Những ai đã từng
trải qua môi trường quân ngũ thì không thể không biết đến bếp Hoàng Cầm.
Hoàng Cầm sinh
năm 1916, ở xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Cách mạng Tháng Tám
thành công, ông tham gia tự vệ thành Hà Nội. Năm 1946, toàn quốc kháng chiến
bùng nổ, ông tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội và bị thương. Sau khi được điều
trị khỏi, ông đưa cả gia đình tản cư lên vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) sinh sống.
Đầu năm 1947, Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần) thành lập An dưỡng đường trên núi
Tam Đảo, ông xung phong vào làm việc và nhập ngũ từ đó. Vốn sẵn tay nghề đầu bếp,
ông được phân công làm tổ trưởng nuôi quân, tích cực cùng anh em trong đơn vị
tu sửa cơ sở vật chất do thực dân Pháp để lại thành nơi nghỉ ngơi, an dưỡng,
chăm sóc sức khỏe cho thương binh, bệnh binh. Cuối năm 1948, ông rời An dưỡng
đường Tam Đảo về công tác trong đội phẫu thuật tiền phương. Tháng 8/1949, Sư
đoàn 308 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội ta được thành lập, ông chuyển
về Đội điều trị, Phòng Quân y của Sư đoàn. Chính trong thời gian phục vụ chiến
đấu tại Sư đoàn 308, có điều kiện tham gia nhiều chiến dịch lớn nên ông đã sáng
chế ra chiếc bếp dã chiến có một không hai trên thế giới.
Theo đó, khoảng
16 giờ một ngày giữa tháng 3/1951, đơn vị của ông được lệnh dừng hành quân để nấu
cơm. Tuy nhiên, khi lửa vừa nổi lên đã bị máy bay trinh sát của địch phát hiện,
ào đến trút hàng loạt bom đạn xuống vị trí đóng quân của đơn vị. Do không kịp
phòng tránh, bộ đội bị thương vong nhiều. Cuộc họp rút kinh nghiệm sau đó, Sư
đoàn chỉ ra nguyên nhân chính là do khói bếp đã vô tình dẫn đường cho quân địch.
Sau sự kiện này, tổ anh nuôi của ông và các đơn vị quyết định chuyển sang nấu
ăn vào ban đêm, khi máy bay địch tới thì nhanh chóng dội nước dập lửa. Nhưng
làm như vậy cơm thường bị khê, sống, bộ đội ăn không bảo đảm sức khỏe. Rớt nước
mắt vì thương đồng đội, Tổ trưởng Tổ nuôi quân Hoàng Cầm trằn trọc suốt mấy đêm
liền, tự nhủ phải tìm ra cách “trị” khói, để bảo đảm an toàn cho bộ đội. Một buổi
sáng, đi dạo bên bờ suối, nhìn làn khói lượn lờ quanh mái bếp nhà dân, ông chợt
nảy ra ý tưởng làm một kiểu bếp dã chiến có thể nấu nướng vào cả ban ngày lẫn
ban đêm mà không sợ máy bay địch phát hiện. Ông miệt mài nghiên cứu, vừa vẽ sơ
đồ, vừa hì hục đào hàng chục cái bếp khác nhau, rồi đặt nồi lên từng bếp, chất
củi đun thử, kết quả lửa vẫn lộ, khói vẫn phảng phất bay lên. Đang rơi vào bế tắc,
ông chợt nhớ đến những ngày còn nhỏ cùng các bạn trong xóm đi hun chuột. Lúc bó
rơm cháy ở ngoài, khói cay xè mắt, nhưng khi quạt vào hang chuột, khói chỉ còn
là những làn sương mỏng, bay là là sát mặt đất. Ngay lập tức, ông ra phía sau
doanh trại đào, đắp, để chế ra chiếc bếp dã chiến theo kiểu hang chuột. Đó là
loại bếp dã chiến được đào sâu vào lòng đất, có hầm phụ chứa khói và các rãnh
thoát khói ra 3 phía. Trên các đường rãnh được phủ thêm nhiều cành cây, cỏ
tươi. Khi đốt lửa, khói tỏa theo các đường rãnh, thấm vào lớp đất mỏng, lại gặp
cành cây nên khi bốc lên chỉ thoảng nhẹ như hơi sương. Vẫn chưa thật yên tâm, ông
tiếp tục đào thêm nhiều chiếc bếp dã chiến khác, thử đi thử lại nhiều lần, vừa
làm vừa cùng đồng đội bàn bạc, chỉnh sửa, rút kinh nghiệm. Mỗi người góp một ý,
cuối cùng chiếc bếp dã chiến đã ra đời theo ý muốn và nhanh chóng được phổ biến
khắp các đơn vị trong toàn quân. Bếp dã chiến do ông sáng tạo rất phù hợp với bộ
đội thời chiến, kín lửa, khói không bốc cao, anh nuôi nấu ăn cả ngày, cả tối,
không sợ máy bay địch phát hiện. Tháng 10/1952, đơn vị đã quyết định lấy tên
người chiến sĩ sáng tạo ra chiếc bếp dã chiến ấy để đặt tên: Bếp Hoàng Cầm.
Cũng từ ấy, bếp Hoàng Cầm dần trở nên thân thuộc với bộ đội qua từng chiến dịch.
Các chiến sĩ được phục vụ cơm dẻo, canh nóng ngay tại chiến hào, sát nách quân
địch mà vẫn không bị phát hiện. Với thành tích xuất sắc này, Hoàng Cầm được bầu
là Chiến sĩ thi đua của Sư đoàn, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng
Nhì, được báo công với Bác Hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc
lần thứ nhất, ngày 01/5/1952, tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
Quang. Cũng tại Đại hội này, anh nuôi Hoàng Cầm vinh dự được Bác Hồ tặng một
chiếc đồng hồ đeo tay.
Sau Chiến thắng
Điện Biên Phủ, bếp Hoàng Cầm tiếp tục theo chân chiến sĩ ta vượt qua các trọng
điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ trên con đường Trường Sơn huyền thoại, có
mặt trong các chiến dịch lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng các
cánh quân tiến thẳng hướng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Kết thúc cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thiếu úy Hoàng Cầm được tặng thưởng Huân chương
Kháng chiến hạng Nhì và nhiều bằng khen của các cấp. Ngày 12/3/1996, ông qua đời,
thọ 80 tuổi, sau đó được truy thăng quân hàm Đại úy./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét