Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

Bịa đặt thông tin hòng làm méo mó các vụ án



Những ngày gần đây, trên internet xuất hiện khá nhiều trang báo mạng với đủ các thể loại (viết, hình, nói) đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định. Nhưng cái cách tiếp cận vụ án của một số trang mạng xã hội rõ ràng là “có vấn đề”, bởi dường như họ muốn dẫn dắt dư luận theo cách nghĩ của họ, khiến dư luận nhìn nhận các vụ án một cách méo mó, đầy nghi ngờ. Mục tiêu cuối cùng của nhiều trang mạng là hướng tới xuyên tạc, phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.
Nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (trước đây là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hình thành sau khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại chính quyền, thiết lập một nhà nước Việt Nam tự do, độc lập. Năm 1946, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là văn bản luật đầu tiên của nước Việt Nam mới, thể hiện đầy đủ quyền tự do, dân chủ mà người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng và được Nhà nước bảo hộ. Cũng từ văn bản luật gốc này, từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH), các văn bản luật khác dần được hình thành, ra đời.
Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật (gọi chung là các luật) được tiến hành chặt chẽ, khoa học, được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân và được tiếp thu, chỉnh sửa một cách hợp lý theo nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Điều đó thể hiện tính dân chủ rất cao trong quy trình xây dựng các luật. Trong số 230 bộ luật, luật đang có hiệu lực thi hành và sắp có hiệu lực thi hành thì có hai bộ luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc khởi tố, xét xử các vụ án hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, đó là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Các điều, khoản trong hai bộ luật nêu trên vừa khái quát đầy đủ các lĩnh vực, vừa cụ thể hóa rõ ràng các hành vi, dấu hiệu vi phạm hình sự của mọi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc áp dụng các điều, khoản trong quá trình tố tụng và xét xử được các cơ quan tư pháp tiến hành độc lập, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, do đó về mặt nguyên tắc là rất chặt chẽ, không có chuyện vi phạm dân chủ như một số trang mạng cố tình đoán mò rồi dẫn lái dư luận. Trong điều kiện hiện nay, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ nên thông tin được truyền đi nhanh chóng và rộng rãi. Trong lĩnh vực điều tra, xét xử các vụ án cũng có quy trình rất minh bạch, công khai, thông tin đầy đủ, điều đó không cho phép các cá nhân tham gia vào quy trình xử lý các vụ án có thể cố tình làm sai lệch kết quả điều tra, xét xử.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những vụ án rất phức tạp, nhiều tình tiết, chứng cứ khó có thể làm rõ trong một thời hạn nhất định, chính vì thế mới xảy ra các lỗi trong quá trình điều tra, xét xử dẫn đến hiện tượng lọt người, sót tội ở một vài vụ án trong số hàng nghìn vụ án mà các cấp tòa phải xét xử hằng năm. Thế nên có thể khẳng định, việc sai sót trong điều tra các tình tiết cụ thể, có thể xảy ra, nhưng đó là do sai sót của từng khâu, thuộc về từng cá nhân tham gia vào quy trình điều tra, xét xử. Còn về mặt nguyên tắc tổng thể của quá trình điều tra, xét xử các vụ án hình sự là hoàn toàn chặt chẽ, minh bạch, thể hiện rõ sự nghiêm minh, ưu việt của pháp luật XHCN. Thế nên, không thể lấy một vài sai sót từ một số vụ án để quy chụp và xuyên tạc cả nền tư pháp của Việt Nam. Đó là tư duy và cách hiểu của những người cố tình phủ nhận sạch trơn hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm vào những mưu đồ và lợi ích cá nhân.
Sở dĩ thông tin bịa đặt, thông tin giả về các vụ án còn tồn tại trên không gian mạng và luôn phát triển với cấp số nhân là vì mấy vấn đề sau: Thứ nhất, còn nhiều người tin vào những sự “bịa như thật” trên mạng. Nói về vấn đề này, TS Cao Đức Thái, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, từng nhận xét: Ở Việt Nam, tốc độ phát triển của internet khá nhanh và lượng người sử dụng rất cao (khoảng 64 triệu người), trong khi trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn có những hạn chế nên khó phân biệt được tin thật với tin giả lan truyền trên mạng. Vì vậy, việc nâng cao dân trí thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục... là rất cần thiết, đây chính là cái gốc sâu xa nhằm giải quyết vấn đề dư luận sẽ đi theo chiều cạnh nào khi tiếp nhận biển cả thông tin mênh mông. Đối với các vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến dư luận, tâm lý xã hội, nhất là các vụ án trọng điểm thì càng cần được định hướng, tuyên truyền sâu rộng để đông đảo các tầng lớp nhân dân được biết, được hiểu, từ đó tự xây dựng nhận thức đúng đắn khi tiếp nhận các thông tin trái chiều. Một quy luật tất yếu là nếu lúa tốt thì cỏ dại khó mọc và ngược lại.
Nhiều nhà mạng thiếu trách nhiệm với những thông tin mà mình cung cấp, điều nguy hại hơn là họ còn trả tiền cho cả những thông tin giả, thông tin bịa đặt. Với vai trò là cung cấp nền tảng hơn là vai trò của nhà xuất bản, các nhà mạng lớn trên thế giới hiện nay có vẻ không quan tâm đến độ chính xác của các thông tin, vì thế các thông tin thất thiệt hầu như không bị can thiệp, mặc sức hoành hành trên mạng. Thực tế hiện nay, mạng xã hội không khác gì "chợ truyền thông", trong đó lẫn lộn cả thông tin tốt lẫn thông tin xấu độc. Có lẽ đã đến lúc cần phải nghiên cứu xây dựng các đạo luật, hoặc các công ước có tính quốc tế nhằm quản lý tình trạng trên, không thể để tình trạng vì tiêu chí tự do ngôn luận mà xâm hại các quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thậm chí là quyền lợi chính đáng của một quốc gia. Mục tiêu của các nhà mạng là kiếm tiền từ thông tin thì dứt khoát phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin mà mình đóng vai trò hỗ trợ cung cấp. Trong một cái chợ thì ban quản lý chợ cũng phải chịu trách nhiệm về tình trạng trộm cắp, bất lương của cái chợ đó.
Việc cung cấp thông tin chính thống có lúc chưa kịp thời, chưa đầy đủ. Về vấn đề này, có lần trao đổi với chúng tôi, nhà báo Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương cho rằng: Cơ chế thông tin của Nhà nước ta là dân chủ và minh bạch, tuy nhiên đối với từng cơ quan cụ thể, có lúc chưa làm tốt vấn đề này, chính vì vậy mới tạo ra kẽ hở để một số tổ chức, cá nhân có dã tâm lợi dụng, hòng trục lợi và mưu đồ chống phá. Do đó, việc thông tin những vấn đề quan trọng có liên quan tới quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa... của các tầng lớp nhân dân cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện và sâu kỹ. Khi có thông tin đích thực, chính thống, có nghĩa là dư luận đã được định hướng, không còn sự ngả nghiêng, nghi ngờ giữa cái thật và không thật. Báo chí chính thống, cách mạng phải giữ vững vai trò chủ đạo trong thông tin chân thực, tuyệt đối không để lợi ích cục bộ che lấp bản chất cách mạng của các nhà báo, cơ quan báo chí. Giải quyết được 3 vấn đề trên có nghĩa là chúng ta đã thực hiện được những yếu tố cơ bản, góp phần làm trong sạch môi trường truyền thông, tạo điều kiện tốt nhất để dư luận tiếp cận các thông tin đúng, chân thực, loại bỏ các thông tin xấu độc, giả mạo để người dân hiểu đúng bản chất sự việc, sự thật.
PTC


Không thể vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn



Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội có sai phạm bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị cố tình tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng ai cũng biết rằng, không thể đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng, đừng thấy cây mà không thấy rừng. Bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội và sự thật các vụ việc không cho phép chúng thực hiện được hành vi vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn đó…
Giữ nghiêm kỷ luật quân đội là bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây cũng là cội nguồn sức mạnh để quân đội ta luôn chiến thắng, trưởng thành và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng xác định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”. Người chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Thực hiện nghiêm chỉnh lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  trong hơn 75 năm qua, cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân đã không ngừng rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, đồng thời giữ vững kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, được Đảng, Nhà nước và nhân dân trân trọng, tin tưởng. Trong xã hội đã từ lâu xuất hiện dư luận đánh giá: Môi trường quân đội rất mẫu mực, là nơi rèn luyện con người nghiêm túc nhất! Nhiều thanh niên, gia đình mong muốn bản thân và con em mình được vào quân đội để rèn luyện, thử thách, trưởng thành.
Trong hoạt động quân sự đầy gian nan, thử thách với biết bao khắc nghiệt đòi hỏi nhiều hy sinh, cống hiến, bên cạnh những chiến công, thành tích, ưu điểm của tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ, thì cũng có một số người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, vi phạm kỷ luật quân đội, kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật Nhà nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trên con đường cách mạng của mình, Đảng ta, quân đội ta cũng như mỗi đồng chí chúng ta luôn luôn có ưu điểm và không tránh khỏi có khuyết điểm. Chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng, sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai, mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ mãi”. “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”. Thấm nhuần tinh thần ấy, quân đội luôn có quan điểm, thái độ đúng trong đánh giá, xử lý vấn đề này. Số ít cán bộ, chiến sĩ mắc sai phạm tuy chỉ là hiện tượng cá biệt, đơn lẻ, không làm phai nhạt, lu mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, không làm thay đổi bản chất tốt đẹp của quân đội. Phải hiểu rõ như vậy để chúng ta không chán nản, bi quan, hiểu sai về kỷ luật quân đội, mà cần lấy đó làm bài học kinh nghiệm răn dạy chính mình và đồng đội, không mắc vào những vi phạm tương tự. Thực tế đáng mừng là quân đội, từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn nhất quán thống nhất kiên quyết đấu tranh, phê phán, xử lý nghiêm minh với những cá nhân, tập thể, sự việc sai phạm. Sai phạm đến mức phải xử lý là kiên quyết xử lý. Đã có một số cán bộ, chiến sĩ, kể cả cán bộ cao cấp trong quân đội bị khai trừ Đảng, tước quân tịch, lĩnh án tù, thậm chí trong kháng chiến chống Pháp từng có một cán bộ quân hàm đại tá bị tử hình vì vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Trong quá trình xem xét xử lý các sai phạm của một số cán bộ, chiến sĩ, quân đội cũng như  Đảng, Nhà nước, pháp luật cũng đã luôn chú ý xem xét đến những công lao, thành tích, bối cảnh, mức độ sai phạm  của người vi phạm, hài hòa giữa sự nghiêm minh và tính răn đe, giáo dục để xử lý thấu lý, đạt tình, vừa kiên quyết, vừa nhân văn. Việc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo chỉ huy các cơ quan đơn vị trong toàn quân luôn có quan điểm đúng, sự nhìn nhận đánh giá khách quan, có biện pháp xem xét, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng việc, đúng tội, công khai, minh bạch, không có vùng cấm, không bao che, giấu giếm… đã làm cho Đảng, Nhà nước, nhân dân hiểu hơn, đánh giá đúng hơn và thêm tin tưởng, yêu qúy, qua đó góp phần để quân đội thêm trưởng thành, vững mạnh.
Không để bị lợi dụng 
Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã lợi dụng sai phạm đơn lẻ, “con sâu làm rầu nồi canh” của một số cán bộ, chiến sĩ để cố tình tiến hành âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ, vu cáo nhằm hạ thấp uy tín quân đội. Họ thổi phồng các vi phạm, bóp méo sự việc, thậm chí là bịa đặt, vu cáo một cách vô căn cứ, theo kiểu võ đoán, áp đặt, vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn. Xin nêu một vài ví dụ: Trong việc phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua, quân đội đã tham gia rất tích cực, hiệu quả, được Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Biết bao người xúc động, cảm phục trước việc cán bộ, chiến sĩ quân đội vào rừng mắc võng ở, trải chiếu dưới đất nằm để nhường chỗ cho người dân cách ly có nơi ở tốt; rồi lo chu đáo cơm ngon, áo ấm, chăm sóc, cứu chữa, nghiên cứu khoa học tìm ra những thiết bị tiên tiến… để chữa bệnh cho nhân dân, ủng hộ các nước cùng bị dịch…
Ngày 28-3-2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó viết: “Là lực lượng nòng cốt, tuyến đầu, các đồng chí không quản ngại khó khăn, gian khổ, chấp nhận hy sinh, đối mặt với nguy cơ lây nhiễm để hoàn thành sứ mệnh cao cả, thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, và nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội với những đêm ngủ ngoài trời, những bữa cơm ăn vội trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 đã tô thắm truyền thống cao đẹp của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Những hành động và đóng góp nổi bật của toàn lực lượng Quân đội được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, xứng đáng là điểm tựa tinh thần của quần chúng nhân dân, là chỗ dựa vững chắc của đồng bào, đồng chí cả nước trong công cuộc phòng, chống và quyết tâm đẩy lùi, chiến thắng đại dịch Covid-19”. Thế mà các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã lợi dụng việc một vài cán bộ quân đội có sai sót trong quá trình tham gia phòng, chống dịch để vu cáo, bôi nhọ danh dự quân đội, phủ nhận sự đóng góp tích cực, hiệu quả của quân đội trong thực hiện nhiệm vụ đột xuất, quan trọng này. Trên thực tế quân đội cũng đã kịp thời có biện pháp xử lý kiên quyết, nghiêm minh với vi phạm của một vài cán bộ đó, được dư luận chung đánh giá cao, thêm tin tưởng, yêu quý  quân đội, đồng thời bày tỏ sự bất bình, phê phán thái độ, hành động cực đoan với dụng ý không tốt của những kẻ xấu. 
Đối với sai phạm của Đô đốc Nguyễn Văn Hiến và một số đồng phạm, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thẳng thắn, nghiêm minh trong việc xem xét, xử lý vụ việc theo thẩm quyền của mình và quy định của pháp luật (theo kế hoạch, ngày 18-5-2020, Tòa án Quân sự Quân chủng Hải quân sẽ đưa vụ án ra xét xử ). Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã báo cáo với Trung ương để có hình thức xử lý nghiêm khắc về Đảng và chính quyền với Đô đốc Nguyễn Văn Hiến.
Nhưng các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị phớt lờ thực tế đó, cố tình xuyên tạc, vu cáo quân đội bao che, lấp liếm, đấu đá nội bộ. Đặc biệt nguy hiểm khi chúng áp đặt, xuyên tạc cho rằng các sai phạm xảy ra trong quân đội là từ bản chất, đặc điểm của quân đội, quân đội không thể sửa chữa sai phạm, không thể lấy lại được danh dự, uy tín… Phải thẳng thắn thừa nhận rằng sai phạm xảy ra là do chủ quan rèn luyện, phấn đấu chưa tốt của các cá nhân, tập thể vi phạm và có cả phần trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục, xử lý của lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan đơn vị trong quân đội. Từ đó quân đội đã luôn xử lý nghiêm minh, có biện pháp ngăn chặn, khắc phục kịp thời, nên có những hiệu quả thiết thực. Nhiều cá nhân, tập thể mắc sai phạm đã sửa chữa tiến bộ, các cơ quan, đơn vị nói riêng và toàn quân nói chung vẫn không ngừng giữ vững kỷ luật, kỷ cương và trưởng thành phát triển. Điều rất hạnh phúc của quân đội là dù trong quân đội vẫn còn một số sai phạm, dù các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị  thường xuyên dùng các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, tinh vi vu cáo, nói xấu…nhưng Đảng, Nhà nước và tuyệt đại bộ phận nhân dân vẫn dành cho quân đội sự tin tưởng, yêu thương. Đây là niềm tự hào, hạnh phúc, mà cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cần trân trọng, trăn trở suy nghĩ để sống, làm việc tốt hơn, không phụ sự bao dung, tin yêu ấy.
Chúng ta cần bình tĩnh, tỉnh táo, tin tưởng vào sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội. Những hình thức kỷ luật cũng như các bản án nghiêm khắc, nhân văn không làm quân đội yếu đi, mà ngược lại sẽ giúp quân đội trưởng thành, phát triển hơn. Điều quan trọng là mỗi cán bộ, chiến sĩ, cơ quan, đơn vị trong quân đội phải luôn đoàn kết thống nhất, chủ động rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, trở thành tấm gương mẫu mực để cả cộng đồng tin tưởng, yêu thương và học tập, để ngăn chặn hiệu quả sự lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương phiên họp cuối năm 2017, đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, đã phát biểu: “Phải đặc biệt giữ gìn, phát huy hình ảnh, uy tín của quân đội, giữ vững niềm tin yêu của nhân dân đối với quân đội. Muốn vậy, kỷ luật, kỷ cương phải nghiêm, quân đội phải làm gương cho các nơi khác”. Các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nắm bắt tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ để tránh hiện tượng dao động, nghi ngờ, a dua, thiếu tin tưởng, mắc mưu kẻ xấu, ảnh hưởng đến tư tưởng, hành động của bộ đội. Cần thực hiện tốt những quy định về kỷ luật của quân đội, là kỷ luật tự giác, nghiêm minh; chú trọng mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và kỷ luật, cá nhân và tập thể, tự phê bình và phê bình; phát huy cao nhất tính nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp; kiên quyết không để xảy ra sai phạm, nếu có sai phạm thì phải kịp thời xử lý nghiêm minh, công khai, minh bạch.

PTC

Không thể xuyên tạc quy trình xây dựng pháp luật Việt Nam



Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XIV (bế mạc vào cuối tuần qua) đã thông qua 10 luật, 21 nghị quyết, cho ý kiến về 6 dự án luật khác. Đây là một trong những thành công lớn của kỳ họp lần này, đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo cử tri. Thế nhưng một số ít người có thể vì không hiểu hoặc cố tình không hiểu đã xuyên tạc quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận…
 “Góp ý, phê bình về quy trình xây dựng luật” nhưng lại không hiểu luật
Ngày 18-6 vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL) với 92,96% đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tham gia biểu quyết tán thành. Đây là một trong những dự án luật được đông đảo cử tri quan tâm. Dự án luật này cũng được một số đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta “soi xét” khá kỹ. Những người này từng có những bản “góp ý phê bình về quy trình xây dựng luật ở Việt Nam” đăng tải trên mạng xã hội và một số cơ quan báo chí nước ngoài, trong đó phê bình trực tiếp quy trình xây dựng Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL.
Có lẽ họ không nhớ vào ngày 22-5-2020, Quốc hội đã thảo luận trực tuyến về dự án Luật BHVBQPPL. Tại cuộc họp này, về cơ bản, các vị ĐBQH đã tán thành với báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và nhiều nội dung của dự thảo luật; đồng thời đóng góp thêm ý kiến về một số điều, khoản cụ thể. Trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật. Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn về thời gian cơ quan chủ trì soạn thảo gửi văn bản tới Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và phạm vi, chủ thể, thời hạn thực hiện phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam để bảo đảm tính khả thi. UBTVQH đã báo cáo: Việc phản biện xã hội đối với dự thảo Luật BHVBQPPL đang được thực hiện theo quy định của Luật MTTQ Việt Nam. Dự thảo luật đã tiếp thu, bổ sung quy định về hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 6. Các vấn đề về thời gian gửi văn bản, phạm vi, chủ thể, thời hạn phản biện xã hội thuộc trình tự, thủ tục thực hiện phản biện xã hội, hiện đang được quy định tại Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN. Do đó, UBTVQH xin tiếp thu ý kiến của các ĐBQH để chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, quy định rõ trong Nghị quyết liên tịch số 403.
Cũng có ý kiến đề nghị Hội đồng Dân tộc (HDDT), các ủy ban của Quốc hội chỉ nên có ý kiến mà không nên quy định trách nhiệm thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và tham gia thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực phụ trách, UBTVQH cho rằng, theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, HĐDT, ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật thuộc lĩnh vực phụ trách nhằm bảo đảm tất cả nội dung liên quan của dự án luật đều được xem xét để báo cáo Quốc hội, UBTVQH. Tương tự như vậy, trong việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, ngoài trách nhiệm chung của Ủy ban Pháp luật thì rất cần ý kiến thẩm tra chuyên môn sâu của HĐDT, các ủy ban khác của Quốc hội với vai trò là cơ quan phụ trách lĩnh vực. Đây cũng là sự đổi mới hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả tích cực. Việc quy định như vậy cũng là nhằm đề cao, làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tham gia trong quy trình xây dựng, ban hành luật như yêu cầu của Ban Bí thư tại Thông báo số 26-TB/TW ngày 19-4-2017. Như vậy UBTVQH đã tiếp thu tối đa ý kiến đóng góp của các ĐBQH theo hướng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể của các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH và toàn dân trong xây dựng các dự án luật, điều này trái với ý kiến của một số người cho rằng Quốc hội áp đặt ý chí của một số ít người trong xây dựng luật. Điều đáng phê phán là có người “góp ý, phê bình về quy trình xây dựng luật ở Việt Nam” nhưng lại không hiểu quy trình xây dựng luật ở Việt Nam.
Thành quả xây dựng pháp luật ở Việt Nam là điều không thể phủ nhận
Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng và đặc trưng nhất của Quốc hội Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định Quốc hội là cơ quan lập hiến và lập pháp. Qua mỗi bản Hiến pháp, cơ chế thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội được kế thừa, phát triển và ngày càng được làm rõ hơn. Hiến pháp năm 2013 (hiện hành) đã khẳng định, Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật; thực hiện quyền lập hiến, lập pháp. Trên thực tế, quy định này của Hiến pháp được thực hiện khá chặt chẽ, cụ thể theo trình tự như sau: Hàng năm, trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, UBTVQH lập và trình Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở đó, UBTVQH phân công, chỉ đạo, đôn đốc và giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện chương trình này. HĐDT, các ủy ban của Quốc hội, bên cạnh việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, còn dành nhiều thời gian, công sức cho việc chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, ý kiến của nhân dân, của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Để phục vụ cho công tác này, HĐDT, các ủy ban của Quốc hội đã tham gia ngay từ đầu vào quá trình xây dựng dự án luật. UBTVQH với tư cách là cơ quan chuẩn bị và chủ trì kỳ họp Quốc hội, thường xuyên cho ý kiến đối với các dự án luật, pháp lệnh. Giữa hai kỳ họp, các đoàn ĐBQH đã tổ chức các hội nghị để trao đổi, thảo luận và lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan. Ý kiến của ĐBQH là cơ sở quan trọng mang tính quyết định trong việc hoạch định chính sách, chỉnh lý và hoàn thiện từng nội dung của dự án luật. Theo trình tự này, Quốc hội đã nắm trọn quyền lập pháp, vì thế ý kiến một số người cho rằng Quốc hội chỉ là cơ quan thông qua luật là không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu so sánh giữa dự án luật trình Quốc hội với các dự án luật đã được các cơ quan của Quốc hội thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và Quốc hội thông qua thì chất lượng được nâng cao đáng kể, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là về các chính sách, cả về mặt nội dung cũng như hình thức văn bản. Quy trình xây dựng luật của Việt Nam cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo quy trình này, pháp luật đã ban hành giúp chúng ta đã thu được nhiều thành quả mà các thế lực thù địch dù có cố tình xuyên tạc nhưng cũng không thể phủ nhận.  
Tại Kỳ họp thứ chín mới đây, Quốc hội đã thông qua 10 luật, 21 nghị quyết, cho ý kiến về 6 dự án luật khác. Các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội xem xét, thông qua và cho ý kiến tại Kỳ họp thứ chín đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp, góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; tổ chức bộ máy; quan hệ lao động; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường công tác nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, tiến trình hội nhập quốc tế.   
Tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam
Có thể nói hệ thống pháp luật Việt Nam kể từ thời điểm đổi mới đất nước năm 1986 đến nay đã phát triển không ngừng và còn phải tiếp tục hoàn thiện. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL mà Quốc hội vừa thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Theo đó, cơ quan trình dự án luật được quyền bảo vệ quan điểm của mình trong toàn bộ quá trình soạn thảo và trình thông qua dự án luật. Còn cơ quan thẩm tra, dù đó là các ủy ban của Quốc hội hay UBTVQH thì phải làm đúng chức năng của cơ quan thẩm tra, giúp Quốc hội xem xét, thậm chí có thể đề nghị Quốc hội không thông qua một dự án luật là điều hoàn toàn có thể xảy ra nhưng không nên làm thay và tước đi quyền của cơ quan soạn thảo dự án luật.   
Luật BHVBQPPL năm 1996 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2002 đã quy định hồ sơ dự án luật trình Quốc hội phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết. Luật BHVBQPPL năm 2008 đã bỏ quy định này. Tuy nhiên, năm 2013, qua giám sát tối cao việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, Quốc hội thấy rằng tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết có xu hướng gia tăng, dẫn đến luật chậm được triển khai thực hiện. Do đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 67/2013/QH13 yêu cầu trong hồ sơ dự án luật phải trình kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết. Quy định này tiếp tục được thể hiện trong Luật BHVBQPPL sửa đổi, bổ sung. Đồng thời, tiếp thu ý kiến của các vị ĐBQH, UBTVQH đã đề nghị cơ quan trình, cơ quan soạn thảo thời gian tới cần quan tâm hơn nữa việc chuẩn bị dự thảo văn bản quy định chi tiết nhằm bảo đảm chất lượng văn bản, tránh hình thức, lãng phí.
Để xử lý tình trạng còn xảy ra một số mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định giữa các luật do ngay từ giai đoạn tổng kết, đánh giá, xây dựng dự thảo văn bản mới, các cơ quan liên quan chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc rà soát, phát hiện và xử lý kịp thời các nội dung có quy định khác nhau trong các văn bản luật ban hành trước, UBTVQH đã chỉ đạo bổ sung vào Luật sửa đổi bổ sung Luật BHVBQPPL quy định hồ sơ dự án luật gửi thẩm định, thẩm tra, trình Quốc hội phải có báo cáo về rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo; đồng thời bổ sung vào Khoản 2, Điều 12 quy định “trường hợp văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó”.
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc sự cần thiết xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, toàn diện, là cơ sở xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Pháp luật của Việt Nam đã có những quy định rất cụ thể bảo đảm cho mọi công dân được tiếp cận thông tin đa dạng, nhiều chiều, công khai, chủ động tham gia góp ý kiến trong các giai đoạn của quy trình xây dựng pháp luật; đồng thời, các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền xây dựng pháp luật phải lắng nghe, tiếp thu ý kiến, phản hồi ý kiến của người dân công khai minh bạch; trường hợp tiếp thu ý kiến thì cụ thể ý kiến về nội dung gì, nếu không tiếp thu thì phải giải trình rõ tại sao không tiếp thu. Qua đó, một mặt bảo đảm quyền dân chủ của người dân trong xây dựng pháp luật, mặt khác, những ý kiến góp ý từ người dân, từ cộng đồng sẽ giúp các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Không thể xuyên tạc thành quả và quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam.

PTC

Đập tan chiêu trò bịa đặt về nhân sự đại hội Đảng



Từ trước thềm Hội nghị Trung ương (HNTƯ) 12 (khóa XII), đến nay, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành (BCH) Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026. Các luận điệu hồ đồ quy chụp rằng, công tác chuẩn bị nhân sự Trung ương bị chi phối quyết định bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức Trung ương, ép buộc vận hành theo một kịch bản đã được lên sẵn.
Mặc dù Đại hội XIII của Đảng đến đầu năm 2021 mới diễn ra, vậy mà, không biết từ nguồn tin nào, bằng cách gì, những kẻ hiềm khích, giả danh yêu nước đã sớm tung tin về kết quả của đại hội như thể họ là người trong cuộc, được có mặt tại nghị trường ở thì tương lai?
Từ đầu tháng 5-2020, không khó để tiếp cận các bài viết trên mạng xã hội nước ngoài tung tin đồn, suy đoán về “nhân sự tứ trụ” sẽ được Đại hội XIII của Đảng tín nhiệm tiến cử, lựa chọn. Có nghĩa, nhân sự cho các chức danh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã được định sẵn một cách thiếu dân chủ, khách quan, vì lợi ích nhóm trong CTCB. Tác giả của các bài viết nêu trên “lo rằng”, sự “quy hoạch mặc định” ấy sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nhất là gây mất đoàn kết trong Đảng, do các phe cánh bày mưu tính kế, hạ bệ lẫn nhau... Cùng với đó, các bài viết còn chủ ý bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp cách mạng; cố tình đưa ra các luận cứ cho thấy sự phân chia phe cánh, hình thành các đường dây đối lập trong nội bộ Đảng ở thời điểm trước và trong đại hội đảng.
Cần nhận diện đúng đắn rằng: Những thông tin nêu trên là hòng gây nhiễu loạn tình hình nhân sự trong Đảng, cố ý bôi nhọ tình cảm đồng chí, đồng đội trong tập thể lãnh đạo của Đảng; mưu đồ hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc. Bởi chính sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là sức mạnh nội sinh để toàn đảng, toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; cũng là bức tường thành vững chắc đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Do vậy, không lấy gì làm khó hiểu khi các thế lực thù địch luôn lăm le chống phá cho kỳ được thành trì đoàn kết của Đảng ta!
Và sự bịa đặt trắng trợn ấy, ngay lập tức bị bóc mẽ, nhận diện, khi mà HNTƯ 12, khóa XII diễn ra thành công tốt đẹp, một lần nữa công khai rộng rãi chủ trương về công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, việc giới thiệu quy hoạch cán bộ (QHCB) chiến lược được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XII nhất quán xuyên suốt phương châm "làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó" với lộ trình cụ thể: Quy hoạch BCH Trung ương trước; sau đó làm quy hoạch tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cuối cùng là quy hoạch các chức danh chủ chốt: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, chứ không tiến hành cùng lúc như những nhiệm kỳ trước đây.
Như vậy, xét theo tiến trình, đến HNTƯ 12, khóa XII, Trung ương chỉ mới xem xét, quyết nghị những vấn đề có tính định hướng lớn trong công tác nhân sự BCH Trung ương; thậm chí chưa bàn, quyết nghị đến nhân sự cụ thể giới thiệu dự bầu BCH Trung ương khóa mới, nên chưa thể đưa ra phương án nhân sự cụ thể cho các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước như những kẻ hiềm khích đã và đang lớn tiếng rêu rao, suy diễn, bịa đặt.
Xin nhắc lại một cách làm mới mẻ và khoa học như vậy của BCH Trung ương khóa XII để nhận diện rõ hơn về âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của những kẻ hiểm ác; nhận biết quy luật hoạt động chống phá có tính chất chu kỳ của các thế lực thù địch với những chiêu trò đổi trắng, thay đen, không từ bất kể thủ đoạn nào. Và tất nhiên, dã tâm của những kẻ thiếu kiến thức, sự hiểu biết thực tiễn sẽ khiến những luận điệu mà chúng phơi ra dư luận trở thành những chiếc gậy tự đập vào lưng chính mình, đúng như bài học “gậy ông đập lưng ông” mà người xưa đã chỉ dạy, cảnh báo cho những kẻ cố tình đi ngược lại đạo lý, quy luật hiển nhiên.
Ngoài trò hề quen thuộc nêu trên, trước HNTƯ 12, khóa XII, những kẻ hiềm khích còn suy diễn, cho rằng: Công tác quy hoạch và lựa chọn, giới thiệu cán bộ Trung ương khóa XIII lần này là do Trung ương lên sẵn kịch bản theo lối “chỉ mặt, điểm tên”, bắt buộc các cấp thực thi bằng các giải pháp dân chủ hình thức để “mị dân” và chỉ nhằm phục vụ lợi ích nhóm của một bộ phận quan chức cầm quyền. Thực tế CTCB trong Đảng nói chung, công tác giới thiệu, lựa chọn QHCB chiến lược nhiệm kỳ Đại hội XIII nói riêng lại hiện hữu một bức tranh khác biệt và đối lập. Tất nhiên, những chủ trương lớn về CTCB do Trung ương ban hành, hoạch định và trực tiếp lãnh đạo, nhưng việc lựa chọn “hiền tài” được vận hành đồng bộ ở mọi cấp trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của cấp ủy, tổ chức đảng từ cấp nhỏ nhất đến cấp đảng bộ trực thuộc Trung ương. Mới đây nhất, trong bài viết định hướng công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp và phát biểu khai mạc, bế mạc HNTƯ 12, khóa XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đều thẳng thắn chỉ rõ yêu cầu phải lựa chọn bằng được cán bộ đủ tiêu chuẩn cho Trung ương và phần việc đó thuộc trách nhiệm của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Đặc biệt, với tinh thần làm việc nghiêm túc, HNTƯ 12, khóa XII vừa qua tiếp tục khẳng định tinh thần xuyên suốt của cả nhiệm kỳ Đại hội XII về hai nội dung, giải pháp hết sức quan trọng đối với công tác lựa chọn, phát hiện, giới thiệu nhân sự cho BCH Trung ương Đảng khóa XIII, đó là: Trao quyền lựa chọn, giới thiệu nhân sự Trung ương cho cơ sở và đảng bộ trực thuộc; đồng thời đề cao trách nhiệm, quy trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử cán bộ quy hoạch chiến lược. Thực tiễn CTCB cũng minh chứng sống động cho tính đúng đắn của những giải pháp lớn ấy. Theo đó, dưới sự điều hành của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là Ban Chỉ đạo xây dựng QHCB cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026, tập trung cao điểm vào tháng 11-2018, 100% đảng bộ các tỉnh, thành phố và cơ quan, đơn vị, địa phương trực thuộc Trung ương đã tổ chức tốt hội nghị cán bộ chủ chốt để phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch BCH Trung ương khóa XIII.
Với tinh thần ủy quyền và đặt niềm tin đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương của BCH Trung ương đã thật sự mở ra cơ chế và điều kiện thuận lợi nhất để tất cả cấp ủy, tổ chức đảng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện nghiêm túc quy trình phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch ở địa phương, cơ quan, đơn vị theo 4 bước; quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch ở Trung ương thực hiện theo 5 bước.
Cũng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, hội nghị ban thường vụ, hội nghị cán bộ chủ chốt tỉnh, thành phố đều tiến hành bỏ phiếu giới thiệu nhân sự tham gia Trung ương khóa XIII. Kết quả lấy phiếu được tiến hành đúng quy trình, bảo đảm nguyên tắc với quan điểm đặc biệt coi trọng tiêu chuẩn giới thiệu vào quy hoạch, coi trọng chất lượng, không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp yêu cầu.
Đặc biệt, khi Trung ương trao quyền và gắn trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử giới thiệu cán bộ đã giúp đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nhiều cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm, thực sự nêu gương, kiên quyết chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch; không để có sự can thiệp không đúng nguyên tắc, sai thẩm quyền, thiếu trách nhiệm, trái quy định vào CTCB, nhất là quy trình giới thiệu QHCB chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026. Với quy trình chặt chẽ, kết quả giới thiệu nhân sự BCH Trung ương Đảng khóa XIII đến nay đã đáp ứng yêu cầu và tiến độ đặt ra. Những cán bộ được cơ sở “chọn mặt, gửi vàng”, góp tên vào danh sách đề nghị quy hoạch gửi về Trung ương, trở thành căn cứ quan trọng để BCH Trung ương xem xét, quyết nghị tại những hội nghị tiếp theo của BCH Trung ương khóa XII.
Như vậy, cách làm nêu trên cho thấy: BCH Trung ương là cơ quan tối cao thẩm định, xem xét, quyết nghị cuối cùng về nhân sự Trung ương khóa mới trên cơ sở lựa chọn, giới thiệu nhân sự cụ thể ở từng đảng bộ trực thuộc Trung ương. Hơn thế, việc chiêu mộ hiền tài cho Đảng, Nhà nước được Trung ương kêu gọi, khuyến khích toàn đảng, toàn dân phát hiện, giới thiệu để kịp thời bổ sung và sàng lọc, chứ không cứng nhắc về phương án, áp đặt về số lượng, chất lượng hay rơi vào nạn cửa quyền, mệnh lệnh theo lối áp đặt. Điều đó càng khẳng định, những thông tin bịa đặt xoay quanh vấn đề nhân sự đại hội đảng thực chất là những thủ đoạn trá hình của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chia rẽ nội bộ trong Đảng và chĩa mũi nhọn công kích vào sự kiện chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, chống phá quyết liệt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Thế nhưng, tất cả những chiêu trò đó chỉ như chút bóng tối lập lờ, sẽ nhanh chóng bị ánh sáng sự thật đẩy lùi, xua tan!
PTC


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên
 Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa thuộc về những thành phần nào, hay nói cách khác là nhiệm vụ đó thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.
Quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng "trở cờ" phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường".
Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

PTC

CHẲNG CÓ GÌ GỌI LÀ "TOANG" Ở ĐÂY CẢ!

Đà Nẵng không toang, Hà Nội không toang, TP.HCM cũng không toang! 

Đợt sóng covid thứ 2 đã quay lại, đó cũng là điều dễ hiểu, vì quanh ta các nước số lượng người nhiễm vẫn tăng hàng ngày, hàng giờ. Ngay từ khi phát hiện dịch tại Đà Nẵng, chính phủ đã chỉ đạo truy vết tiếp xúc, đi lại của các bệnh nhân để cách ly. Các địa phương khác cũng khoanh vùng du khách trở về từ Đà Nẵng. Việc của mọi người bây giờ là bình tĩnh, chỉ nên mua khẩu trang và đồ dùng vừa đủ, tin tưởng vào Chính Phủ và thực hiện tốt các khuyến cáo của Bộ Y Tế, trước mắt là vì bản thân, sau là vì người thân, và cuối cùng là vì xã hội.
Hải Đăng

MỘT ĐẤT NƯỚC KỲ LẠ!


 

Trong khi làn sóng Covid thứ hai quay lại Việt Nam, uy hiếp Đà Nẵng, Quảng Ngãi, thì VN trong hai ngày 26 và 27/7 vẫn bình tĩnh, tự tin cho máy bay bay thẳng vào tâm dịch San Francisco, Mỹ đón 280 công dân Việt về nước.

Và sáng nay (28/7), một chuyến bay đặc biệt nữa bay thẳng tới Guinea Xích Đạo để đón 219 công dân VN về, trong đó hơn 1 nửa là đã nhiễm Covid!

Có đất nước nào như đất nước này không?

Một đất nước duy nhất trên hành tinh có ngày Giỗ Tổ, cùng chung nguồn cội; chiến tranh không khuất phục, thiên tai không cúi đầu, khó khăn không chùn bước, dịch bệnh không run sợ!

Điều cốt lõi ở đây là gì, là tình người, là máu mủ đồng bào, là người dân đoàn kết, là một chính phủ cộng sản quyết không để một ai bị bỏ lại phía sau!

Chỉ có gắn bó với đất nước, máu thịt với đồng bào mình mới thấu hiểu được đạo lý một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ!

Tổ quốc tôi đẹp vô cùng, dù chưa giàu về vật chất nhưng riêng tình người, nghĩa đồng bào  thì đã hơn các cường quốc hàng đầu thế giới từ rất lâu rồi!

Mai Năm Mới (ST)

Một số giải pháp cơ bản không ngừng nâng cao chất lượng quan hệ dân tộc và tôn giáo trong thời gian tới




Một là, Nhận thức đúng đắn về vấn đề dân tộc, tôn giáo và giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo vì sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Thống nhất nhận thức, tư tưởng từ Trung ương đến cơ sở về tầm quan trọng chiến lược của vấn đề dân tộc, tôn giáo và giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nước ta trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, nhất là vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong công tác dân tộc, tôn giáo.
Thống nhất nhận thức quan điểm của Đảng: Đồng bào các dân tộc là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam; tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Công tác dân tộc, tôn giáo và công tác vận động quần chúng, vì vậy cần có sự chỉ đạo tập trung thống nhất của các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến địa phương về công tác dân tộc và công tác tôn giáo.
Quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về dân tộc, tôn giáo, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo cho cán bộ đảng viên trong hệ thống chính trị, nhất là tại các vùng có đông đồng bào dân tộc, đồng bào theo tôn giáo.
Trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, cần có thái độ đúng đắn và phương pháp phù hợp không được kỳ thị, thành kiến với tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc trong khuôn khổ chính sách, pháp luật. Chủ động quan tâm giải quyết nhu cầu chính đáng, hợp pháp của đồng bào các dân tộc, đồng bào tôn giáo. Tích cực vận động đồng bào các dân tộc, tôn giáo đoàn kết, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.
Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản về chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức về dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tập trung đồng bào tôn giáo. Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, thường xuyên cập nhật kiến thức về dân tộc, tôn giáo, về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân tộc, tôn giáo thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn để đảm bảo có đủ bản lĩnh và kiến thức chuyên môn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo.
Coi trọng giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo và tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn dân trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh làm điểm tương đồng; khơi dậy ý thức tương trợ, ý thức đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo; tăng cường hợp tác, đối thoại giữa các dân tộc, các tôn giáo vì sự ổn định và phát triển của đất nước.
Thường xuyên quan tâm nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo và tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu chính đáng của đồng bào. Tập trung chỉ đạo, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vấn đề liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo như vấn đề đất đai, đất sản xuất… cho đồng bào các dân tộc, các tranh chấp, khiếu kiện có nguồn gốc tôn giáo.
Hai là, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo.
Đẩy mạnh đầu tư phát triển toàn diện kinh tế- xã hội, nhất là vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo, giảm nghèo nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, các vùng, bảo vệ môi trường. Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập, làm dịch vụ cho hộ gia đình các dân tộc, tôn giáo nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với tập quán, trình độ phát triển của mỗi tộc người, tiềm năng lợi thế của từng địa phương và từng vùng.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thốmg kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, nhất là ở những nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo, trong đó ưu tiên phát triển hệ thống chính sách hạ tầng cấp thôn/bản hoặc cum thôn/bản. Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, các bản, làng, nhất là các xã vùng biên giới tạo điều kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống.
Giải quyết một cách căn bản tình trạng thiếu đất sản xuất trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây nam Bộ và tình trạng di dịch cư tự do ở miền núi phía Bắc. Tổ chức sắp xếp lại các nông, lâm trường quốc doanh theo hướng thu hút đồng bào dân tộc, tôn giáo tại chỗ tham gia, kiên quyết giải thể các nông, lâm trường làm ăn kém hiệu quả, giao đất, giao rừng cho đồng bào quản lý.
Kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng an ninh vùng dân tộc, tôn giáo, xây dựng vùng kinh tế đường biên giới trên đất liền. Xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, tham gia vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên các địa bàn xung yếu, trọng điểm. Phát huy tiềm năng và nguồn lực trên các địa bàn chiến lược, đồng thời làm cơ sở chỉ đạo, quản lý việc xây dựng theo quy hoạch vùng.
Bảo tồn và phát huy, phát triển các giá trị văn hoá dân tộc, tôn giáo. Đầu tư các nguồn lực, nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục lại bản sắc văn hoá truyền thống của các tộc người, phát huy các giá trị văn hoá, đạo đức, tích cực của tôn giáo trong phát triển bền vững trên cơ sở có sự tham gia, chọn lựa và quyết định từ phía cộng đồng các tộc người cũng như phù hợp trong đa dạng của văn hoá quốc gia. Tăng cường tổ chức giao lưu văn hoá các dân tộc và tôn vinh các giá trị văn hoá tộc người, tôn vinh các giá trị văn hoá tôn giáo để khơi dậy lòng tự hào về văn hoá của dân tộc, tôn giáo mình, đồng thời tôn trọng sự khác biệt văn hoá giữa các tộc người và giữa các cộng đồng khác đức tin tôn giáo.
Tăng cường đầu tư xây dựng và củng cố các thiết chế văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào tôn giáo. Chú trọng đầu tư xây dựng các chương trình nội dung, thong tin bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số và bằng nhiều hình thức đa dạng và phương pháp phù hợp với vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo tập trung.
Nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết, giải quyết tình trạng mũ chữ, tái mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo. Nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo,quan tâm xây dựng hệ thống trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Tăng cường đầu tư, cải thiện điều kiện dạy và học, thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo, dạy nghề trên cơ sở đổi mới nội dung, cơ chế quản lý và nội dung, phương thức đào tạo cho phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số, và có đông đồng bào tôn giáo.
Cải thiện các điều kiện dịch vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiẻu số, đồng bào tôn giáo. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình cung cấp nước sạch và dịch vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.
Ba là, nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò của hệ thống chính trị trong giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo.
Các cấp uỷ Đảng từ trung ương đến cơ sở, nhất là cấp cơ sở vùng DTTS, vùng có đạo quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, quy chế công tác dân tộc, tôn giáo của địa phương. Tập trung lãnh đạo thực hiện tốt các nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc. Kiện toàn nâng cao chất lượng các tổ chức, cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo. Tăng cường lãnh đạo xây dựng cơ sở chính trị vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số; chú trọng phát triển đảng viên trong cộng đồng tôn giáo và dân tộc thiểu số.
Kiện toàn nângcao chất lượng các tổ chức, đội ngũ cán bộ trong HTCT các cấp làm công tác dân tộc, tôn giáo. Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức về dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, công tác tôn giáo, nhất là ở vùng đồng bào DTTS, vùng tập trung đông đồng bào tôn giáo. Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương….thống qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn cho đội ngũ cán bộ…
Lãnh đạo chính quyền làm tốt công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, trong phát triển y tế, giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo. Nâng cao hiệu quả quản lý đối với tổ chức tôn giáo và hoạt động của các chức sắc tôn giáo; đối với vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự liên quan đến tôn giáo; đối với hoạt động xã hội hoá giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo của các tôn giáo.
Đổi mới tổ chức và phát huy hiệu quả của Mặt trận tổ quốc các đoàn thể….tăng cường côngtác kiêmtra giám sát thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo. Tranh thủ người có uy tín…
Bốn là, củng cố quốc phòng, an ninh, chủ động và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc và tôn giáo nhằm kích động quần chúng chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Vấn đề dân tộc và vấn đề tin ngưỡng tôn giáo luôn là vấn đề nhạy cảm và thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá cách mạng nước ta. Do vậy tăng cường củng cố an ninh quốc phòng là nhiệm vụ thường trực hết sức quan trọng không được phép lơ là. Chủ động ngăn ngữa bạo loạn chính trị do các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và nhân quyền. Muốn vậy phải làm tốt công tác quản lý địa bàn, xây dựng các phương án để chủ động phòng ngừa các hoạt động tôn giáo trái phép. Đẩy mạnh tuyên truyền và thực hiện các chương trình phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng công an, quân đội với các đoàn thể trong công tác dân tộc, tôn giáo để nắm chắc tình hình, quản lý chặt chẽ đối tượng, sẵn sàng các phương án chủ động đấu tranh ngăn chặn các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch. Tranh thủ giáo sỹ, vận động giáo dân thực hiện xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”
Chủ động vạch trần những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoặc kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo nhằm “tôn giáo hoá dân tộc” của chúng. Kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức, các đối tượng có các hoạt động vi phạm pháp luật truyền đạo trái phép, hoặc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích động quần chúng, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc.


Cần nhanh chóng hơn nữa trong chống dịch COVID-19



Mấy ngày vừa qua, khi có dịch xuất hiện tại Đã Nẵng, cả hệ thống chính trị đã nhanh chóng vào cuộc với các biện pháp kịp thời như thông tin, tuyên truyền, giáo dục; khai báo nắm nguồn dịch bệnh; khoanh vùng; cách ly v.v… Tuy nhiên để thực hiện đồng bộ các biện pháp này phải cần cả hệ thống chính trị nhanh chóng vào cuộc với cách làm khoa học và quyết liệt nhất. Tôi cho rằng, trong lúc này, trước hết, cần nhanh chóng nắm và khai báo rõ từng con người trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị, trường học, công xưởng v.v…, không được để xót người và khai báo không thành khẩn. Cần phải chú ý đến các đối tượng: Di dân bất hợp pháp; những người không nơi nương tựa; những người có hoàn cảnh, bởi những người này không có địa chỉ cụ thể, rất khó quản lý; nên rất dễ dẫn đến bỏ xót đối tượng. Thứ hai, chúng ta phải giả định và nhanh chóng xây dựng nhiều kịch bản để ứng phó. Tuy nhiên cho dù nhiều kịch bản ứng phó, nhưng nếu chúng ta không phát huy hết tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của người dân; tinh thần đoàn kết; nghị lực phi thường trong chống dịch của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức thì chúng ta sẽ không chiến thắng được dịch lần này.


Tiếp tục thực hiện tốt các quan điểm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo



Thời gian qua toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị đã thực hiện tốt mối quan hệ dân tộc và tôn giáo đã đạt được những thành tựu quan trọng. Để thực hiện tốt mối quan hệ dân tộc và tôn giáo, thời gian tới chúng ta tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm sau đây:
Một là, tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc và tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối sử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc, đồng thời phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước. Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải luôn là môi trường, điều kiện thuận lợi nhất cho tất cả các dân tộc, các tôn giáo được tự do phát triển theo đúng quy định của pháp luật, phát huy mọi nguồn lực, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH.
Hai là, giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo luôn phải đặt trong mối quan hệ với cộng đồng quốc gia- dân tộc thống nhất theo định hướng XHCN
Việc giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải tuân thủ theo nguyên tắc: giải quyết vân đề tôn giáo trên cơ sở vấn đề dân tộc, tuyệt đối không được lợi dụng vấn đề tôn giáo đòi ly khai dân tộc, hay chia rẽ khối đoàn kết dân tộc làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, mà phải đảm bảo giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước “tập hợp đồng bào theo tín ngưỡng tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Ba là, giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo vào mục đích chính trị
 Quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân: Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Người có tín ngưỡng tôn giáo và không có tín ngưỡng tôn giáo phải tôn trọng nhau; nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật
 Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết: phát huy dân chủ trên các mặt của đời sống xã hội. Kiến quyết đấu tranh với âm mọi mưu chia rẽ dân tộc, tình đoàn kết dân tộc. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc.

Hãy tự tin trong chống dịch COVID-19



Mấy tháng vừa qua, chúng ta đã thực hiện tốt việc chống dịch COVID-19 đã được nhân dân tin tưởng, thế giới khen ngợi. Mấy ngày gần đây, dịch xuất hiện trở lại, nhưng chúng ta vẫn tin tưởng rằng, nếu chúng ta tự tin, chúng ta sẽ chiến thắng được dịch.
Tự tin là thể hiện một tính cách điềm tĩnh, chủ động khi xem xét, đánh giá, hoặc thực hiện một vấn đề gì đó với năng lực sẵn có cùng với kinh nghiệm đã được đúc kết, trải nghiệm. Nếu tự tin trong thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, chúng ta sẽ không bị rối, bị loạn khi có nhiều tình huống ập đến.
Trong chống dịch COVID-19 lần này, chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm trong phát hiện, khoanh vùng, dập dịch. Vì vậy, tôi cho rằng với kinh nghiệm chống dịch COVID-19 vừa qua, chúng ta hãy bình tĩnh, tự tin, bằng các biện pháp nhanh chóng, đồng bộ, kết hợp tinh thần quyết chí, quyết thắng của cả dân tộc, chắc chắn chúng ta sẽ chống dịch thành công.

Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và những diễn biến phức tạp trong quan hệ dân tộc, tôn giáo từ bên ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến quan hệ dân tộc và tôn giáo của Việt Nam.



Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Điều này một mặt giúp cho chúng ta có thể tiếp cận và tiếp thu những thành tựu từ các nước, vận dụng phù hợp và sáng tạo để phát triển nhanh, song mặt khác nó cũng đặt ra rất nhiều thách thức, nguy cơ mà Việt Nam phải tỉnh táo vượt qua, kể cả những tác động trong vấn đề dân tộc và tôn giáo đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới.
Những căng thẳng tôn giáo và sắc tộc sẽ trở nên trầm trọng hơn khi có sự can thiệp chính trị từ bên ngoài của đất nước. Ví dụ: Những xung đột sắc tộc, tôn giáo tại Li Ban từ những năm 1975, 1990 đã trở thành cuộc nội chiến kéo dài hơn hai thập kỷ; hay những xung đột sắc tộc, tôn giáo dai dẳng tại khu vực Trung Đông, với những can thiệp quân sự từ bên ngoài; hoặc xung đột sắc tộc, tôn giáo tại khu vực Tân Cương, Tây Tạng của Trung Quốc v.v… làm cho những khu vực này luôn trong tình trạng bất ổn.
Từ thực tế này cho thấy, coi trọng giải quyết mối quan hệ dân tộc, tôn giáo là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo như Việt Nam, bởi vì nó là vấn đề rất nhạy cảm và dễ bị lợi dụng, dễ tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia.
Bên cạnh đó, âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền… để chống phá cách mạng Việt Nam đang và sẽ diễn ra, tác động xấu đến mối quan hệ dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, được biểu hiện trên những vấn đề sau:
Các thế lực thù địch thường xuyên, triệt để lợi dụng những điều kiện mới của thế giới, vấn đề dân tộc và các động thái tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta để liên kết các cộng đồng tôn giáo thành một lực lượng chính trị với âm mưu tạo ra những “điểm nóng” gây mất ổn định xã hội, kích động chủ nghĩa dân tộc, khơi dậy tư tưởng chia tách dân tộc, đòi tự trị, ly khai…Đây là một trong những vấn đề bức xúc, đang nổi lên ở một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, có sự đa dạng về thành phần tộc người và tôn giáo ở nước ta, từ Miền Núi Phía Bắc, Miền Tây Thanh Hoá - Nghệ An, Tây Nguyên đến Tây Nam Bộ.
 Hiện nay tại một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, khu vực biên giới nước ta, bằng nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau, núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, quyền của người bản điạ”, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, những hạn chế trong thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta để tập hợp lực lượng, tuyên truyền xuyên tạc, kích động tư tưởng tự trị, ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhằm thực hiện ý đồ phá hoại tính cố kết nội bộ tộc người và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta. Hoạt động tôn giáo ở một số khu vực vùng dân tộc thiểu số như Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ…đặc biệt ở các tuyến biên giới, Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Cam Phu Chia còn có biểu hiện chưa tuân thủ pháp luật, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đi ngược lại với lợi ích quốc gia. Các hoạt động chống phá này thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: lợi dụng mê tín để mê hoặc quần chúng, lừa đảo, trục lợi, hành nghề trái phép gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân; làm mất ổn định về đời sống sinh hoạt và sản xuất của đồng bào. Đặc biệt, chúng sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền đạo trái phép. Trong những năm gần đây các thế lực phản động tăng cường đổi mới thiết bị, cải tiến kỹ thuật, gia tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc, thông qua mạng Intenet, thông qua các cuộc hội thảo, các diễn đàn…để đẩy mạnh việc truyền đạo trái phép, tuyên truyền một số đạo lạ ở nhiều địa phương trong cả nước, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Qua đó chúng đẩy mạnh hoạt động phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và tôn giáo; kích động quần chúng đòi tự do tôn giáo, đòi li khai dân tộc… gây mất trật tự an ninh ở khu vực cả nước. Chúng lợi dụng những sơ hở, sai sót trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của ta để can thiệp chính trị. Những năm qua nhiều địa phương thực hiện chủ trương thu hồi, đền bù đất, giải phóng mặt bằng để phục phụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là quá trình tất yếu phải thực hiện. Tuy nhiên những xai sót trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ở không ít nơi làm cho nhu cầu sinh hoạt ở nhiều địa phương chưa được đáp ứng đầy đủ, đời sống vật chất của nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có đông tín đồ. Những xai phạm này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, một mặt làm suy giảm niềm tin của dân đối với Đảng, đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặt khác các thế lực xấu và thù địch đã lợi dụng triệt để vấn đề này để kích động quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền.
Đồng thời chúng tăng cường tuyên truyền, tác động để thực hiện việc chuyển hoá chế độ chính trị ở nước ta; kích động tâm lý kỳ thị, hẹp hòi, cực đoan, chia rẽ dân tộc; hình thành các tổ chức phản động của người dân thiểu số ở nước ngoài để tác động vào trong nước; lợi dụng việc nghiên cứu văn hoá, du lịch, tăng cường thâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; tuyên truyền và kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập các vùng dân tộc tự trị như “Vương quốc Mông tự trị”. “Nhà nước Đề Ga tự trị”, “Nhà nước Kherme Crôm”
Các thế lực thù dịch và chủ nghĩa đế quốc đã thông qua con đường du lịch, thăm thân, qua các hoạt động từ thiện…để thăm dò, khảo sát tình hình và phát tán các tài liệu, ấn phẩm có nội dung truyền đạo phản động vào các vùng dân tộc ở khu vực Miền Núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên. Tăng cường hoạt động xâm nhập vũ trang; xâm canh lấn chiếm; xuất nhập cảnh, khai thác vận chuyển khoáng sản, lâm sản trái phép, buôn bán trái phép; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng hạ tầng ở vùng biên giới, phát triển kinh tế mậu biên; đưa dân ra định cư ở các xóm giáp biên; duy trì hoạt động quân sự, tuần tra, kiểm soát biên giới…để tiếp tục “cường biên” . Thậm trí, chúng thông qua các cơ quan đại diện hợp pháp ở Việt Nam và qua các tổ chức tôn giáo để theo dõi tình hình tôn giáo ở nước ta, tìm ra những sai sót sơ hở của ta để can thiệp về chính trị, vu cáo ta “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”, từ đó chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, kích động quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền, gây sức ép với cán bộ và gây áp lực buộc ta phải thừa nhận tư cách pháp nhân của một số tôn giáo mới.
 Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo trong nuớc để phát triển đạo trong vùng dân tộc thiểu số, bao gồm cả các tà đạo và cả số lượng người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt đọng tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Việt Nam.


PHÁT HUY TINH THẦN ĐOÀN KẾT TRONG CHỐNG DỊCH COVID – 19



Hiện nay dịch COVID- 19 đã xuất hiện lây nhiễm nhanh ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Hà Nội, chúng ta bằng trí tuệ, đoàn kết Việt Nam hãy cùng chung tay khoanh vùng, dập dịch chiến thắng dịch COVID- 19 một lần nữa.
Hiện nay mới chỉ có hơn chục ca, mức độ lây lan trong cộng đồng ít, nếu như chúng ta nhanh chóng khoanh vùng được nguồn dịch, thì chúng ta mới chiến thắng được dịch. Muốn vậy, chúng ta phải nhanh chóng phát huy tinh thần đoàn két trong khai báo. Khai báo phải nhanh, phải chính xác, không được sót đối trượng. Để thực hiện tốt việc khai báo, chúng ta phải phát huy tinh thần tự giác, sự thành khẩn của mỗi cá nhân trong khai báo. Bên cạnh phát huy tính tự giác trong khai báo của từng cá nhân, chúng ta phải tăng cường phát hiện và kiểm tra việc khai báo và phải có biện pháp cứng rắn đối với thành phần không khai báo không trung thực. Nếu làm tốt được vấn đề trên, chúng ta chắc chắn sẽ khoanh vùng được dịch COVID-19 lần này.

Đường hướng hành đạo và chủ trương phát triển nhanh tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số của các tổ chức tôn giáo ảnh hưởng rất lớn đến công tác dân tôc, tôn giáo ở Việt Nam



Thời gian qua các tôn giáo, luôn thể hiện đường hướng hành đạo tiến bộ. Phật giáo: Đạo pháp- dân tộc- chủ nghĩa xã hội; Công giáo: Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục phụ hạnh phúc của đồng bào; Tin lành: Phụng sự thiên chúa, phụng sự Tổ quốc; Cao đài: Nước vinh- đạo sáng; Hoà hảo: Vì đạo pháp, vì dân tộc. Với các  đường hướng hành đạo mới, đồng bào các tôn giáo trên phạm vi cả nước đã tự giác, tích cực hiện thực hoá đường hướng hành đạo của tôn giáo mình, đồng thời đã góp phần to lớn cùng dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc nói riêng đã tạo nên nhiều thành công trong công cuộc đổi mới đất nước. Đặc biệt theo xu hướng hiện nay, các tín đồ, chức sắc tôn giáo đã nhập thế tích cực, không bó hẹp đời sống đạo trong các cơ sở thờ tự mà dấn thân, nhập cuộc vào xã hội, nhất là vào các vùng dân tộc thiểu số cùng với Đảng, Nhà nước và với cộng đồng các dân tộc giải quyết các vấn nạn xã hội, thực hiện an sinh xã hội…
Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc thay đổi đường hướng hành đạo và chủ trương phát triển nhanh tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số của các tổ chức tôn giáo cũng có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng ở nước ta.
Những năm gần đây tôn giáo Việt Nam có điều kiện phát triển mạnh, gắn với sự đa dạng về hình thức (hiện nay có 16 tôn giáo, với 43 tổ chức giáo hội, ngoài ra còn nhiều tổ chức chưa được pháp luật công nhận những vẫn hoạt động). Trong tương lai con số này chắc chắn sẽ không dừng lại. Sự đa dạng còn được thể hiện trong sự phong phú của thành phần tín đồ tôn giáo gồm rất nhiều tầng lớp, thành phần xã hội, và thể hiện trong sinh hoạt tôn giáo nhộn nhịp ở hầu hết các tôn giáo.
Trong xu thế mở rộng giao lưu dân tộc, một số tôn giáo mới sẽ có điều kiện tiếp tục phát triển nhanh gây xáo trộn, phức tạp, nhất là trong vùng dân tộc thiểu số.
Đối với các tôn giáo đang hoạt động một cách hợp pháp cũng có các phương thức, cách thức, biện pháp nhằm không ngừng mở rộng phạm vi tác động, gia tăng ảnh hưởng và thực hiện thu hút, vận động lôi kéo, phát triển tín đồ
 Các tôn giáo mới (chưa được pháp luật công nhận), đặc biệt là sự tham gia của các tà đạo. Cùng với các tà đạo đã và đang nén nút hoạt động, sẽ có thể xuất hiện các tà đạo mới trong vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Không ít các tôn giáo đã và đang làm đảo lộn trật tự xã hội truyền thống, làm sói mòn và thương tổn nặng nề đối với nền văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, ảnh hưởng, thậm trí làm biến đổi tư tưởng, tình cảm, tâm lý trong một bộ phận đồng bào theo đạo, tạo ra nhiều thách thức đối với quá trình giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dồng bào dân tộc.
Sự tồn tại và và phát triển của tôn giáo mới ở một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đã gây nên tình trạng chia rẽ dân tộc, gây mâu thuẫn giữa người theo đạo và người không theo đạo, mâu thuẫn giữa tín ngưỡng đa thần và tôn giáo độc thần, từ đó tạo cơ hội cho các thế lực xấu, các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng làm mất ổn định chính trị- xã hội, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc, đoàn kêt tôn giáo.
 Hoạt động in ấn, xuất bản, nhập các ấn phẩm, sách báo tài liệu…từ nước ngoài và lưu hành kinh sách, ấn phẩm tôn giáo trái phép; hiện tượng giảng đạo, truyền đạo trái phép; hiện tượng giảng đạo, truyền đạo trái pháp luật tiếp tục diễn ra ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng biển giới.
 Mặt khác tình hình di cư, dịch cư tự do của đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có cả lý do tôn giáo và diễn biến phức tạp khó kiểm soát, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi Tây Bắc và Tây Nguyên (ví dụ vấn đề Tin Lành Vàng Chứ xưng vua trong người Mông, Tin Lành Đề ga vùng Tây Nguyên)
 Các hoạt động tôn giáo phức tạp, vi pham pháp luật làm phương hại trực tiếp, có khi nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào tôn giáo.
Điển hình là các vụ khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo: xin đòi lại đất, cơ sở thờ tự có nguồn gốc tôn giáo đã giao cho nhà nước quản lý. Hiện tượng lấn chiếm hiến tặng, chuyển nhượng đất trái pháp luật của các nhân tín đồ tôn giáo cho các cơ sở tôn giáo diễn ra khá nhiều, có chiều hướng gia tăng. Một số việc làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết tôn giáo, dân tộc đã sảy ra thời gian qua, như vụ đòi đất ở 42 Nhà Chung, Quận Hoàn Kiếm và 178 Nguyễn Lương Bằng, Quận Đống Da Hà Nội; vụ Nhà thờ Công Giáo Tam Tòa, Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; vụ Cồn Dầu Thành phố Đà Nẵng; vụ việc liên quan đến dất dai Công Giáo ở Đan viện Thiên An, thừa Thiên Huế, vụ việc ở nhà thờ Tin Lành Phú Phong, tỉnh Bình Định v.v…
Sự mất đoàn kết nội bộ, hay xuất hiện tư tưởng ly khai trong một số tổ chức tôn giáo v.v…