Nhìn ảnh những người lính trên sông thả hoa, chợt nhớ một chuyện em tôi, Trịnh Hoà Bình kể. Cũng lâu rồi, hình như đó là năm 1987, khi trận đánh ấy chưa được mấy ai nhắc đến.
Rằng lần về Quảng Trị ấy, ngày thương binh liệt sĩ 27/7, em tôi vào chợ Đông Hà, đã vét hết tiền túi định mua hoa, để viếng đồng đội. Những người đã hi sinh trong 81 ngày máu lửa. Bao người chỉ có mộ, không tên. Bao người đến mộ cũng không được nằm. Để hồn, để cốt dưới lòng sông. Chợt ngỡ ngàng, khắp chợ hoa không còn một bông. Người ta bảo, có anh bộ đội qua trước, mua hết rồi.
Không mua được, anh lính cựu thẫn thờ ra sông, vừa đi vừa quanh
quất. Chỉ còn cách kiếm tìm hoa dại. Có lẽ thân quen nhất với người lính là
hoa xim với hoa mua, phơn phớt tím. Màu của thủy chung. Của tình yêu người
lính. Trên đất Quảng Trị, còn có hoa mẫu đơn, dân gọi bông trang. Đó là thứ
hoa dân dã, sắc đỏ tươi, gồm vô số bông li ti, xòe ra, như giọt máu tuôn trào
từ trái tim người lính. Dưới đạn bom, cành mẫu đơn gẫy vụn, vương vãi khắp. Mà
lạ. Loài mẫu đơn sức sống mãnh liệt làm sao. Rơi xuống đất, dù ở đâu, cành cũng
không chết, ngay cả dưới nắng lửa. Mà ngược lại, nó nhanh chóng đâm rễ, nảy
chồi, lại trổ những nhành hoa đỏ máu. Cứ như, đạn bom càng dữ dội, hoa nở càng
rộ, càng nhiều. Trên đất này, không ở đâu không thấy. Thế nên, rồi em tôi
cũng kiếm được bó hoa, dẫu nho nhỏ. Hoa dại, đủ loại, đủ sắc màu, nhưng nhiều
nhất là những bông mẫu đơn đỏ rực rỡ.
Thả hết hoa xuống sông, anh lính rầu rĩ nhìn. Chỗ này gần biển.
Lòng sông đã trải rộng, mà hoa nào có bao lăm. Chợt ngỡ ngàng, trước mắt là cả
một dòng sông hoa. Vô số những nhành hoa, tươi nguyên, dập dềnh trên sóng nước.
Như những bàn tay. Chấp chới. Vẫy gọi. Và những bông vừa thả như ùa theo, nhanh
chóng nhập chung vào dòng hoa ấy. Nhìn ngược lên, phía xa xa, một con đò. Hai
bóng người. Một chèo, một thả. Người cắm cúi thả hoa chính là Lê Bá Dương, bạn,
mặc dù khác trung đoàn. Hóa ra, hai người cùng chung ý tưởng. Cùng tìm hoa,
viếng bạn dưới đáy sông. Chỉ có điều, với chuyện mua hoa em tôi không có
duyên.
Lê Bá Dương là người sau đó đã để lại bốn câu thơ bất hủ, Đò lên
Thạch Hãn ơi… Bên sông, Dương tình cờ gặp mẹ. Một mình mẹ, một con đò. Con đò
nhỏ, cũ kĩ, gỗ đã chuyển màu, như làn da nhăn nheo, sậm màu thời gian của mẹ.
Dương ngỏ lời thuê. Mẹ im lặng nhận, và cũng lặng im, cặm cụi đẩy mái chèo. Con
đò mơn man dòng sông, như bàn tay mẹ khẽ xoa lưng, ru con ngủ. Nhè nhẹ, từ bờ
nam lên bờ bắc. Rồi lại từ bờ bắc xuống bờ nam. Để lại cả một dòng sông hoa.
Dài vô tận. Thả hết hoa, Dương lấy tiền trả. Mẹ lắc. Nỡ lòng nào. Rồi cả hai mẹ
con ôm nhau. Khóc.
Là người chứng kiến, đến giờ, em vẫn ân hận, không biết mẹ là
ai. Chỉ chắc chắn, đó là người mẹ đất Quảng Trị này. Còn chuyện thả hoa viếng
bạn, rồi sau không biết có bao người nữa làm theo. Lẳng lặng một mình có. Đi
thành đoàn cũng có. Ngày càng đông, càng nhiều. Không chỉ thành một phong trào.
Đã thành một tục lệ. Không chỉ người lính, mà dường như trẻ già gái trai,
hễ qua dòng Thạch Hãn cũng day dứt, không thể không làm. Và rồi, trên
đất Việt này hoa được kết thành vòng, thả khắp cả trên sông, trên
biển lớn. Lệ thả hoa, thả đèn, gửi đến những con người mãi mãi tuổi hai mươi.
Và cái tứ thơ “Đáy sông còn đó bạn tôi nằm” hằn trong Lê Bá
Dương khi anh gượng nhẹ gửi từng nhành hoa xuống dòng sông đã nhận được sự đồng
điệu, rung cảm, sự cộng hưởng và truyền lan của bao đồng đội. Để thành bài thơ
ngắn gọn, chỉ bốn câu, song chất chứa xúc cảm, mãi trẻ trung. Dù có thể bị cho
là gai góc, khó nhớ, khó đọc với ai đó chợt gặp. Người ngoài. Song với những
chiến binh đã trải, nó là cả tấm lòng. Sẽ không thể khác. Rồi thơ được khắc vào
bia đá, dựng ngay bên dòng Thạch Hãn.
Không gặp may khi tìm hoa viếng bạn. Song có lẽ em tôi đã may
mắn tình cờ thành chứng nhân của một trong những huyền thoại. Một huyền
thoại của thời nay đẹp đến như thế.
Phải nói thêm. Với Lê Bá Dương, trước mỗi cảnh huống sao
lòng câu thơ thường bất chợt buột ra, ngẫu hứng. Có lần, gặp một cô
bé học sinh Quảng Bình. Em tò mò hỏi, sao người ta lại gọi các anh
là lính cơm Bắc giặc Nam. Anh đã rút bút, trả lời bằng hai câu thơ,
ghi ngay lên cuốn vở học trò, đó là thứ quân
Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc
Một dấu chân in màu đất hai miền.
Vẫn lạ, chỉ những con số một và hai tưởng chừng khô khan,
mà sao nhiệm màu đến thế. Làm nổi rõ sứ mạng cao đẹp của thứ quân
lạ lùng, mang danh lính cơm Bắc giặc Nam trong một giai đoạn lịch sử sao
cũng lạ lùng của nước mình đến thế. Đến nay, câu thơ chép vội ấy
vẫn còn. Được cô gái gửi lại cho tác giả. Trường hợp này cũng vậy.
Ngay chiều ấy bài thơ đã hình thành. Phiên bản đầu là:
"Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Tan chợ chiều xuôi đò có vội
Xin, xin đừng khuấy đục dòng trong"...
Giữa dòng thuyền, dòng người mưu sinh vội vã, dường như
chỉ lạc lõng mỗi anh. Vẫn đang bồi hồi lắng đọng với bạn xưa. Một
tự sự, Một tấm lòng xót xa. Từng nghe, đã có “cao nhân” giúp Lê Bá
Dương chữa thơ. Số là hai năm sau, năm 1989, trên đường từ Đại hội Văn học
Nghệ thuật ở Huế về, Lê Bá Dương gặp Đỗ Kim Cuông và chép tặng anh bài
thơ này.
Tâm đắc, đọc đi đọc lại, hai từ XIN trong câu cuối ngắt
ra, nghe như tiếng nấc. "Khóc bạn - ghìm nén". Sức gợi đến
khó tả. Song câu thơ đầu cũng lại XIN. Cuông than: “Cứ xin xin thế não
quá.”
Vậy là Lê Bá Dương viết lại: "XIN" trên dòng đầu
thay bằng "ƠI", như cách gọi đò quê ta. Hai câu cuối thay hẳn,
đổi thay luôn diện mạo toàn bài:
"Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm."
Câu chốt vẫn giữ nguyên, khôn nguôi day dứt, "ĐÁY SÔNG
CÒN ĐÓ BẠN TÔI NẰM"
Đây chính là cái tứ, là tiếng lòng nhắn gửi. Lồng trong
đó là thông điệp, mãi ngàn năm quyết giữ yên bờ cõi. Đồng thời,
không được lãng quên 81 ngày đêm của mùa hè đỏ lửa 1972. Khi mà, theo
lời “người âm,” tổng số chiến sĩ yên nghỉ dưới dòng Thạch Hãn lên tới
3.086.
Song với hai câu mới, từ chỗ đậm xót xa, bài thơ đã
thành tuyên ngôn hào sảng của cả một thế hệ những người "SỐNG MÃI
TUỔI HAI MƯƠI". Trong đó, đâu ít trẻ trai xếp bút nghiên lên đường,
để rồi không bao giờ trở lại. Không ngẫu nhiên, bài thơ đã thành một
tài sản chung, và do đó thành BẤT TỬ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét