Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền

 


Sự thống nhất của quyền lực nhà nước thể hiện trước hết ở chỗ, trong một quốc gia không thể có hai thứ quyền lực nhà nước trở lên khác nhau về bản chất, định hướng, mục tiêu và những công cụ, phương tiện thực thi quyền lực. Điều này không loại trừ cả ở những quốc gia được tổ chức dưới hình thức Nhà nước liên bang vì ở đó, quyền lực nhà nước ở các bang đồng kiểu với quyền lực của liên bang, phục tùng Nhà nước liên bang và tạo thành một thực thể quyền lực.

Sự khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là quan điểm thống nhất và nhất quán được biểu hiện thông qua các Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện đại. Có thể xác định những đặc trưng sau đây về tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Đó là sự thống nhất về bản chất xã hội. Quyền lực nhà nước là sự thể hiện sự thống nhất ý chí và lợi ích của các giai tầng xã hội và được biểu thị dưới các khái niệm, ý tưởng về “quyền lực của nhân dân”, “quyền lực của nhân dân lao động”, “quyền lực của các lực lượng yêu nước” và thực chất là sự hỗn hợp lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội vì những mục tiêu cơ bản nhất, chủ đạo nhất; Đó là sự thống nhất các mục tiêu và khuynh hướng có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước, của các cơ quan quyền lực nhà nước, xuất phát từ nhu cầu phối hợp trong thực thi quyền lực; Đó là sự thống nhất về mặt tổ chức và pháp lý. Các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước đều được tổ chức trên một nền tảng pháp lý thống nhất: một Hiến pháp, một hệ thống pháp luật, được đặt trong một quỹ đạo chung là lợi ích quốc gia và dân tộc.

Sự thống nhất của quyền lực nhà nước được bảo đảm bằng một Hiến pháp và một hệ thống pháp luật: tất cả các cơ quan, từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp đều được tổ chức và thực hiện các hoạt động trên một cơ sở pháp lý chung của quốc gia. Thống nhất quyền lực với tính cách là sự thống nhất các mục tiêu và định hướng có tinh nguyên tắc trong hoạt động của các cơ quan nhà nước có thể có giá trị cao nhằm mục đích tập trung cao độ các nỗ lực của bộ máy nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp của một đất nước. Kinh nghiệm khắc phục khủng hoảng kinh tế của các chính phủ vừa qua, cũng như trong các cuộc khủng hoảng chu kỳ trước đây, là bằng chứng về điều đó. Bên cạnh đó, sự thống nhất quyền lực ở nghĩa tập trung toàn bộ quyền lực vào một cơ quan lại không phải là một thực tiễn tốt, vì đó là mầm mống của một thứ quyền lực thiếu kiểm soát.

Đó là lý do cho việc ra đời học thuyết về phần quyền trong cơ chế quyền lực nhà nước. Mục đích cơ bản nhất của việc phân quyền là để phòng ngừa sự lạm quyền, bởi một nhóm hay những cá nhân và duy trì tính toàn vẹn của quyền lực.

Như vậy, cả lý thuyết và cả trong thực tiễn, sự thống nhất của quyền lực về mặt bản chất, về mặt xã hội và tổ chức-pháp lý không loại trừ mà ngược lại, đòi hỏi có sự phân quyền. Trong trường hợp này, cơ chế phân quyền được hiểu như là khía cạnh tổ chức - pháp lý của quyền lực nhà nước mà không mang tính bản chất. Tính thống nhất và sự phân chia quyền lực là hai phương diện của cùng một vấn đề. Chính vì vậy, ngay trong Hiến pháp Hoa Kỳ, một quốc gia được coi là đạt tới sự phân quyền đầy đủ nhất, cũng đã ghi nhận và khẳng định cả hai phương diện đó. Hiến pháp năm 1946 đã phác hoạ một cơ chế độc đáo trong mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm tính độc lập và sự chủ động của mỗi thiết chế quyền lực. Có thể thấy điều đó qua việc Hiến pháp đã xác định Thủ tướng – người đứng đầu Nội các “phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các”, đồng thời Nghị viện có quyền biểu quyết về tín nhiệm Nội các, nhưng Nghị viện chỉ có thể làm điều đó khi Thủ tướng hoặc ¼ tổng số nghị viên nêu vấn đề ấy. Trường hợp Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các, Chủ tịch nước có quyền đưa vấn đề ra Nghị viện thảo luận lại và chỉ sau hai lần thảo luận ấy nếu Nghị viện vẫn giữ nguyên quyết định thì Nội các mất tín nhiệm phải từ chức. Việc bắt và truy tố nhân viên Nội các về tội thường phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ. Tính độc lập và chủ động của Chính phủ theo Hiến pháp năm 1946 cũng thể hiện ở quyền của Chính phủ đề nghị các dự án luật ra trước Nghị viện cũng như quyền tổ chức thi hành các đạo luật mà không phải là chính phủ chỉ là “cơ quan chấp hành của Quốc hội như quy định ở các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và kể cả Hiến pháp năm 2013 hiện nay.

1 nhận xét: