Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh thực hiện chiến
lược “diễn biến hòa bình” và sử dụng những phần tử cơ hội chính trị để chống
phá cách mạng Việt Nam, hòng tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Do vậy,
cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” giữ vững ổn định chính trị, bảo
vệ Đảng, bảo vệ chế độ phải gắn chặt với cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống
các phần tử cơ hội chính trị. Bài viết góp phần nhận diện và đấu tranh phòng,
chống “diễn biến hòa bình” và cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay
1. Chiến lược “diễn biến hòa bình” và cơ hội chính trị
Nguồn gốc chiến lược “diễn biến hòa bình” là do sau Chiến
tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc nhận thấy có thể thực hiện một cuộc tấn
công bằng các nhân tố gây bất ổn ngay trong lòng CNXH sẽ làm sụp đổ các nước
XHCN. Do vậy, cùng với “Chiến tranh lạnh”, chủ nghĩa đế quốc đẩy mạnh cuộc chiến
tranh tư tưởng, tuyên truyền chống phá CNXH. Phương thức mới này được gọi là
“diễn biến hòa bình” hay “chuyển hóa hòa bình”.
Cụm từ “diễn biến hòa bình” xuất hiện ở thời kỳ đầu của Chiến
tranh lạnh khi Ngoại trưởng Mỹ Akisơn nhận thấy sự thất bại của Mỹ trong việc
can thiệp quân sự đối với các nước XHCN. Chiến lược “diễn biến hòa bình” là
khái niệm chỉ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực đế quốc,
phản động sử dụng nhằm tạo ra và ủng hộ lực lượng chống đối, phản cách mạng
ngay trong lòng các nước XHCN, hòng lật đổ chế độ XHCN mà không cần can thiệp bạo
lực từ bên ngoài. Đây là “chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của
các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu
bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng
đầu là Mỹ tiến hành”.
Những năm 1947-1988 là giai đoạn thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình” để ngăn chặn sự phát triển của CNXH. Trong đó, chủ nghĩa đế quốc
đã lợi dụng khó khăn ở một số nước XHCN để kích động bạo loạn (Hunggari năm
1956, Tiệp Khắc năm 1968)... Những năm 1989-1993, Chiến lược “diễn biến hòa
bình” gắn liền với chiến lược “vượt trên ngăn chặn” để xóa bỏ CNXH. Từ năm 1993
đến nay là giai đoạn đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tiến
hành “Cách mạng màu” hòng xóa bỏ hoàn toàn CNXH.
Bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay
là “hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền, nhằm vào các
nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng
hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an
ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo một quỹ đạo có lợi
cho họ”. Bản chất đó thể hiện rõ tính chất phản cách mạng: chính trị phản động,
dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu hóa, phi vũ trang. Theo đó, những biến thái mới của
“diễn biến hòa bình” thời gian gần đây là:
1) Chủ thể thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” không chỉ
là các thế lực thù địch, các nước đế quốc tư bản mà còn có cả các nước theo chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi, bành trướng và bá quyền. Theo đó, động cơ chính trị của
“diễn biến hòa bình” đã chuyển từ hoạt động chống phá về ý thức hệ là chính
sang trọng tâm tấn công vì lợi ích dân tộc cục bộ là chính.
2) Mục tiêu chủ yếu của “diễn biến hòa bình” thời gian gần
đây là làm thay đổi nhận thức, gây mơ hồ về tính chất quốc gia, dân tộc, chế độ
chính trị của các nước theo hướng có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và cường quyền
vì lợi ích địa - chính trị và địa - kinh tế thay vì mục tiêu chính trị cực
đoan.
3) Phương thức “diễn biến hòa bình” đã chuyển sự chống phá từ
bên ngoài vào bên trong các nước sang thúc đẩy các hoạt động chống đối ngay từ
bên trong nội địa, nội bộ và tại chỗ là chính.
4) Các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” đã được đẩy lên
đỉnh cao, đến mức có thể coi là một “công nghệ”, đó là “công nghệ lật đổ”, với
kịch bản gồm: hình thành lực lượng đối lập sẵn sàng cho một cuộc bầu cử; đẩy mạnh
truyền thông kích động trong các cuộc bầu cử; tẩy chay hoặc không công nhận kết
quả bầu cử nếu phe đối lập không chiến thắng; tổ chức cho các đối tượng nhẹ dạ
cả tin, những đối tượng chống đối xuống đường, cộng hưởng bởi các phương tiện
truyền thông gây ra bạo lực đường phố; can thiệp từ bên ngoài vào với danh
nghĩa ủng hộ “những chiến sĩ đấu tranh vì dân chủ” bởi lý do “có gian lận trong
bầu cử”; sử dụng công cụ thông tin và ngoại giao gây sức ép với chính quyền mới
được bầu và ép buộc từ chức, giải tán, hoặc quốc hội buộc tuyên bố bãi bỏ kết
quả bầu cử; tuyên bố thắng lợi và công khai ủng hộ, công nhận chính phủ mới
thân phương Tây.
5) Gây sức ép kinh tế - tài chính và tấn công mạng thông tin
là hai phương thức nổi lên của các thế lực thù địch, phản động, cường quyền đối
với các nước nhỏ. Do đó, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội và các tổ chức phi
chính phủ để gieo mầm, thúc đẩy “xã hội dân sự”, kích động sự phản kháng của
các phần tử chống đối, biểu tình lật đổ chế độ.
Chiến lược “diễn biến hòa bình” và chủ nghĩa cơ hội chính trị
có mối quan hệ mật thiết, cộng sinh với nhau, nó càng thêm “nhựa sống” khi được
những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cộng sức. Bởi vậy, cùng với việc
nhận diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, cần
chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị trong bối cảnh hiện nay.
Chống chủ nghĩa cơ hội chính trị để xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh,
nâng cao tính tiền phong, tính chiến đấu của tổ chức đảng.
Chủ nghĩa cơ hội có nguồn gốc từ mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu
tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư
tưởng tư sản, giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Chừng nào còn tồn tại cuộc đấu
tranh này thì vẫn còn cơ sở cho chủ nghĩa cơ hội tồn tại. Trong phong trào cách
mạng vô sản, chủ nghĩa cơ hội chính trị thể hiện sự thỏa hiệp, cải lương, hợp
tác vô nguyên tắc, trái với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Trên thực tế, tồn tại chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh (có tính chất cải
lương, thiên về thỏa hiệp, muốn “cải biến” một cách hòa bình chủ nghĩa tư bản
thành CNXH, từ bỏ đấu tranh giành thắng lợi thực sự về tay giai cấp công nhân)
và chủ nghĩa cơ hội “tả” khuynh biến chủ nghĩa Mác thành một giáo lý chết cứng,
cứng nhắc, không sáng tạo (tồn tại trong các Đảng công nhân thời Quốc tế II cho
đến tận ngày nay). Dù là chủ nghĩa cơ hội hữu hay “tả” khuynh đều đẩy phong
trào công nhân đi đến hy sinh vô ích và thất bại. Những người sa vào chủ
nghĩa cơ hội tìm cách thỏa hiệp quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung
dung giữa những quan điểm đối chọi nhau. Do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời
nói bóng gió và giả thiết trống rỗng; là lời nói không đi đôi với việc làm.
Chủ nghĩa cơ hội chính trị và những kẻ cơ hội chính trị được
Hồ Chí Minh gọi tên là “bọn hoạt đầu”. Chủ nghĩa cơ hội chính trị là kẻ thù
bên trong, tồn tại với rất nhiều đặc điểm và rất nguy hiểm, phá hoại Đảng, phá
hoại phong trào cách mạng từ bên trong. Chúng ta cần nhận rõ nguồn gốc nảy
sinh, sự phát triển, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị để có các giải
pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực.
2. Nhận diện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn
hóa và biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay
Biểu hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn
hóa
Hiện nay, “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn
hóa là mũi đột phá trong âm mưu chiến lược của các thế lực thù địch, tấn
công vào hệ tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng và đời sống văn hóa, tinh
thần xã hội Việt Nam, hòng xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, xóa bỏ những giá trị
truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Về mục tiêu, tùy theo tình hình, thời điểm mà các thế lực thù
địch tập trung thực hiện mục tiêu cụ thể, nhưng về cơ bản, chúng đều thực hiện
mục tiêu làm rối loạn, mất ổn định chính trị, dao động về tư tưởng, dẫn đến mất
phương hướng, tiến tới xóa bỏ, hoặc xa rời, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Về nội dung, các thế lực thù địch phủ nhận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh các lãnh tụ cộng sản,
lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta; phủ nhận,
xuyên tạc giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc...
Về phương thức, như: Bôi nhọ, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn về
một số sự việc; phản ánh một chiều, phiến diện, thổi phồng, bóp méo sự thật;
xây dựng ngọn cờ; sử dụng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý; sử dụng các kênh
truyền thông, nhất là phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là mạng xã hội,
các loại hình văn học, nghệ thuật để tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch
vào trong nước; lợi dụng xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam để
chống phá cách mạng Việt Nam.
Biểu hiện chủ nghĩa cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay
Trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, có cơ
hội hữu khuynh và “tả” khuynh. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh là sự sùng bái phong
trào tự phát, từ bỏ cách mạng XHCN, phủ nhận giai cấp công nhân giành chính quyền.
Còn chủ nghĩa cơ hội “tả” khuynh là sự kết hợp hỗn tạp phương châm cách mạng cực
đoan và phiêu lưu dựa trên cơ sở quan niệm duy ý chí về sức mạnh tuyệt đối của
bạo lực cách mạng. Về hình thức bề ngoài có vẻ đối lập nhau, nhưng bản chất giống
nhau.
Ở nước ta, khi nói đến cơ hội chính trị và các phần tử cơ hội
chính trị là chỉ những người có quá trình tham gia hoạt động cách mạng, ít nhiều
có công lao đóng góp cho cách mạng, nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng
vì những điều kiện hoàn cảnh lịch sử khác nhau, lợi ích cá nhân của bản thân họ
không được đáp ứng, họ tỏ ra bất mãn, bi quan, dao động, xuất hiện tư tưởng,
quan điểm mơ hồ, lệch chuẩn.
Trên thực tế, đối tượng cơ hội chính trị không chỉ giới hạn ở
những cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị bị tha hóa mà còn cả những phần
tử chống đối, phản cách mạng từng bị xử lý kỷ luật, nuôi tham vọng chờ cơ hội
phục thù; những trí thức, văn nghệ sỹ, thậm chí có cả một bộ phận trí thức trẻ
thiếu tu dưỡng rèn luyện, nặng về hưởng thụ, lãng quên trách nhiệm với cộng đồng...
Khi cách mạng thuận lợi thì họ tỏ ra rất “cấp tiến”, khi cách mạng gặp khó khăn
thì họ thoái lui, thỏa hiệp, công kích vào Đảng.
Có thể chia thành các nhóm: 1) Nhóm cơ hội chính trị đang là
cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan Quân đội, Công an, văn nghệ sỹ, trí thức,
nhà báo, nhà văn, nhà thơ,... hiện đang làm việc trong các cơ quan của Đảng,
Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đoàn thể... được Nhà nước
trả lương từ ngân sách nhưng trong cuộc họp nói một đằng, ngoài cuộc họp nói
khác, nói một đằng, làm một nẻo... 2) Nhóm cơ hội chính trị là các đối tượng
nêu trên nhưng đã nghỉ hưu sống bằng lương hưu, thậm chí có người bỏ Đảng, bỏ
chế độ hưu, công khai đối lập với Đảng, ra mặt công kích chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi ích của xã hội... 3) Nhóm cơ hội chính trị
gồm các phần tử chống đối, bất mãn (có cả những người của hai nhóm trên); các đối
tượng có hận thù với cách mạng, viên chức chế độ cũ đã bị cách mạng cải tạo, xử
lý nhưng vẫn nuôi tham vọng phục thù, lợi dụng các yếu tố thời cuộc bất lợi, cấu
kết với các thế lực thù địch tìm mọi cách kết nối thành hội, nhóm, manh nha
hình thành các tổ chức phản động, chống phá sự nghiệp cách mạng. 4) Nhóm cơ hội
chính trị là người có uy tín trong cộng đồng dân tộc ít người, chức sắc tôn
giáo có tư tưởng chính trị cực đoan, tìm cách triệt để khai thác các vấn đề
chính trị, xã hội trong nước, móc nối, tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực
bên ngoài, tìm cách phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, mưu toan tạo phản, lật đổ
chế độ, đưa tôn giáo vào chính trị và nuôi dưỡng ý tưởng ly khai, lập nhà nước
riêng.
Thủ đoạn của các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa
bình” và sử dụng các phần tử cơ hội chính trị để chống phá cách mạng Việt Nam
Một là, chúng sử dụng các phương tiện thông tin đại
chúng, mạng Internet, sách báo, tạp chí từ nước ngoài, sử dụng các đài phát
thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, nhiều tờ báo và tạp chí tiếng Việt,
nhà xuất bản để tuyên truyền xuyên tạc, chống cách mạng Việt Nam; dùng điện thoại
trực tiếp phỏng vấn, kích động, tâng bốc, lôi kéo một số người có quan điểm sai
trái, thù địch.
Hai là, Mỹ và các nước phương Tây sử dụng các tổ chức phản
động người Việt lưu vong ở nước ngoài, vừa lôi kéo tập hợp lực lượng, vừa tiến
hành các hoạt động bạo loạn hòng gây ra tình hình mất ổn định ở Việt Nam; một số
tổ chức phản động đang ráo riết móc nối với phần tử cơ hội chính trị trong nước
dựng lên “ngọn cờ” chống Đảng, hình thành tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt
Nam dưới hình thức “nhóm nối kết”, “tập hợp dân chủ đa nguyên”... Trên cơ sở đó
từng bước công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập, chờ thời cơ để lật đổ
chính quyền.
Ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc
và tôn giáo, để gây sức ép về chính trị, chia rẽ nội bộ, kích động hận thù,
hình thành xu hướng ly khai đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; lợi dụng chiêu
bài: “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của
Việt Nam; nhìn nhận tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối
trọng” với Đảng Cộng sản; cho rằng “chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng hùng hậu
nhất cuối thế kỷ XX có thể sử dụng làm sụp đổ hệ thống XHCN”. Do vậy, họ khuyến
khích, nuôi dưỡng các đối tượng phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gia
tăng hoạt động, tuyên truyền chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước
đồng minh, các tổ chức phi chính phủ (NGO), qua các hình thức giao lưu, hợp tác
về văn hóa, khoa học, giáo dục… để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, chuyển
hóa chính trị, mua chuộc cán bộ; móc nối với những người nắm giữ bí mật quốc
gia. Chúng mời đích danh một số người thuộc lớp trẻ mà chúng cho là có tư tưởng
cấp tiến sang phương Tây tham quan, nghiên cứu để tuyên truyền, quảng bá nền
dân chủ của phương Tây. Ngoài ra, chúng có nhiều hoạt động can thiệp sâu vào
công việc nội bộ của ta như tổ chức nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo nhằm tuyên
truyền, quảng bá cho các giá trị phương Tây.
Năm là, chúng tăng cường móc nối với một số đối tượng cơ
hội chính trị chống đối Việt Nam, tìm “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng, hình
thành phe phái, tiến tới hình thành đảng đối lập ở Việt Nam. Chúng thực hiện
các hoạt động như viết và tán phát các tài liệu dưới danh nghĩa góp ý kiến, nhật
ký, đối thoại, thư khẩn, lời kêu gọi... nhưng thực chất là tìm cách liên kết với
nhau mở các chiến dịch chống phá Đảng, Nhà nước bằng các hình thức khác nhau.
Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế
lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện của chủ
nghĩa cơ hội chính trị là cơ sở quan trọng để có giải pháp phù hợp, kịp thời đấu
tranh, phòng chống.
3. Giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và
biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị
Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, giữ vững ổn định
chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ không thể tách rời với đấu tranh không
khoan nhượng với các phần tử cơ hội chính trị. Đây phải được xem là một nhiệm vụ
chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, đấu tranh
phòng, chống chủ nghĩa cơ hội chính trị là yêu cầu khách quan, đòi hỏi phải gắn
chặt với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, cần tập trung vào một số giải
pháp cơ bản sau đây:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy
và người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền trong đấu tranh phòng, chống “diễn
biến hòa bình” và chủ nghĩa cơ hội chính trị.
Nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị của các cấp ủy, người đứng
đầu địa phương, cơ quan, đơn vị, cấp ủy, chi bộ để làm chỗ dựa nâng cao nhận thức,
giác ngộ chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bởi vì, đây là các chủ thể
lãnh đạo, quản lý, tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và chống
cơ hội chính trị. Thực tiễn cho thấy, ở địa phương, cơ quan, đơn vị nào mà cấp ủy
đảng, người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng xem xét, phân
tích, đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa
bình”, “cơ hội chính trị” thì ở đó tạo được sự thống nhất về tư tưởng, hành động;
cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân đủ sức chủ động phòng ngừa,
giải quyết tốt, có hiệu quả ngăn chặn những hành động chống phá của các thế lực
thù địch.
Muốn vậy, cần đặc biệt coi trọng tuyên truyền, giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cho
mỗi cán bộ, đảng viên thấu suốt đường lối chính trị của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; có nhận thức đúng đắn về con đường đi lên CNXH; nhạy cảm
chính trị, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, biểu hiện của chủ
nghĩa cơ hội chính trị; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn,
không để gây ra hậu quả.
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đi đôi với
phát huy vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính
trị - xã hội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và cơ hội chính
trị.
Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước có vai trò cực kỳ
quan trọng, quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng; bảo đảm cho mọi
cán bộ, đảng viên tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và sự nghiệp cách mạng của
dân tộc, trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn kiên định mục tiêu,
lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Trong đó, cần tập trung vào các nội dung như: Nâng cao năng lực
hoạch định đường lối, chính sách và chỉ đạo các hoạt động đấu tranh; xây dựng bộ
máy nhà nước, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; củng cố, phát huy vai trò của
các cấp chính quyền; xây dựng và phát huy vai trò các tổ chức chính trị - xã hội
trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cơ hội chính trị. Cần nhanh
chóng sàng lọc, phát hiện và sớm đưa ra khỏi bộ máy những phần tử cơ hội chính
trị.
Tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, bố trí sử
dụng hợp lý đội ngũ cán bộ trong điều kiện mới. Đẩy mạnh và kiên trì giải pháp
giáo dục chính trị, tư tưởng và tăng cường công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng
viên cả trong và ngoài hệ thống chính trị. Kiên trì thực hiện nhất quán chính
sách tôn vinh và đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng.
Ba là, xây dựng, kiện toàn ban tuyên giáo, ban chỉ đạo
35 các cấp vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nòng cốt, huy động đội
ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, xây dựng “thế trận lòng dân” tham gia đấu tranh
phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cơ hội chính trị.
Rà soát hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng từ Trung ương đến địa phương; khắc phục sự chồng chéo, xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ cho từng tổ chức, giữa bộ máy lãnh đạo của Đảng và quản
lý nhà nước. Việc thực thi trách nhiệm phải được giám sát bằng quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, quy tắc chuẩn mực, lương tâm nghề nghiệp.
Đẩy mạnh đổi mới cơ chế, chính sách trong việc phát hiện, tuyển
chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút người tài, người có bản lĩnh, kinh nghiệm để
tạo ra một lực lượng cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đủ về
số lượng, mạnh về chất lượng, có sự trao truyền, nối tiếp giữa các thế hệ. Tạo
môi trường hấp dẫn (về điều kiện làm việc, chính sách tiền lương, nhà ở...) để
người tài yên tâm công tác, tâm huyết với nghề, có nhiều đóng góp vào công tác
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống âm mưu chống phá của các thế lực
thù địch. Xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể trong việc nhận diện những nhóm, đối
tượng chống phá, thù địch.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đấu
tranh ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
tham nhũng, lãng phí; nâng cao tính gương mẫu trong cán bộ, đảng viên, nhất là
người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động
đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất việc tổ chức
thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của
Đảng, của cấp ủy cấp trên và của cấp mình, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trong đó, chú trọng tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai kết quả kiểm
tra, giám sát, xử lý các khuyết điểm, vi phạm để góp phần đấu tranh ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Gắn cuộc đấu tranh ngăn chặn các phần tử cơ hội chính trị với
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực thi triệt để nội quy kiểm soát về
quyền lực, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, nâng cao trách nhiệm nêu
gương của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên. Thực hành nguyên tắc đạo đức
“Nói đi đôi với làm”, kiên quyết khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm.
Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tích cực đấu
tranh phòng, chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan,
đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Hơn lúc nào hết, cần tăng cường và đẩy mạnh
cuộc đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, nghĩa cơ hội chính trị và các phần
tử cơ hội trong nội bộ để loại ra khỏi tổ chức đảng.
Năm là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị
công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa
bình”, cơ hội chính trị.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình xử lý
công việc của các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ này, bảo đảm yêu cầu nâng
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ
truyền thông; đầu tư các thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ lực lượng tham gia
đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Trang bị đầy đủ và đồng bộ các phương tiện
cơ sở vật chất - kỹ thuật để phục vụ cho việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học lý luận chính trị, văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản… Đầu tư tài chính
thỏa đáng kết hợp với việc khai thác những nguồn lực khác phục vụ tốt nhất cho
hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Gần 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đạt được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị
thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
là chưa có tiền lệ. Vì vậy, không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót trong quá
trình lãnh đạo của Đảng. Đây chính là khoảng trống để xuất hiện những phần tử
cơ hội chính trị truyền bá các tư tưởng sai trái, thù địch. Các tư tưởng cơ hội
chính trị cùng với chiến lược “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch gây
nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và trong sạch về
tổ chức bộ máy của Đảng, tới vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, vận mệnh
của Đảng, của quốc gia - dân tộc. Đây là vấn đề mà mỗi cán bộ, đảng viên và
nhân dân ta cần phải nhận thức rõ, tăng sức “đề kháng”, “miễn dịch” để không “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trước các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của
các thế lực thù địch, phản động.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét