Tuyên ngôn độc lập là kết tinh tâm nguyện, tư tưởng, kết quả hành trình tìm đường cứu nước từ Nguyễn Ái Quốc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự thống nhất giữa tư tưởng và những nỗ lực không mệt mỏi, những quyết định chính xác, kịp thời của Người trong đấu tranh cách mạng và thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam; thể hiện tầm tư duy khoa học sắc sảo, độc đáo của Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất được UNESCO vinh danh.
Tuyên ngôn độc lập không chỉ có vai trò, ý nghĩa lịch sử vô
cùng quan trọng trong việc hợp pháp thành quả giành chính quyền trong cả nước của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà còn kịp thời tuyên bố trước công luận Chính phủ
lâm thời do Người đứng đầu là một chính phủ hợp pháp (với vị thế của những người
làm chủ đất nước có đủ tư cách đón tiếp quân Đồng minh vào Việt Nam) sau đó
không lâu. Nếu để chậm một vài ngày thôi thì cơ hội này sẽ không bao giờ trở lại.
Tuyên ngôn cũng không chỉ khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, mà còn kết tinh biết bao
máu xương, nước mắt của các thế hệ người dân Việt Nam yêu nước, đồng thời cũng
chứng minh rằng: Với đường lối, chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh; với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biết
tạo dựng thế và lực; biết chớp đúng thời cơ, tranh thủ, phát huy sức mạnh dân tộc
và sức mạnh thời đại, nhân dân Việt Nam đã vùng lên lật đổ ách thống trị, thủ
tiêu toàn bộ chế độ thực dân, phong kiến và tên đất nước Việt Nam đã hòa mình
vào dòng chảy chung của “bản đồ chính trị thế giới”.
Vì thế, Tuyên ngôn không chỉ góp phần làm rạng rỡ lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta, mà còn là minh chứng cho thấy cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng “đã chứng
minh rằng không thể có sự chung sống và hoà hợp giữa người dân thuộc địa và bọn
thực dân. Để giành lại nhân phẩm, giành lại bản sắc dân tộc đã bị tha hoá, tất
cả các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa phải dùng bạo lực cách mạng đập tan
ách thống trị của chủ nghĩa thực dân”. Đồng thời, cũng cho thấy rằng lịch sử
nhân loại ghi nhận lần đầu tiên xuất hiện tuyên ngôn về sự ra đời một nhà nước
kiểu mới do Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc
lãnh đạo. Vì thế, về bản chất, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh
không chỉ khác mà còn đối lập về nguyên tắc với các bản tuyên ngôn của nhà nước
tư sản trong tiến trình lịch sử.
Đặc biệt, với những bổ sung, phát triển tư tưởng quyền con
người thành quyền của một dân tộc/của tất cả các dân tộc cần/phải/được sống
trong độc lập, tự do, hạnh phúc, có thể thấy Tuyên ngôn độc lập là sự tiếp biến
và vượt gộp tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền của các dân tộc. Tư
tưởng đó của Người mang hơi thở thời đại, phản ánh xu thế tất yếu của thời đại
- thời đại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển và tôn trọng luật pháp
quốc tế; trong đó mọi người, mọi dân tộc đều có “quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do” và nếu bị tước đoạt/xâm phạm thì cần phải đấu tranh để giành lại.
Vì thế, có thể nói Tuyên ngôn độc lập không chỉ là tuyên bố trước thế giới về sự
ra đời của một nước Việt Nam “mới”- độc lập, tự do mà còn là một tuyên ngôn về
quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh vì một sự
giải phóng hoàn toàn khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.
Từ Ba Đình lịch sử 78 năm trước, Tuyên ngôn độc lập của Chủ
tịch Hồ Chí Minh không chỉ vang vọng khắp non sông, đất nước cho đến mãi muôn đời
sau, mà còn trở thành nguồn sức mạnh nội lực nâng bước toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân Việt Nam kiên cường đấu tranh, giành thắng lợi trong các cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp; chống Mỹ, cứu nước cũng như các cuộc chiến tranh bảo
vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc của Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội những
thập niên sau đó. Trên hành trình hướng đến tương lai tươi sáng, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, có thể thấy nguồn sức mạnh của tinh thần, ý chí độc lập, tự do được
trao truyền suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; những
thành tựu, những bài học kinh nghiệm lịch sử trong cuộc cách mạng giải phóng vì
“nền độc lập của đất nước, là việc thiết lập một chế độ nhân dân nhằm chấm dứt
tình trạng bóc lột và suy đồi do chế độ thực dân nuôi dưỡng” được khẳng định
trong Tuyên ngôn độc lập cũng sẽ tiếp tục cổ vũ nhân dân Việt Nam vượt qua mọi
khó khăn, thách thức để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày càng phồn
vinh, trường tồn.
Chào đón mọi cơ hội và thuận lợi, đối diện và hóa giải mọi
thử thách, một đất nước Việt Nam hồi sinh sau bao mất mát, hy sinh trong những
năm dài chiến tranh càng trân trọng hơn giá trị của độc lập, tự do; nhân dân Việt
Nam càng quyết tâm và nỗ lực hơn để xây dựng, bảo vệ một nước Việt Nam hòa
bình, độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vì thế, thế giới có thể
đổi thay, song âm hưởng và hào khí của Tuyên ngôn độc lập vẫn sẽ mãi vang vọng;
ý nghĩa lịch sử và giá trị hiện thực của văn bản pháp lý đặc sắc này cũng sẽ vẫn
trường tồn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét