Ngoại giao đa phương không còn là
thuật ngữ mới trong quan hệ quốc tế hiện đại cả về lý thuyết và hiện thực. Song
nhận thức đúng về ngoại giao đa phương, từ đó đưa ra những định hướng chính
sách và hành vi thực tế được xem là cả một quá trình. Việt Nam là một trong số
ít các quốc gia sớm nhận thức khá rõ nét về ngoại giao đa phương, đồng thời sử
dụng ngoại giao đa phương tương đối hiệu quả, phù hợp với thực tiễn, đặc biệt
kể từ thế kỷ XX đến nay.
Ngoại
giao đa phương - tiếp cận từ lý thuyết
Ngoại giao đa phương là một hình thức hoạt
động ngoại giao, trong đó có sự tham gia của ba chủ thể trở lên trong quan hệ
quốc tế (chủ yếu là quốc gia - dân tộc) vào quá trình đàm phán, thương lượng,
ra quyết sách trong cùng một thời điểm và đáp ứng nhiều đòi hỏi khác nhau trước
một vấn đề cụ thể(1).
Các mô thức ngoại giao đa phương chủ yếu và mang tính phổ quát hiện nay là tổ
chức quốc tế (với các tính chất khác nhau từ những tổ chức mang tính cộng đồng
chung, liên minh đến những tổ chức mang tính hợp tác với những cam kết đơn
giản; ở các cấp độ khác nhau, như khu vực, liên khu vực, toàn cầu; với các lĩnh
vực đa dạng: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...); các diễn đàn, hiệp hội
(tính chất và quy mô đa dạng nhưng ràng buộc lỏng lẻo hơn); các phong trào, các
hội nghị, cuộc họp, hội thảo... (quy mô đa dạng, ít ràng buộc nhằm giải quyết
một hoặc một vài vấn đề, mang tính ngẫu hứng hoặc thường niên).
Trong ngoại giao đa phương, lợi ích luôn
là yếu tố quy định hành vi của chủ thể. Với mỗi thời điểm khác nhau, hoàn cảnh
khác nhau, các quốc gia có lợi ích khác nhau, dẫn tới hình thành động cơ thúc
đẩy sự tham gia của các chủ thể, thời điểm sử dụng mô thức ngoại giao đa phương
khác nhau trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, chủ thể quan hệ quốc tế (cơ bản nhất
là quốc gia - dân tộc độc lập có chủ quyền) tham gia ngoại giao đa phương khá
sôi động, cho thấy ngoại giao đa phương đang đáp ứng được những lợi ích của các
chủ thể. Một điểm đáng chú ý trong ngoại giao đa phương là tương quan lực lượng
và thực lực quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng của trật tự thế giới và là cơ
sở để định hình “sân chơi” và nguyên tắc ứng xử (“luật chơi”) trong quan hệ
quốc tế nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng; đóng vai trò không nhỏ
trong việc quyết định hành vi và tầm ảnh hưởng trong quá trình đàm phán. Thêm
vào đó, thực lực quốc gia - nhân tố được coi là cơ sở của việc hoạch định và
thực hiện chính sách đối ngoại - cũng quyết định hành vi của quốc gia trong
ngoại giao đa phương. Vì vậy, các nước lớn có hành vi theo hướng chi phối và “bao
cấp” cho thể chế đa phương, còn các nước nhỏ thì hành động theo hướng chấp
nhận, tuân thủ và “ăn theo”(2).
Bên cạnh đó, hành vi của quốc gia cũng phụ
thuộc vào mức độ thể chế hóa của các tổ chức đa phương. Tổ chức đa phương có
mức độ thể chế hóa cao sẽ có khả năng cao hơn trong việc buộc các nước phải
tuân thủ luật lệ và ngược lại, mức độ thể chế hóa thấp sẽ làm xu hướng không
tuân thủ luật lệ xảy ra cao hơn(3).
“Luật chơi” (nguyên tắc, quy định) của các
thể chế đa phương quốc tế cũng thúc đẩy hoặc tác động đến hành vi của các quốc
gia. Các mô thức ngoại giao đa phương khác nhau sẽ có “luật chơi” khác nhau.
Nhưng điểm chung của các mô thức ngoại giao đa phương là sản phẩm hay kết quả
chính là các thỏa thuận quốc tế đa phương. Các thỏa thuận này là “luật chơi”
ràng buộc hành vi tiếp theo của chủ thể trong ngoại giao đa phương. Vì vậy,
trong quá trình hình thành “luật chơi”, quốc gia nào được tham gia đàm phán và
đưa ra ý tưởng được chấp nhận và ghi nhận ý tưởng trong sản phẩm cuối cùng của
ngoại giao đa phương, quốc gia đó sẽ khẳng định được lợi ích và vị thế của mình
trong “sân chơi” đa phương này. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để quốc gia thuận
lợi hóa môi trường cho hành vi tương lai. Song, do chủ quyền của quốc gia, sự
chưa hoàn thiện của thể chế và khả năng đáp ứng nhu cầu của các bên trong các
thỏa thuận quốc tế đa phương nên “luật chơi” của các thể chế đa phương chỉ ràng
buộc một phần hành vi của quốc gia, bởi khi cần thiết chủ thể (quốc gia) sẽ
viện dẫn lý do chủ quyền và lợi ích quốc gia để có thể bỏ qua những “luật chơi”
này(4).
Trên thực tế, hành vi của các chủ thể khá
đa dạng. Song, tựu chung chủ thể tham gia ngoại giao đa phương theo ba dạng
hành vi cơ bản sau: 1- Các chủ thể thành viên phải chấp nhận và tuân thủ theo
“luật chơi” chung (rule taker); 2- Vận dụng “luật chơi” hoặc kẽ hở luật pháp để
tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình (rule manipulator); 3- Thay đổi,
điều chỉnh hoặc xây dựng “luật chơi” mới để thích ứng với vị thế và thực lực
mới (rule maker hoặc shaper)(5). Các chủ thể có thể thay đổi hành vi của mình tùy
theo lợi ích, tương quan lực lượng, “luật chơi” và “sân chơi” đa phương trong
những thời điểm và vấn đề khác nhau. Ngoài ra, một chủ thể trong một thời điểm
có thể có một hoặc hai, thậm chí có đủ cả ba hành vi ở những hoạt động ngoại
giao đa phương khác nhau.
Trong thế kỷ XXI, quan điểm và hoạt động
ngoại giao đa phương của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phong phú, rõ
nét và mang tính đặc thù. Chẳng hạn, Mỹ theo đuổi chủ nghĩa đa
phương có lựa chọn và chủ nghĩa đa phương hiệu quả với quan điểm xây dựng một
hệ thống đa phương do Mỹ và các nước phương Tây dẫn dắt để có thể gây ảnh hưởng
lên các quốc gia khác. Ngoại giao đa phương của Mỹ tồn tại cùng ngoại giao song
phương và mang tính thực dụng. Mỹ lựa chọn phát triển hay cầm chừng hoặc từ bỏ
hoạt động ngoại giao đa phương theo sự tính toán về lợi ích của họ với các thời
điểm khác nhau. Điều này thể hiện rõ trong hành vi ngoại giao đa phương của Mỹ
trên thực tế có xu hướng áp đặt “luật chơi” để bảo đảm lợi ích quốc gia, song
Mỹ cũng sẵn sàng rời bỏ tổ chức đa phương cũ, khởi xướng thể chế đa phương mới
cũng vì lợi ích quốc gia.
Nga luôn
chủ trương gắn bó sâu sắc với các nguyên tắc của chủ nghĩa đa phương(6).
Nga chú trọng các cơ chế đa phương như một dạng tập hợp lực lượng để nhằm phục
hưng đất nước và ngăn chặn ảnh hưởng của phương Tây. Ngoại giao đa phương của
Nga phân tán về chiều rộng từ cấp độ toàn cầu, khu vực tới tiểu khu vực, mang
tính lựa chọn với các quan điểm: 1- “Lãnh đạo tập thể của những quốc gia hàng
đầu” cùng có trách nhiệm giải quyết các vấn đề toàn cầu, khác với quan điểm
lãnh đạo của một siêu cường; 2- Trong ngoại giao đa phương, chính sách đa
phương cần được đàm phán giữa các bên liên quan và Nga không chấp nhận một
quyết định nào mà chưa được thông qua (chẳng hạn những quyết định của Tổ chức
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương hoặc Liên minh châu Âu mà Nga không tham gia sẽ
không có giá trị); 3- Ngoại giao đa phương cần trở thành nền tảng, phản ánh sự
phân chia quyền lực trong một thế giới đa cực đang nổi lên, bao gồm: Trung
Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, mà Nga hết sức chú trọng(7).
Trung Quốc hiện đang thể hiện cách tiếp cận mạnh mẽ và phổ
biến về ngoại giao đa phương, nhất là với các tiểu vùng, khu vực và các tổ chức
lớn, đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc bắt đầu khẳng định vị thế, sức
mạnh và sự dẫn dắt của mình trong nhiều thể chế đa phương qua sự tham gia tích
cực vào các cơ chế bằng các sáng kiến đa phương, sự đầu tư và đóng góp, thể
hiện sự gánh vác trách nhiệm, tham gia quản trị toàn cầu, phát huy “sức mạnh
mềm” của Trung Quốc. Trung Quốc đưa ra chủ thuyết về một thế giới hài hòa,
trong đó vai trò của các tổ chức đa phương được đề cao - cùng hợp tác để cùng
thịnh vượng, cần tôn trọng sự đa dạng về văn hóa và hệ thống chính trị, các
quốc gia đang phát triển có nhiều quyền quyết định hơn. Trung Quốc tích cực
triển khai các hoạt động đa phương, truyền bá những tư tưởng mới, đưa ra thông
điệp mới về xây dựng một thế giới hài hòa, dân chủ, kiến tạo một trật tự kinh
tế thế giới mới, đặc biệt Trung Quốc nêu quan điểm không tham gia liên minh(8).
Quan
điểm và hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng
Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được
một số kết quả quan trọng về đối ngoại. Hội nhập kinh tế quốc tế phát triển sâu
rộng trên nhiều cấp độ từ khu vực đến toàn cầu, đa dạng về hình thức, với việc
tham gia chủ động tích cực ở các tổ chức, diễn đàn, hội nghị đa phương quốc tế,
đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc và Diễn đàn
Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tham gia ký kết nhiều hiệp
định thương mại tự do song phương, đa phương thế hệ mới, nổi bật là Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN - EAEU FTA), Hiệp định
Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương
mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). “Quan hệ đối ngoại và
hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ
quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các
nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(9).
Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng
(tháng 1-2021) đã đưa ra quan điểm phát triển đất nước nói chung, quan điểm đối
ngoại nói riêng, đó là: 1- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ
sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế,
bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất
nước; 2- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc; 3- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập,
tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát
huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là
nguồn lực con người là quan trọng nhất(10). Mặc dù quan điểm về ngoại giao đa phương(11) chưa
được Đảng ta đưa vào văn kiện một cách chính thức và độc lập, nhưng những quan
điểm trên được xem là tiền đề cơ bản (nguyên tắc, phương châm) cho chính sách
và hành vi (hoạt động) về ngoại giao đa phương.
Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định mục
tiêu đối ngoại: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa
phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu
rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao
vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(12); tuy nhiên, Đảng ta vẫn chưa đề cập đến ngoại giao đa
phương, chỉ hàm ý trong cụm từ “đa phương hóa, đa dạng hóa”. Đảng ta chỉ rõ:
“Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham
gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là
ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác
khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến
lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể...; chủ động, tích cực
và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết... Chủ động,
tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới
về bảo vệ Tổ quốc”(13). Trong
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm được thông qua tại Đại hội
XIII của Đảng, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm mặc dù không đề cập đến đối ngoại
đa phương mà chỉ đề cập đến công tác đối ngoại nói chung: “Giữ vững độc lập, tự
chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc
tế”(14),
song, trong phần phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội
10 năm, Đảng ta lại đề cập một cách cụ thể, đó là: “Tăng cường hợp tác quốc tế
về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia gìn giữ hòa bình của
Liên hợp quốc”. Đặc biệt trong phương hướng đối ngoại, Đảng ta tiếp tục khẳng
định và phát triển quan điểm đã nêu trong Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018,
của Ban Bí thư, về “Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, đó
là: Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại
song phương, thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên
hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương(15).
Nhìn chung, Việt Nam đã xác định ngoại
giao đa phương là một nội dung quan trọng trong quan điểm về đối ngoại với việc
sử dụng nhiều lần cụm từ “nâng tầm đối ngoại đa phương” trong Văn kiện Đại hội
XIII của Đảng. Thêm vào đó, quan điểm về ngoại giao đa phương được xác định khá
cụ thể, như: đối tác trọng tâm là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng
Mê Công...; lĩnh vực được ưu tiên là kinh tế, quốc phòng, an ninh...; quan điểm
về thái độ tham gia ngoại giao đa phương là chủ động, tích cực. Trong thời gian
tới, ngoại giao đa phương của Việt Nam được Đảng ta xác định: “Tích cực triển
khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách,
kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động tham gia, tích
cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể
chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam
kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”(16).
Theo đó, Việt Nam sẽ tích cực, chủ động tham gia đóng góp, định hình “luật
chơi” trong các hoạt động ngoại giao đa phương.
Đặc biệt, Việt Nam đã thể hiện sự nâng tầm
về tư duy, quan điểm về ngoại giao đa phương khi khẳng định: “Tiếp tục đổi mới
hợp tác quốc tế về pháp luật theo hướng chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả
các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực
và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có
lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới,
nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật”(17).
Như vậy, có thể thấy, Việt Nam chủ trương tham gia ngoại giao đa phương trên cơ
sở phối hợp ba hành vi: người thực hiện “luật chơi”, người tận dụng và người
tham gia tạo dựng “luật chơi” (rule taker, rule manipulator và rule shaper).
Việt Nam kỳ vọng chủ động thực hiện ngoại giao đa phương theo hướng góp phần
hình thành các nguyên tắc, “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, mức độ
hành vi còn tùy thuộc vào mô thức ngoại giao đa phương mà Việt Nam tham gia.
Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay,
trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, tình hình dịch bệnh
COVID-19 có nhiều diễn biến khó lường, các hoạt động ngoại giao đa phương của
Việt Nam vẫn diễn ra linh hoạt, năng động và là minh chứng cho một Việt Nam
đang tích cực, chủ động tham gia định hình “luật chơi” và nguyên tắc của thể
chế đa phương. Việt Nam vẫn đảm nhiệm tốt vai trò, vị trí của mình trong các
“sân chơi” đa phương khu vực và thế giới. Cụ thể, Việt Nam đã hoàn thành xuất
sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ
2020 - 2021, với việc tham gia hàng trăm cuộc họp và bỏ phiếu các nghị quyết,
đưa ra nhiều sáng kiến quan trọng về các vấn đề liên quan đến thượng tôn pháp
luật trong bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới; thúc đẩy bảo vệ người dân, nhất
là phụ nữ và trẻ em; ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống
(biến đổi khí hậu, nước biển dâng...); thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn và nâng
cao vai trò của các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực, hợp tác giữa các tổ chức,
khu vực và tiểu khu vực với Liên hợp quốc trong bảo vệ hòa bình và an ninh ở
các khu vực và quốc tế. Đặc biệt, tháng 12-2021, Việt Nam đã tổ chức thành công
Phiên họp theo thể thức Arria đầu tiên về vấn đề trẻ em không có sự chăm sóc
của cha mẹ trong xung đột. Trên cương vị Chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc, trong tháng 4-2021, Việt Nam đã tổ chức, chủ trì, điều hành
khoảng 30 cuộc họp theo phương châm tích cực, chủ động, có trách nhiệm, vừa bảo
đảm sự khách quan, minh bạch, vừa linh hoạt, xử lý hài hòa, cân bằng mối quan
tâm của các nước đối với các vấn đề được thảo luận và thúc đẩy hợp tác, đồng
thuận tại Hội đồng Bảo an(18); thúc đẩy thông qua Tuyên bố Chủ tịch của Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác quốc tế để
chung tay giải quyết những hệ lụy của bom mìn sau chiến tranh đối với an toàn
và sinh kế bền vững của người dân, cộng đồng(19).
Việc tham gia tích cực, chủ động các hoạt
động của ASEAN trong năm 2021 đã và đang khẳng định vai trò dẫn dắt, định hình
“luật chơi” của Việt Nam tại diễn đàn đa phương lớn nhất của khu vực này. Việt
Nam tham gia chuỗi các hội nghị cấp cao và quan trọng của ASEAN, như Hội nghị
cấp cao ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN với các đối tác, Hội nghị cấp cao Mê Kông
- Hàn Quốc lần thứ ba, theo hình thức trực tiếp và trực tuyến... Cùng với đó,
Việt Nam chủ động tham gia, tích cực phối hợp một cách có trách nhiệm với nước
Chủ tịch Bru-nây thúc đẩy các ưu tiên của năm 2021, nhất là chủ động và hiện
thực hóa các chương trình kế hoạch theo sáng kiến của Việt Nam từ năm 2020,
như: Quỹ ASEAN về ứng phó dịch bệnh COVID-19, Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp
ASEAN, Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Khung thỏa thuận hành lang đi lại ASEAN
(ATCAF)...
Tham gia ngoại giao đa phương trong khuôn
khổ APEC cũng là một hoạt động đáng chú ý trong năm 2021 của Việt Nam. Bên cạnh
việc Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham dự và phát biểu tại Hội nghị thượng
đỉnh APEC lần thứ 28 (tháng 11-2021) được tổ chức tại Niu Di-lân, Việt Nam cũng
tham gia nhiều sự kiện và hoạt động quan trọng của tuần lễ APEC, như Hội nghị
các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 28 (APEC 28), phiên Đối thoại giữa lãnh
đạo các nền kinh tế APEC với Hội đồng Tư vấn kinh doanh APEC (ABAC), Hội nghị
thượng đỉnh doanh nghiệp APEC. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ
Công Thương của Việt Nam cũng tham dự các phiên họp Hội nghị liên Bộ trưởng
Ngoại giao - Kinh tế của APEC. Đặc biệt, tại APEC 28, Việt Nam đã đề xuất một
số ý kiến được các nền kinh tế thành viên ghi nhận, bao gồm: chia sẻ và tiếp
cận công bằng vắc-xin phòng ngừa dịch bệnh COVID-19, vật tư y tế và nguồn lực,
đề nghị APEC có tầm nhìn, cách tiếp cận mới trong việc phục hồi kinh tế, như
thúc đẩy nền kinh tế số, thúc đẩy thương mại điện tử, thúc đẩy tự do thương
mại, dỡ bỏ các rào cản thương mại để khôi phục sản xuất, kinh doanh, tránh bị
đứt gãy các chuỗi sản xuất, đề nghị các nền kinh tế thành viên hỗ trợ, quan tâm
các đối tượng yếu thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những biện pháp, đề xuất về
thúc đẩy tăng trưởng xanh, tăng trưởng bao trùm... Tất cả các sáng kiến, đề
xuất của Việt Nam đã được ghi nhận đầy đủ vào các văn kiện của APEC, trong đó
có Tuyên bố cấp cao APEC, Tuyên bố cấp Bộ trưởng APEC cũng như Kế hoạch hành
động triển khai Tầm nhìn APEC đến năm 2040; qua đó, thể hiện sự đóng góp hết
sức trách nhiệm, tích cực, chủ động của Việt Nam, là thành viên chủ động, đi
đầu trong APEC về xây dựng, củng cố đoàn kết trong APEC để tiếp tục tăng cường
hợp tác vì một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hòa bình và ổn định”(20).
Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách
thức nhưng với những hoạt động sôi động và hiệu quả của hoạt động ngoại giao
nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng, Việt Nam đã khẳng định vị thế của
một quốc gia đang trên đà phát triển. Với vị thế và thực lực cũng như định
hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao đa phương
trên thực tế sẽ là đường lối quan trọng để Việt Nam thực hiện thắng lợi mục
tiêu chiến lược của đất nước./.
---Nguồn: TCCS----
(1) Lưu Thúy Hồng: Ngoại giao đa phương trong hệ thống quan
hệ quốc tế đương đại, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2015, tr. 49
(2), (3) Xem: Đặng Đình Quý (Chủ biên): Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối
ngoại đa phương của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 89 - 90
(4) Xem: Hoàng Khắc Nam: Lý thuyết quan hệ quốc tế, Nxb. Thế giới, 2017, Hà Nội, 2017, tr. 37, 64
(5) Xem: Đặng Đình Quý (Chủ biên): Chủ
nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, Sđd, tr.
89 – 90
(6) Elena Wilson Rowe - Stina Torjesen:
“The Multilateral Dimension in Russian Foreign Policy” (Tạm dịch: “Chiều hướng
đa phương trong chính sách đối ngoại của Nga”), 2009, https://www.routledge.com/The-Multilateral-Dimension-in-Russian-Foreign-Policy/Rowe-Torjesen/p/book/9780415542920
(7) Xem: Lưu Thúy Hồng (Chủ nhiệm): Hoạt
động ngoại giao đa phương (Đề tài cơ sở trọng điểm), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2021
(8) Trong Sách Trắng của Trung Quốc “Sự
phát triển hòa bình” năm 2011 nhấn mạnh nguyên tắc không liên minh quân sự với
bất cứ nước nào, cốt lõi của tư tưởng và khái niệm an ninh kiểu mới của Trung
Quốc; thừa nhận sự xuất hiện của các nhân tố an ninh phi truyền thống
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,
tr. 69
(10) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, Sđd, t.
I, tr. 110 - 111
(11) Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Đảng ta sử dụng cụm từ “đối ngoại đa phương”
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, Sđd, t.
I, tr. 117 – 118
(13), (14), (15), (16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, Sđd, t.
I, tr. 162 - 163, 201, 281 - 283, 164
(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, Sđd, t.
II, tr. 154
(18) Xem: Thùy Dung: “Việt Nam đảm nhận
vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 25-3-2021, https://baochinhphu.vn/viet-nam-dam-nhan-vai-tro-chu-tich-hoi-dong-bao-an-lhq-102289742.htm
(19) Xem: Hoàng Kiều: “10 dấu ấn của Việt
Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021”, Trang thông tin điện tử Đài Tiếng nói Việt
Nam, ngày 18-1-2022, https://vov.vn/chinh-tri/10-dau-an-cua-viet-nam-tai-hoi-dong-bao-an-lien-hop-quoc-nhiem-ky-2020-2021-post918924.vov
(20) Xem: Đoàn Ca: “Việt Nam là thành viên
đi đầu, đóng góp có trách nhiệm trong APEC”, Trang thông tin điện tử Quân đội nhân
dân, ngày 31-11-2021, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/viet-nam-la-thanh-vien-di-dau-dong-gop-co-trach-nhiem-trong-apec-677336
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét