghiên cứu chế tạo súng chống tăng theo mẫu Bazooka của Mỹ với hai viên đạn dự trữ do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu cung cấp. Ngày 5/12/1946, Bác gọi ông về Hà Nội trực tiếp giao ông làm Cục trưởng Cục Quân giới (đóng tại Ứng Hòa) với nhiệm vụ “lo vũ khí cho bộ đội”. Cùng nhiệm vụ được giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa (có hàm ý làm việc đại nghĩa).
Về Ứng Hòa, ông tiếp tục việc nghiên cứu chế tạo súng Bazooka. Từ những kiến thức thu thập được qua các tài liệu mật ở nước ngoài, với trình độ cử nhân toán cao cấp, ông và các đồng chí của mình đã chế thử thành công Bazooka (B60), sau đó ông hoàn chỉnh bản vẽ chi tiết và chuyển đến các xưởng quân giới ở Việt Bắc.
Đầu tháng 3/1947, súng Bazooka đã lập chiến công đầu tiên. 10 quả đạn và 3 khẩu súng chuyển về Trung đoàn Thủ đô do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy đã bắn cháy 2 xe tăng của thực dân Pháp tại chùa Trầm, Quốc Oai (Hà Tây cũ) khi chúng đánh chiếm thị xã Hà Đông.
Đến tháng 4/1947, Bazooka đi vào sản xuất hàng loạt, gửi các chiến trường.
Ghi nhận cống hiến của Trần Đại Nghĩa, trong đợt phong tướng đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 117-SL ngày 25/1/1948, phong ông quân hàm thiếu tướng.
CHẾ TẠO THÀNH CÔNG VŨ KHÍ KHIẾN QUÂN PHÁP KHIẾP SỢ
Trong những năm tháng gian khổ ấy, ta chưa có dàn phóng đạn Cachiusa nên ông Nghĩa chỉ mơ ước làm sao chế tạo cho được loại súng mà bộ đội ta có thể vác vai nhưng có sức công phá ngang cỗ đại bác nặng 6 tấn, có khả năng tiêu diệt các boong ke, lô cốt kiểu mới của địch. Ông đã cùng các kỹ sư Hoàng Đình Phu, Bùi Minh Tiêu, Nguyễn Trinh Tiếp, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Văn Hường... nghiên cứu loại vũ khí tương đương của Mỹ dùng tấn công lên đảo Okinawa (Nhật Bản).
Thế rồi, SKZ 60 (viết tắt “súng không giật”) của Việt Nam ra đời. Đây là loại vũ khí công đồn nặng khoảng 26 kg, có thể tháo rời để mang vác, đầu đạn nặng khoảng 9 kg, có thể xuyên thủng bê tông dày trên 60 cm, khi bắn ở cự ly tối ưu.
SKZ 60 được ứng dụng ngay trên chiến trường và lần đầu lập chiến công xuất sắc, phá tan boong ke kiên cố của giặc Pháp trong chiến thắng ở Phố Ràng, chiến thắng Phố Lu trong chiến dịch Lê Hồng Phong cuối năm 1949.
SKZ đã làm giặc Pháp khiếp sợ. Trong cuốn Chiến tranh Đông Dương, xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: "Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60 cm là những quả đạn SKZ 8kg mà người Việt chế tạo trong các hang núi ở Đông Dương. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được tháp canh của chúng tôi".
Bên cạnh chế tạo súng, ông còn chỉ đạo anh em Cục Quân giới chế tạo bom bay. Đầu năm 1948, sau gần 3 tháng nghiên cứu thành công, bom bay do Việt Nam chế tạo ra đời. Đầu năm 1949, bộ đội ta bắn thử loại bom này. Khi bắn quả đạn bay qua sông Hồng rơi đúng vào trung tâm chỉ huy của Pháp ở Bác Cổ. Tuy thiệt hại vật chất không lớn, nhưng loại bom này đã khiến quân Pháp khiếp sợ hoang mang.
Ngoài chế tạo vũ khí, ông còn mở nhiều lớp đào tạo kỹ thuật vũ khí và trực tiếp đứng lớp. Qua các bài giảng, ông đã trang bị cho anh em những kiến thức cơ bản về kỹ thuật vũ khí. Hầu hết học viên do ông đào tạo sau này đều là những cán bộ chủ chốt.
Sau 3 năm được giao nhiệm vụ “lo vũ khí cho bộ đội”, thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đưa ngành quân giới non trẻ phát triển mạnh mẽ. Những vũ khí Cục quân giới chế tạo đã góp phần quan trọng để bộ đội ta giành thắng lợi trên các chiến trường, đặc biệt là chiến dịch biên giới 1950. Năm 1952 tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua lần thứ nhất ông được vinh danh Anh hùng lực lượng vũ trang.
Sau chiến thắng Điện Biên phủ, Hiệp định Genève ký kết, Trần Đại Nghĩa được cử làm Thứ trưởng Bộ Công thương. Năm 1966, trước sự leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, ông được điều động trở lại phục vụ quân đội với cương vị là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên trách về mặt kỹ thuật vũ khí quốc phòng. Ông đã có nhiều đóng góp lớn trong việc tìm biện pháp kỹ thuật chống chiến tranh phá hoại, phá hệ thống thủy lôi của địch, chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho bộ đội đặc công, tìm phương án đánh B52, góp phần cải tiến SAM 2.
CỐNG HIẾN ĐẾN HƠI THỞ CUỐI CÙNG
Ông từng đảm đương các chức vụ: Cục trưởng Cục Pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch đầu tiên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam, Hiệu trưởng đầu tiên Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội khoá II, III. Năm 1966, ông được bầu làm Viện sỹ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.
Để vinh danh người có công với nước, ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lao động. Ông qua đời vào 16 giờ 20 phút ngày 9/8/1997, hưởng thọ 85 tuổi.
Nguồn: Tổng hợp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét