Tiếp tục thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh,
gia đình liệt sĩ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm, tri ân công lao to
lớn và sự mất mát, hy sinh của thương binh, liệt sĩ và gia đình vì độc lập, tự
do của Tổ quốc và nhân dân ta. Di huấn của Người đối với thương binh, liệt
sĩ còn vẹn nguyên giá trị, có ý nghĩa sâu sắc để mỗi người dân Việt Nam, nhất
là thế hệ trẻ tiếp tục noi gương, học tập và có trách nhiệm thực hiện di huấn
của Người đối với công tác “đặc biệt quan trọng” này.
Bài viết kỷ niệm 75 năm ngày Thương
binh, Liệt sỹ (27/7/1947-27/7-2022)
1. Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối
với thương binh và gia đình liệt sĩ
Trong trái tim nặng tình ân nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh,
gia đình liệt sĩ, Người bộc bạch, chia sẻ một cách hết sức thiêng liêng: “Khi
nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó đến như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non
sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh tài sản, chìm đắm cả bố, mẹ, vợ,
con, dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta dũng
cảm xông ra mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường
đồng, một con đê vững, để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại
đồng bào. Họ quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ gìn tính mệnh của đồng bào. Họ
hy sinh gia đình và tài sản họ, để bảo vệ gia đình và tài sản của đồng bào. Họ
quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Họ là những chiến
sĩ anh dũng của ta. Trong đó, có người đã bỏ lại một phần thân thể ở trước mặt
trận. Có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ”(1).
Ghi nhận, đánh giá cao sự hy sinh, công lao to lớn của thương binh, tử sĩ
và gia đình của họ, Hồ Chí Minh khẳng định, máu đào của thương binh, tử sĩ đã
góp phần tô thắm thêm lá cờ cách mạng của dân tộc ta. Chính sự hy sinh anh dũng
của các liệt sĩ đã mang lại cho đất nước ta được nở hoa độc lập, kết
quả tự do. Đồng thời, Người cũng
bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những mất mát, thiệt thòi của thương binh, tử
sĩ và gia đình họ, nhất là khi trở về với cuộc sống đời thường. Người trăn trở
khi phải chứng kiến cảnh ngộ: “Cách mấy ngày trước, bố mẹ họ nhận được tin tức,
đang mong cho đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, họ sẽ trở lại
quê hương, một nhà đoàn tụ. Ngày nay, bố mẹ họ đã mất một người con yêu quý. Vợ
trẻ thơ trở nên bà hóa. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một
linh bài tử sĩ”(2). Do vậy, Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào, nhân dân cả nước chia sẻ và sẵn
sàng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ.
Khi được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng anh dũng hy sinh ngoài chiến
trường, Người vô cùng đau xót, viết thư chia buồn gửi tới gia đình với tất cả
tấm lòng: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước
Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi.
Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em
thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ
dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng
tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam… Đồng bào và Tổ quốc sẽ
không bao giờ quên ơn họ. Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn
sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để
bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng”(3).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua,
thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả
tính mệnh. Cụt chân gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể
sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sĩ
trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ
đã hy sinh tiểu gia đình của họ, họ đã không ngại rời cha mẹ, bỏ quê hương, ra
xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộcgồm cả gia đình của
mỗi đồng bào”(4). Từ nhận thức sâu sắc đó, Người mong muốn đồng bào
ta phải trân trọng, biết ơn và giúp đỡ anh, chị, em thương binh, gia đình tử
sĩ, những người có công với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc.
Trên cương vị Chủ tịch nước, để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, ghi nhận những
mất mát, hy sinh lớn lao của những thương binh, tử sĩ, ngày 16-2-1947, Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tử
tuất đối với thương binh, tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên đặt nền móng
cho việc hoạch định, thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ ở nước ta. Sau
đó bốn tháng, Người tiếp tục yêu cầu chọn một ngày trong năm làm “Ngày Thương
binh” để toàn thể đồng bào, nhân dân ta bày tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ và giúp
đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, những người có công với Tổ quốc.
Tại Hội nghị trù bị họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên), đại biểu các các
cơ quan, ban ngành ở Trung ương, khối, tỉnh đã bàn bạc, thống nhất lấy ngày
27-7-1947 làm “Ngày Thương binh liệt sĩ” đầu tiên. Kể từ đó, ngày 27 tháng
7 hằng năm đã trở thành Ngày Thương binh liệt sĩ.
Cứ mỗi dịp 27 tháng 7 hằng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu
gọi toàn dân hoặc gửi thư tới người phụ trách công tác thương binh, liệt sĩ,
tới các bệnh viện, các thương binh, gia đình liệt sĩ. Người kêu gọi cấp ủy
đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp quan tâm, thực hiện nghiêm túc chính sách
đối với thương binh, liệt sĩ, chăm lo để bảo đảm cho họ được “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần”; nhắc nhở nhân dân ta tỏ lòng hiếu
nghĩa, cảm thông, chia sẻ với thương binh và gia đình tử sĩ, người có công với
Tổ quốc; ân cần động viên anh, chị, em thương binh phấn đấu để trở thành những
tấm gương nghị lực vươn lên trong cuộc sống đời thường, “tàn nhưng không
phế”, tiếp tục hăng hái đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ
thành quả cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu phương châm chỉ đạo thực hiện các chính sách
đối với thương binh, liệt sĩ, những người có công với cách mạng: “Đồng bào
sẵn sàng giúp, Chính phủ ra sức nâng đỡ, anh em có quyết tâm, thì anh em nhất
định dần dần tự túc được”(5). Theo đó, chính sách của Chính phủ có
vai trò chủ đạo, là đòn bẩy thúc đẩy các phong trào đền ơn đáp nghĩa của các
tầng lớp nhân dân giữ vai trò quan trọng, thiết thực. Bản thân thương binh, gia
đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng có vai trò quyết định trực
tiếp trong việc phấn đấu để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của họ.
Người cũng đã đề ra và phát động các phong trào để kêu gọi nhân dân giúp
đỡ, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, như phong trào “Đón thương binh về làng” tháng 7-1951 với mục đích, yêu cầu Đảng,
chính quyền, đoàn thể các địa phương và nhân dân giúp đỡ thương binh, ưu tiên
thương binh làm những công việc phù hợp với khả năng để mỗi người có thể tự
sinh sống, hòa nhập với cộng đồng…
Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, kịp thời biểu dương, cổ vũ những cá
nhân, tập thể có thành tích trong công việc giúp đỡ, chia sẻ với thương binh,
gia đình tử sĩ. Bản thân Người luôn quan tâm, gương mẫu thực hiện việc giúp đỡ
thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với cách mạng thông qua
những hành động cụ thể, thiết thực, từ tiết kiệm tiền lương, tiền nhuận bút,
thậm chí là nhịn ăn...
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài báo ngợi ca, biểu dương những tấm
gương liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, cho nhân dân như các anh hùng:
Mạc Thị Bưởi, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót. Ca ngợi sự hy sinh quên mình của các
đồng chí lãnh đạo Đảng, đó là những lãnh tụ Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng
Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ… Khen
ngợi các thương binh có nhiều thành tích trong học tập, tăng gia sản xuất, trở
thành các chiến sĩ tiên phong trên các mặt trận, như các anh Trần Chút ở Cẩm
Xuyên, Hà Tĩnh, Nguyễn Văn Hơn người miền Nam công tác ở Nghệ An, Phạm Văn Tiêm
ở nông trường Đông Hiếu, v.v..
Trong những dịp lễ, tết, Người thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên
thương binh, gia đình liệt sĩ, ghi nhận, biểu dương những công lao, đóng góp
của họ, khuyến khích họ lạc quan, hăng hái tăng gia sản xuất, thực hành tiết
kiệm, góp phần xây dựng cuộc sống mới; giữ vững truyền thống tốt đẹp, vẻ vang
của quân đội cách mạng; giữ vững kỷ luật, thật sự đoàn kết, thương yêu giữa
anh, em thương binh với nhau, giữa các đồng chí thương binh với các cán bộ,
nhân viên y tế chăm sóc họ và với đồng bào địa phương. Nhắc nhở họ không nên
công thần, ỷ lại, tiêu cực hoặc yêu cầu nhân dân quá đáng, mà phải gắn bó với
nhân dân, chủ động, tích cực trong công tác, cuộc sống hằng ngày; tích cực giáo
dục, dìu dắt thanh niên.
Mỗi lời kêu gọi, bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các
tầng lớp nhân dân và đặc biệt là những hành động thiết thực của Người đã cho
thấy một tinh thần thấu hiểu, thấu cảm sâu sắc đến đời sống của thương binh,
gia đình tử sĩ và những người có công với cách mạng. Qua đó, Người mong muốn
đồng bào, chính quyền các địa phương sẵn sàng trợ giúp thương binh, gia đình
liệt sĩ, người có công với Tổ quốc thông qua những hành động cụ thể, hiệu quả
trong cả lao động sản xuất, ổn định cuộc sống, chăm lo đến đời sống vật chất và
tinh thần của họ. Theo Người, Đảng, Nhà nước, Đoàn thể phải chấp hành, thực
hiện một cách chu đáo các chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và
người có công với cách mạng.
Bằng tấm lòng nhân ái cao cả, một tâm hồn và trái tim luôn “yêu thương hết
thảy chỉ quên mình”, trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại, Người thiết tha
nhắn gửi và căn dặn những điều hệ trọng đối với cách mạng Việt Nam, trong đó,
đầu tiên là “công việc với con người”, đặc biệt là: “Đối
với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh
sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào
phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những
lớp dạy nghề thích hợp đối với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh
sinh””(6). Người cũng không quên căn dặn, nhắc nhở cấp ủy, chính
quyền các địa phương phải quan tâm, chú trọng việc giáo dục truyền thống yêu
nước cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ: “Đối với các liệt sĩ, mỗi
địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy
sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân
dân ta”(7). Và, “Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt
sĩ), người có công với nước mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính
quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông
nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói
rét”(8).
Đối với những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và
thanh niên xung phong, họ đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra
dũng cảm, Người yêu cầu Đảng và Chính phủ cần có kế hoạch để chăm lo, bồi dưỡng
và đào tạo nghề cho họ, giúp họ trở thành “đội quân chủ lực trong công cuộc xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(9).
2. Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đối với thương binh, liệt sĩ và những người có công với cách mạng
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, thực hiện các chính
sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với
cách mạng. Nhiều văn bản, chính sách đã được ban hành đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn công tác thương binh, liệt sĩ. Trong thực tế, Pháp lệnh ưu đãi người có
công với cách mạng và các văn bản hướng dẫn đã quy định rõ điều kiện, tiêu
chuẩn xác nhận người có công; đối tượng chính sách người có công với cách mạng
được mở rộng, thể hiện sự công bằng, tôn vinh những cống hiến và tiến bộ xã
hội.
Việc xây dựng, nâng cấp, tu bổ các công trình, nghĩa trang liệt sĩ được
quan tâm đầu tư; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính
hài cốt liệt sĩ được triển khai tích cực.
Phong trào “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có
công với cách mạng”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” ngày càng phát triển sâu rộng, được
nhân dân, xã hội đồng lòng, hưởng ứng; đời sống của gia đình người có công với
cách mạng từng bước được cải thiện; các thương binh, bệnh binh, thân nhân
liệt sĩ đã giữ vững bản lĩnh, ý chí vươn lên và tiếp tục có nhiều đóng góp vào
sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Trong những năm qua, Nhà nước đã có chính sách ưu tiên nguồn lực để trợ
cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng, phù hợp với điều kiện phát
triển kinh tế, xã hội. Việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công, gia đình
những người có công với cách mạng ngày càng có chiều sâu, thiết thực, hướng đến
giải quyết các vấn đề khó khăn, còn tồn đọng ở các thời kỳ trước để lại. Chế độ
trợ cấp ưu đãi, các chế độ hỗ trợ khác đối với người có công, gia đình chính
sách được triển khai thực hiện khá đồng bộ, điều đó thể hiện qua các chính sách
bảo hiểm y tế, hỗ trợ về nhà ở, ưu đãi trong giáo dục đào tạo, việc làm; chăm
sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ
chỉnh hình; vay vốn, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh của thương, bệnh binh và
người có công với cách mạng...
Bên cạnh đó, các cơ sở, đơn vị nuôi dưỡng, điều dưỡng thương binh, thân
nhân liệt sĩ và người có công với cách mạng thường xuyên được nâng cấp, tu sửa,
kịp thời đáp ứng yêu cầu nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách
mạng.
Nhiều xã, phường đã làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với
cách mạng bằng những hình thức phong phú, thiết thực đã tạo ra sức lan tỏa sâu
rộng trong xã hội với các hoạt động tặng nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa,
sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ
côi, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ngày càng được quan tâm, chú trọng,
từ đó kêu gọi, huy động các nguồn lực trong xã hội cùng Nhà nước chung sức,
đồng lòng chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của thương binh, bệnh
binh, gia đình người có công với cách mạng.
Tiếp nối những kết quả đã đạt được, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Hoàn
thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở
nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống
từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú. Cân đối ngân sách để tiếp tục
thực hiện việc nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, giải
quyết căn bản chính sách đối với người có công; nâng cấp các công trình “đền ơn
đáp nghĩa”(10).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, công
tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng vẫn còn những hạn chế. Đó
là: một bộ phận người có công với cách mạng vẫn chưa được xác nhận; số lượng
liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt hoặc chưa xác định được danh tính còn nhiều; việc
kêu gọi, huy động, bố trí, sử dụng các nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi
người có công với cách mạng còn hạn chế; vẫn còn có những nghĩa trang, công
trình Tổ quốc ghi công liệt sĩ xuống cấp chưa được quan tâm tu bổ, tôn tạo kịp
thời; đời sống của một bộ phận gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với
cách mạng còn khó khăn, nhất là các gia đình ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số; tình trạng làm giả, khai man hồ sơ, trục lợi chính sách vẫn
còn, gây bức xúc trong xã hội…
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên xuất phát từ nhận thức của một
số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên về di huấn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những định hướng của Đảng đối với công tác
thương binh, liệt sĩ chưa thật đầy đủ và sâu sắc, do đó, việc vận dụng, tổ chức
thực hiện trong thực tiễn chưa đạt hiệu quả cao. Hệ thống pháp luật, chính
sách, quy định, hướng dẫn đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công
vẫn còn những bất cập, chưa thật đầy đủ, rõ ràng. Công tác quản lý nhà nước có
mặt còn hạn chế, cải cách hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt
ra; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách đối với
thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng chưa thường xuyên;
việc phát hiện sai sót và xử lý các vi phạm có lúc, có nơi thiếu kiên quyết,
chưa triệt để.
Từ di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách thương binh, liệt sĩ,
những người có công với cách mạng và quan điểm, định hướng của Đảng ta, trong
thời gian tới, để công tác thương binh, liệt sĩ và chính sách đối với những
người có công ngày càng được thực hiện nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả hơn
nữa, cần tập trung vào một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, các cấp ủy đảng
cần nghiêm túc nghiên cứu, quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng; tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước trong thực tiễn; tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về sự hy
sinh, đóng góp to lớn của các thế hệ thương binh, bệnh binh, liệt sĩ và những
người có công với cách mạng; cần nhận thức và xác định rõ việc chăm lo, thực
hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, ưu đãi người có công với
cách mạng là trách nhiệm, bổn phận thiêng liêng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu
dài của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Hai là, coi trọng hơn nữa việc nâng cao
năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác người có công
với cách mạng. Tiếp tục thực hiện Kết luận số 63-KL/TW ngày 27-5-2013 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về việc công nhận
người có công với cách mạng; thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 24-CT/TW ngày
15-5-2013 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh
công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đến năm 2020 và những năm tiếp
theo; thực hiện nghiêm Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 9-12-2020 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về Ưu đãi người có công
với cách mạng; rà soát, tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách đối với
thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, bảo đảm tính thống
nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn.
Nghiên cứu, thực hiện chế độ, chính sách đối với người có công với cách
mạng, người tham gia kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, người
có công giúp đỡ cách mạng Việt Nam đang định cư ở nước ngoài; đẩy mạnh cải cách
hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa
các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương trong thực hiện công tác thương
binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm
công tác này.
Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn
chặn và xử lý nghiêm các vi phạm trong thực hiện pháp luật, chính sách đối với
người có công với cách mạng.
Bên cạnh đó, cần kết hợp tăng ngân sách nhà nước với đẩy mạnh huy
động, đa dạng hóa các nguồn lực xã hội đối với công tác thương binh, liệt sĩ,
người có công với cách mạng; gắn trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền địa
phương, nhất là người đứng đầu trong việc huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả
nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; chú trọng
công tác tôn tạo, tu bổ, chỉnh trang các phần mộ liệt sĩ, nghĩa trang, các công
trình ghi công liệt sĩ; tiếp tục quan tâm hỗ trợ cải thiện nhà ở, xây dựng, cải
tạo, nâng cấp các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng các gia đình thương binh, liệt
sĩ, gia đình có công với cách mạng.
Ba là, chú trọng những mô
hình hay, cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả; huy động các tổ chức, cơ
quan, đoàn thể, và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia công tác thương
binh, liệt sĩ, người có công, với các phong trào “Toàn dân chăm sóc các gia
đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng”, tích cực ủng hộ quỹ
“Đền ơn đáp nghĩa”.
Thường xuyên quan tâm, khích lệ, tôn vinh, biểu dương các thương binh, bệnh
binh và gia đình người có công gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp, tự nỗ
lực vươn lên, khắc phục khó khăn, tiếp tục đóng góp công sức, trí tuệ cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, phát huy hơn nữa vai
trò chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân tham gia công tác chăm sóc
thương binh, bệnh binh, gia đình người có công với cách mạng. Thực hiện tốt
việc giám sát quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đối với thương
binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng; thường xuyên quan tâm, nắm
bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của thương, bệnh binh, người có công với cách
mạng, kịp thời đề xuất, kiến nghị với cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước giải
quyết những vấn đề có liên quan, bảo đảm quyền lợi của thương binh, bệnh binh
và những người có công với cách mạng.
___Nguồn: LLCT___
(1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.579, 579-580, 49.
(4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.335, 456.
(6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.616, 616, 616, 617.
(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.148-149.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét