“Sức
mạnh mềm” là một trong những yếu tố quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp để
phát triển kinh tế - xã hội. Bài viết phân tích các yếu tố và đề xuất một số
giải pháp góp phần xây dựng, phát huy “sức mạnh mềm” của Việt Nam trong giai
đoạn cách mạng hiện nay.
Hiện
nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, mặc dù hòa bình,
hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song vẫn đang đứng trước nhiều trở
ngại, khó khăn, nhất là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; chủ nghĩa
dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong
quan hệ quốc tế gia tăng; nhiều vấn đề toàn cầu đang diễn biến phức tạp, nhất
là bảo vệ hòa bình, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… Bên cạnh đó, cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều
lĩnh vực, có cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc, trong đó
có Việt Nam. Để tranh thủ được những nhân tố thuận lợi, khắc phục những tác
động bất lợi, chúng ta cần xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó đặc
biệt coi trọng “sức mạnh mềm”.
Trải
qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khơi dậy và
phát huy “sức mạnh mềm”, kết hợp linh hoạt giữa “sức mạnh mềm” với “sức mạnh
cứng” tạo thành sức mạnh tổng hợp. “Sức mạnh mềm” của Việt Nam được tạo dựng
trên các yếu tố truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đặc biệt là các giá trị
cốt lõi như truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng tự hào, tự tôn dân
tộc; thể chế chính trị; đường lối đối ngoại linh hoạt… Vận dụng, phát huy sức
mạnh mềm là một trong những nét đặc trưng, “nghệ thuật” dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay,
khơi dậy và phát huy “sức mạnh mềm” là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần và ý chí quyết tâm
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát
huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”(1).
Quán
triệt quan điểm của Đảng vào phát huy “sức mạnh mềm” góp phần hiện thực hóa
khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn hiện nay,
đòi hỏi chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp trọng tâm sau:
Thứ
nhất, nhận thức rõ tầm quan trọng của phát huy “sức mạnh mềm” đối với việc hiện
thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
“Sức
mạnh mềm” là khả năng tạo ra sức mạnh bằng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục,
động viên, khuyến khích, nhằm hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút đối phương khiến họ
tin tưởng, tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách phù hợp với điều mình muốn.
“Sức mạnh mềm” có giá trị mang tính cảm hóa, tạo khả năng quy tụ, tập hợp lực
lượng, sự đoàn kết, thống nhất, đồng lòng, tạo nên sức mạnh dân tộc. Trong bối
cảnh toàn cầu hóa, “sức mạnh mềm” ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc
giữ vững ổn định quốc gia, tăng cường hội nhập quốc tế cũng như phát huy vị
thế, tầm ảnh hưởng của quốc gia đó trên thế giới. Việc sử dụng “sức mạnh cứng”
như uy hiếp, can thiệp về quân sự, ép buộc bằng kinh tế... để giải quyết mâu
thuẫn, nhằm đạt được mục đích nhiều khi không hiệu quả, thường vấp phải sự phản
ứng của cộng đồng quốc tế, thậm chí làm suy giảm vị thế, uy tín, hình ảnh của
quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Trong
lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã khéo léo phát huy sức mạnh
mềm, kết hợp linh hoạt sức mạnh mềm với sức mạnh cứng tạo thành sức mạnh tổng
hợp. Trong sức mạnh mềm, chúng ta chú trọng khơi dậy và phát huy mạnh mẽ sức
mạnh của nền văn hóa, truyền thống lịch sử hào hùng, tính chính nghĩa, khát
vọng độc lập, thống nhất của dân tộc ta, gắn với xu thế, ước vọng của các dân
tộc về hòa bình, tự do, bình đẳng, bác ái. Chính nền tảng lịch sử hào hùng cùng
nền văn hiến, truyền thống hòa hiếu và nhân nghĩa là những nhân tố “mềm” góp
phần quan trọng để chúng ta thu phục tình cảm, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi,
chí nghĩa của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đã làm nên những thắng
lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.
Hiện
nay, tình hình thế giới đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó
lường chưa từng có trong tiền lệ, vượt quá khả năng dự báo của các nước và các
tổ chức quốc tế, tác động không nhỏ đến các quốc gia, trong đó có Việt Nam,
chính vì lẽ đó chúng ta càng phải đặc biệt coi trọng khơi dậy, phát huy “sức
mạnh mềm”, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đưa nước ta vượt qua khó khăn, thử
thách, hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra đến
năm 2045: “Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, thuộc nhóm các
nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á”(2).
Thứ
hai, phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc để trở thành sức mạnh nội sinh
thúc đẩy sự phát triển bền vững đất nước.
Phát
huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc có ý nghĩa quan trọng nhằm làm cho
văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất
nước. Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc
của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn”(3). Để khơi dậy, phát huy truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục thúc
đẩy và lan tỏa những giá trị cốt lõi như: truyền thống yêu nước, lòng tự hào,
tự tôn dân tộc của mỗi cá nhân, của cả cộng đồng; ý chí khát vọng vươn lên,
sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước
giàu mạnh, phồn vinh, hùng cường.
Xây
dựng con người Việt Nam thời kỳ mới với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn
với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp
những giá trị truyền thống với giá trị thời đại. Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức,
lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ,
hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước,
với xã hội”(4). Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa là
người dân; tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hóa của các dân tộc, các vùng,
miền; phát triển các phong trào văn hóa sâu rộng, thực chất; cải thiện điều
kiện, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân, bảo đảm sự công bằng. Đề
cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, những người
làm công tác văn hóa. Chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa,
về đạo đức; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng
văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng
viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu. Tận dụng khai thác hiệu
quả sức mạnh của công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đẩy mạnh các hoạt
động truyên truyền về truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc, quảng bá hình
ảnh đất nước, con người Việt Nam trong lịch sử và hiện tại.
Thứ ba,
khơi dậy và phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người với ý chí, nghị lực, hoài bão
và khát vọng cống hiến.
Qua 37
năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta khẳng
định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc
tế như ngày nay”(5). Những thành tựu đó là cơ sở, tiền đề quan trọng để chúng
ta khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khẳng định ý
chí quyết tâm, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu
“đến năm 2045, kỷ niệm 100 thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập
cao”(6). Tầm nhìn này chỉ ra định hướng, đồng thời cũng vạch ra lộ trình quan
trọng để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phát huy trách nhiệm, đóng góp trí
tuệ, sức lực và tài năng, nỗ lực phấn đấu, hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam
trở thành một nước có trình độ phát triển cao.
Để hiện
thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong bối cảnh hiện
nay, đòi hỏi chúng ta cần khơi dậy và phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người với
ý chí, nghị lực, khát khao cống hiến, phải thực sự lấy Nhân dân là trung tâm,
là chủ thể để mỗi người trong xã hội, trong cộng đồng biết gắn trách nhiệm cá
nhân với tập thể, xã hội, có ý thức phát huy khả năng của mình đóng góp cho sự
phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, phải khơi dậy và phát huy tốt các nguồn
lực, tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của Nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ưu tiên phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và
các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất
lượng giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh và thúc đẩy, đa dạng hóa các loại hình và
hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ,
đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, khắc phục một số hạn chế trong công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó có những nội dung như, việc thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng ở không ít nơi chưa nghiêm; thiếu tính
chiến đấu trong tự phê bình và phê bình; công tác quản lý, rèn luyện đảng viên
chưa chặt chẽ; việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên chưa thực
chất...
Thứ tư,
xây dựng, củng cố và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ
của Nhân dân.
Dân chủ
xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời là
phương thức để thực hiện quyền lực của Nhân dân trong quản lý nhà
nước và tổ chức đời sống xã hội. Xây dựng, củng cố và phát huy dân chủ
xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân phản ánh rõ nét bản chất
ưu việt, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, đồng thời là nhân tố quan trọng
tạo ra “sức mạnh mềm” góp phần vào giữ vững sự ổn định, phát triển và thịnh
vượng của đất nước.
Để đi
lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước,
cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phải xây dựng thành công nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bởi vì dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển,
không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác
định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển đất nước”(7).
Để phát
huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, cần tiếp tục
cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ, bảo đảm tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về Nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ
đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện có hiệu quả phương châm: “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(8). Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của
Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy trí tuệ, quyền và trách nhiệm của Nhân dân tham gia
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xử lý
kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ làm mất ổn định
chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của
Nhân dân.
Thứ
năm, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.
Việc
thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn đã góp phần quan trọng để Việt Nam kết
hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức
mạnh quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu
rộng với thế giới, tạo nên những lợi thế và vị thế mới cho sự phát triển của
đất nước. Để phát huy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa
dạng hóa, cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo
lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài
để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia, dân tộc. Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không
ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(9).
Kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; triển khai mạnh mẽ, tích cực ngoại giao
toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và
đối ngoại nhân dân. Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa
phương toàn diện về chủ thể, địa bàn, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, thông tin đối ngoại và người Việt Nam ở nước
ngoài. Tích cực tham gia có trách nhiệm và hiệu quả tại các tổ chức, diễn đàn
đa phương, qua đó tận dụng ý tưởng, trí tuệ, nguồn lực cho phát triển đất nước
và nâng cao vị thế, vai trò, xây dựng hình ảnh Việt Nam là thành viên tích cực
và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Tranh thủ tối đa các nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đề cao tinh thần yêu chuộng hòa
bình, tinh thần hòa hiếu trong quan hệ quốc tế, cả song phương và đa phương, để
Việt Nam thực sự là điểm đến hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét