Thứ Hai, 30 tháng 11, 2020

Những thành tựu cơ bản trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam

 


         Hơn 30 năm đổi mới là một chặng đường lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước và dân tộc Việt Nam. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, là sự nghiệp  cách mạng to lớn của nhân dân Việt Nam vì “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (Hồ Chí Minh), góp phần vào mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của thời đại.

        Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

  Bám sát tình hình thực tiễn thế giới và trong nước, từng bước tổng kết thực tiễn khái quát lý luận, khắc phục những quan điểm ấu trĩ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí và bảo thủ, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Nhân dân ta đã nâng cao nhận thức lý luận về CNXH, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó tiêu biểu là 8 đặc trưng cơ bản, 8 phương phướng, 8 mối quan hệ phải giải quyết trong công cuộc xây dựng CNXH. Có thể coi đó là đường lối chung để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

+ 8 đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; cón nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới”.

+ 8 phương hướng cơ bản xây dựng CNXH

+ 8 mối quan hệ lớn cần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt.

        Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

          Đảng ta đã quyết định từ bỏ mô hình tập trung bao cấp, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất.

Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông  nghiệp, dịch vụ, coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.

 Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng nền kinh tế độ lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong giai đoạn 2001- 2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26 lần so với năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1168 USD, năm 2014 là 1900 USD/ người.

Trong 5 năm 2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái kinh tế toàn cầu nên  nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP bị giảm sút. Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 17,5%. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm xuống. Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6%. Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng lên ( năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

Nợ công trong giới hạn cho phép và có xu hướng giảm[3]. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới, bổ sung và mua cổ phần trong 9 tháng đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3%; vốn FDI thực hiện đạt kỷ lục 12,5 tỷ USD, tăng 13,4%. Thị trường chứng khoán vượt 800 điểm, cao nhất kể từ năm 2008 (ngày 20/10/2017 đạt 826,84 điểm); mức vốn hóa đạt trên 93% GDP[4]; đưa thị trường chứng khoán phái sinh vào hoạt động. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm khoảng 33,4% GDP, tăng 12,6%.

Tính đến hết tháng 9, xuất khẩu tăng 20%, trong đó rau quả tăng 43,4%, hạt điều tăng 25,6%, thủy sản tăng 19,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 41,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 29,7%; điện thoại và linh kiện tăng 23,6%[5]. Nhập khẩu tăng 22,7%; xuất siêu 328 triệu USD. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường.

Trong 9  tháng có gần 94 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 15,4%; tổng vốn đăng ký tăng 43,5%; có trên 21 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 2,1 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Phần lớn doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn[6]. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2017 - 2018 tăng 5 bậc, lên thứ 55/137 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 6,41%[7], ước cả năm đạt 6,7%. Đạt được kết quả này là nhờ cả 3 khu vực tăng trưởng khá đồng đều: Nông nghiệp tăng 2,78% (gấp hơn 4 lần cùng kỳ), trong đó thủy sản tăng cao 5,42%; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước cả năm đạt 35 tỷ USD. Công nghiệp và xây dựng tăng 7,17%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%. Khu vực dịch vụ tăng 7,25%, cao nhất kể từ năm 2008. Thu hút khách du lịch đạt kỷ lục, khách quốc tế đạt 9,45 triệu lượt, ước cả năm 13 triệu lượt, tăng 30%; khách trong nước đạt 57,9 triệu lượt, ước cả năm 75 triệu lượt, tăng 12%.

        - Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong  từng chính sách và từng bước phát triển.

 - Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn hóa, con người Việt Nam.

       - Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với  khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu.

      - Phát triển khoa học công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFT) vào tăng trưởng.

       - Quan tâm thực hiện các chính sác xã hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Mỗi năm tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước gỉam 1,5-2%/ năm. Giảm nghèo của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.

       Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp..

        Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

        -  Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa binh, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

- Phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của nhân loại… để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước.

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

- Mở rộng quan hệ quốc tế

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao  với 170 nước ( trong đó xác lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước), quan hệ thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ, ký trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt nam ngày càng được nâng lên.

        Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

          - Xây dựng Đảng

         Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Nội dung xây dựng Đảng bao gồm xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, phương thức lãnh đạo và phong cách công tác. Mục đích nhằm xây dựng Đảng trong sạch ,vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới; phòng và chống những nguy cơ lớn đối với một Đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, mất dân chủ và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Đảng khẳng định phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định nguyên tắc tập  trung dân chủ, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ hoặc chủ quan, nóng vội, cực đoan.

        Đảng tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đổi mới; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, khắc phực suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống âm mưu  và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng và nhân dân.

        Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm từng tổ chức, sáp nhập một số ban, bộ, ngành Trung ương để giảm bớt đầu mối, thực hiện cải cách hành chính trong Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng.

        Chú trọng kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên.

        Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ đồng bộ các khâu của công tác cán bộ (đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng và chính sách cán bộ). Đổi mới và tăng cường công tác dân vận; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội.

          - Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

        Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương các cấp.

          - Phát huy quyền làm chủ của nhân dân

        Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp đổi mới. Dân chủ  gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật,. được pháp luật bảo đảm.

 Quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

- Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

- Nhận thức về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; về quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát triển.

- Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

- Chủ trương, giải pháp trong chiến lược quốc phòng, quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường.

 - Kết hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

 - Đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm.

Việt Nam thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình

 


Những năm đầu thế kỷ XX trở lại đây, tốc độ gia tăng dân số của Việt Nam ngày càng tăng nhanh. Giai đoạn năm 1921đến năm 1945, dân số Việt Nam tăng khoảng 9,5 triệu người. Giai đoạn năm 1945 đến năm 1995 dân số tăng khoảng 48 triệu người. Nếu tính từ năm 1921 đến năm 1995, trong khoảng 74 năm dân số Việt Nam tăng khoảng 4,5 lần so với số lượng khoảng 58,5 triệu người, cũng trong thời gian này, dân số thế giới tăng khoảng 2,9 lần. Nếu chỉ tính từ năm 1975 đến năm 1990, dân số Việt Nam tăng thêm khoảng 18,6 triệu người, trong khi đó ở Châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu người (riêng Pháp là 1,8 triệu người) và Nhật Bản tăng 12 triệu người. Đây là thời kỳ diễn ra “bùng nổ dân số” dữ dội nhất ở Việt Nam. Từ năm 1979 đến nay, tỷ lệ tăng dân số giảm dần, tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay, hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người.

Đến năm 2016, tổng tỷ xuất sinh- TFR (số con sinh ra bình quân của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) là 2,09 con/người phụ nữ, trong đó thành thị là 1,86 con/ người phụ nữ và nông thôn là 2,21 con/người phụ nữ. Đây là chỉ số thấp hơn mức sinh thay thé được tinh bằng 2,1 con/người phụ nữ.

Từ 0 giờ ngày 01 tháng 04 năm 2019, tổng dân số Việt Nam là 96. 208.884 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%.

Có thể nói chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam được thực hiện tốt do nhiều yếu tố: Đảng có chủ trương đúng đắn, Nhà nước có chính sách phù hợp chặt chẽ, nhân dân đồng tình ủng hộ thực hiện nghiêm túc. Có thể nói với ý thức tự giác, tinh thần yêu nước nồng nàn… toàn thể dân tộc Vietj Nam luôn đoàn kết, chung tay thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (chủ trương: mỗi cặp vợ chồng sinh để từ 1 đến 2 con đã trở thành tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam từ những năm 1979 đến nay)

Cần phải có nhiều biện pháp để người dân đeo khẩu trang trong tình hình hiện nay

 


Hiện nay về cơ bản Việt Nam đã khống chế được dịch COVID- 19, Tuy nhiên nguy cơ lây nhiễm dich trở lại rất cao bởi vì, chúng ta có thể khống chế được trong nội địa, nhưng ở ngoại địa chúng ta còn nhiều lỗ hổng. Đó là tình trạng vượt biên trái phép từ biên giới đất liền giữa các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc, từ biển đông vào; vấn đề nhập cảnh theo chủ trương hội nhập của ta với các nước; sự lây nhiễm COVID – 19 trong cộng đồng còn nhiều tiềm ẩn hình thức mà con người chưa phát hiện ra…Những vấn đề trên chúng ta chỉ sơ xảy một chút là COVID-19 sẽ xâm nhập vào Việt nam. Hiện nay trong xã hội có rất nhiều người chủ quan, nhất là việc đeo khẩu trang, nếu chúng ta không thực hiện nghiêm việc đeo khẩu trang, khi dịch bùng phát trở lại, chúng ta sẽ không kịp trở tay chống dịch. Để người dân nắm vững và thực hiện tốt vấn đề đeo khẩu trang, xin đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải đeo khẩu trang trong tình hình hiện nay.

Công tác giáo dục, tuyên truyền cần phải phong phú, đa dạng để mọi người dân nhận thức sâu sắc về vấn đề đeo khẩu trang. Thực hiện tốt giáo dục trong nhà trường, trong các tổ chức, đơn vị, các cấp, các ngành và toàn xã hội. Gắn việc đeo khẩu trang với tổ chức phong trào thi đua, các cuộc vần động, các cuộc thi. Mọi cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước, lực lượng vũ trang là lực lượng tiên phong, đi đầu trong đeo khẩu trang…

Hai là, thực hiện tốt việc xử phạt đối với người dân không đeo khẩu trang. Phải gắn việc xử phạt bằng tiền với xử phạt trách nhiệm. Gắn xử phạt với xây dựng văn hóa.

Hiện nay nếu như chúng ta thực hiện tốt hai biện pháp trên chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện tốt việc đeo khẩu trang trong chống dịch COVID-19.

 

Quy mô dân số Việt Nam thời kỳ độc lập và tự chủ


Thời Ngô- Đinh- Tiền Lê

Từ sau khi Khúc Thừa Du tự xưng là Tiết Độ sứ, Người Việt bắt đầu khôi phục quyền tự chủ. Đương thời phương Bắc rơi vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, giao tranh liên miên không dứt. Ngay từ cuối thời Đường khi loạn Hoàng Sào bùng nổ làm mấy trăm vạn bá tính Giang Nam bỏ mạng, đã có rất nhiều người chạy xuống phương nam để tránh chiến họa, trong đó có cả nhiều thủ lĩnh Trung Hoa chạy loạn xuống Tĩnh Hải quân lập ấp mà con cháu họ sau này trở thành các sứ quân như Đỗ Cảnh Thạc và sứ quân Trần Lãm. Năm 906, tướng Nguyễn Lê theo lệnh vua Đường đem 70.000 quân sang nước Việt đòi họ Khúc triều cống, Nguyễn Nê dựng bản doanh ở Thành Quả, không đem quân quyết chiên mà lại lấy vợ Việt và sinh ra 3 con trai sau này là các sứ quân Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu. Binh sỹ đi theo phần nhiều cũng ở lại bản địa, lấy vợ sinh con, không về Bắc nữa. Năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đến mùa xuân năm 939 thì chính thức xưng vương, tức là Tiền Ngô Vương, đóng đô ở Cổ loa, lập Dương Thị làm hoàng hậu; đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Dưới thời Ngô vương, dân số Việt Nam có khoảng 3.600.000 người. Năm 944, Ngô vương băng hà, Việt Nam rơi vào loạn 12 sứ quân. Các sứ quân liên tục tranh giành nhau, giáo chiến không ngừng sau nhiều năm liền. Binh lính và dân chúng bỏ mạng vô số. Đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh trấn áp quần hùng, thống nhất thiên hạ, lên ngôi Hoàng Đế, tự xưng là Đại thắng Minh Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Cả nước có khoảng 3.500.000 người.

Năm 981, Lê Hoàn lên ngôi vua, lập ra nhà tiền Lê, chỉ huy quân dân đánh tan quân Tống xâm lược, đồng thời dẹp tan các thế lực chống đối trong nước.

Ước tính khi ngô vương mới giành được độc lập, Việt Nam có khoảng 3,5 triệu nhân khẩu. Đến khi Lê Hoàn đánh tan quân Tống, thiên hạ trải qua nhiều năm chinh chiến, từ loạn 12 sứ quân đến họa xâm lăng và nhiều năm thanh trừng các thế lực chống đối trên toàn quốc của vua Lê Đại Hành, cả nước chỉ còn khoảng 3 triệu người.

Thời Lý - Trần.

Sau khi Lê Đại Hành băng hà ở điện Trường Xuân năm 1005, con là Long Việt lên ngôi, xưng Lê Trung Tông- Trung Tông ở ngôi được 3 ngày thì bị em là Lê Long Đĩnh giết chết để cướp ngôi. Đương thời chính sự thối nát, nhà vua tàn bạo hoang dâm lên lòng người không phục. Năm 1009, Ngọa Triều qua đời lúc 24 tuổi, Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn được quần thần tôn lên ngôi vua, lập ra nhà Lý, đặt niên hiệu thuận thiên. Năm 1054, Lý Thái Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt, tiến hành đại xá thiên hạ, đồng thời thống kê dân số toàn quốc được hơn 3.790.000 nhân khẩu. Năm 1226 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông. Triều Trần chính thức bước lên vũ đài thay thế triều Lý. Thời Trần các nam đinh được chia thành 3 hạng: hạng tiểu hoàn nam (từ 18 tuổi đến 20 tuổi), hạng đại hoàng nam (từ 20 đến 60 tuổi) và hạng lão (trên 60 tuổi). Khi quân Mông Cổ đánh bại nhà Nam Tống, một số quan lại địa phương nhà Tống đã quy phụ nhà Trần…

Thời nhà Hồ và Thuộc Minh

Theo Minh sử, năm 1408 nhà Minh kiểm soát 3.12.000 người và 2.087.500 người Man trên đất Đại Ngu cũ.

Thời Hậu Lê

Thời Lê sơ

Sauk hi đánh đuổi quân Minh xâm lược, khôi phục chủ quyền, Lê thái Tổ rất quan tâm chú ý đến việc phục hồi sức dân, tái ổn định đất nước sau 20 năm chiến loạn. Ông đã cho quân lính trở về nhà tham gia sản xuất, chỉ giữ lại 10 vạn quân trong tổng số 35 vạn để canh giữ đất nước. Triều đình đem những tù binh người Minh vào phương Nam khia khẩn đất hoang, tăng cường sản xuất. Nhờ những chính sách đó mà dân số Việt Nam tăng mạnh trở lại. Năm 1490, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách hành chính trên toàn quốc, đổi phủ thừa tuyên thành các xứ. Như vậy trên cả nước có 13 xứ, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 37 phường, 6.851 xã , 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường. Mỗi xã thường không quá 500 hộ, nếu nhiều hơn 700 hộ thì sẽ tách ra làm 2 xã nhỏ. Theo cách tính này thì đến năm 1490, toàn quốc có khoảng 8 triệu nhân khẩu.

Thời nhà Lê Trung hung

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê, lập ra nhà Mạc. Vài năm sau, chiến tranh Nam Bắc triều nổ ra và lan ra mạnh mẽ trên cả nước. Cuộc nội chiến kéo dài 60 năm khiến cho cả một vùng Nghệ An xơ xác điêu tàn “trăm dặm không thấy bóng người”. Các nhà nghiên cứu tổng kết, trong 60 năm chiến tranh (1533- 1592) giữa Lê và Mạc đã diễn ra 38 trận lớn nhỏ, cả hai bên đều huy động gần hết các lực lượng lao động chính trong xã hội vào cuộc chiến cùng những nhân tài, vật lực trong tay. Sau mỗi trận đánh, lực lượng mới lại được huy động để bù đắp cho lực lượng tổn thất trên chiến trường.

Cuộc chiến đã tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân lao động. Sản xuất bị đình trệ, ảnh hưởng lowbs đến đời sống toàn quốc…Năm 1750, Đàng trong thống kê được khoảng 1.500.000 người, còn đàng ngoài là khỏng 4000.000 người.

Thời nhà Nguyễn

Năm 1802, Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn, nước Đại Việt có 5.780.000 người. Đến năm 1836 thì vua Minh Mạng hoàn thành công cuộc lập địa bạ trên toàn quốc (hiện nay còn lưu giữ được 10.044 tập gồm 15.000 quyển địa bạ) là kho tang vô giá để mô tả cương vực nước Việt ở từng ngôi làng, từng mảnh ruộng. Dân số Nhà Nguyễn thống kê được 7.764.128 người.

Năm 1858, quân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, đến năm 1883 thì hoàn tất. Tính chung Bắc Kỳ có 37 phủ, 88 huyện, 38 châu, gồm 1264 tổng, 10105 xã, 29 mường, 2141 bản và 4 đạo quan binh ở vùng biên giới. Trung kỳ có 3 đạo, 33 phủ, 58 huyện, 541 tổng, 9093 xã  và 6 thành phố. Nam kỳ có 78 quận, 197 tổng kinh và 10 tổng Thượng, 1470 xã. Năm 1870 Việt Nam có khoảng 10.000.000 người, đến năm 1901 thuộc Pháp là 13.000.000 người và tăng lên 22.600000 vào năm 1943. 

Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng đổi mới trong Cương lĩnh Chính trị năm 1991 và quá trình thực hiện qua các nhiệm kỳ Đại hội

 


Đại hội VII của Đảng (6-1991) là một bước phát triển đặc biệt quan trọng của quá trình đổi mới, với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 

+ Quan niệm tổng quát nhất về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng cơ bản để phấn đấu đạt tới xã hội đó.

 + Khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động;

+ Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

+ Khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân;

+ Khẳng định xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một phương hướng chiến lược lớn;

+ Khẳng định chính sách đối ngoại hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.

 Đại hội VIII của Đảng (6-1996) khẳng định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục làm rõ hơn quan niệm về chặng đường đầu tiên và chặng đường tiếp theo trong thời kỳ quá độ; chỉ rõ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020; xem đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; tiếp tục coi phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.

 Đại hội IX của Đảng (4-2001)

Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội nêu lên ba nội dung có tính chất đột phá:

1- Đánh giá sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn vị trí, vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh, coi “tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam...”, khẳng định “tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”;

2- Khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;

3- Coi việc “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một nhân tố rất cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội”, theo đó, “động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội”.

Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn của 20 năm đổi mới (1986-2005), Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

- Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”4.

 - Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”5.

- Bổ sung và phát triển một số nội dung trong Cương lĩnh trên cả hai mặt: đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng để đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

+ Đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

Do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”6.

- Phương hướng chủ yếu xây dựng CNXH

+ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;

+ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội;

+ Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc;

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;

+ Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh;

+ Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia;

+ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”7.

- Đại hội XI, tiếp tục bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm (2011)

+ Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiệm lớn:

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết:

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 + Đặc trưng xã hội XHCN mà VN xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

+ Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

+ Các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

+ Nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: 

Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển;

Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;

Giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa;

Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;

Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;

Giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;

Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;

Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ...

Đại hội XII, tổng kết 30 năm đổi mới: Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Quy mô dân số Việt Nam thời kỳ Tùy Đường

 


Năm 581, Tùy Văn Đế Dương Kiên kiến quốc, đến năm 589 thì quân Tùy nam hạ diệt Trần, lãnh thổ Việt Nam lại chịu sự cai trị của Nhà Tùy. Năm Vũ Đức thứ 5 (622), Nhà Đường sau khi lên thay nhà Tùy, đã đặt ra tổng quản phủ Giao Châu (Giao Châu tổng quản phủ), quản lãnh 10 châu: Giao Châu, Phong Châu, Aia Châu, Tiên Châu, Diên Châu, Tổng Châu, Từ Châu, Hiếm Châu, Đạo Châu, Long Châu, bao trùm miền bắc Việt Nam. Quan đứng đầu phủ Giao Châu là đại tổng quản Khâu Hòa vốn là thủ lĩnh Giao Chỉ.

Năm 679, Giao Châu đô đốc phủ đổi thành An Nam đô hộ phủ, chia làm 12 châu, trong đó có Giao Châu mới gồm 8 huyện: Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Giao Chỉ, Bình Đạo, Vũ Bình, Nam Định, Thái Bình và chỉ là một phần nhỏ của miền Bắc Việt Nam. 11 Châu còn lại là: Lục Châu, Phúc Lộc Châu, Phong Châu, Thang Châu, Chi Châu, Võ Nga Châu, Võ An Châu, Aias Châu, Hoan Châu, Diễn Châu, Trường Châu. Quan cai trị An Nam đô hộ phủ gọi là đô hộ. Theo số liệu thống kê của nhà Đường, ở quận Giao chỉ có 9 huyện 60.112 hộ; quận Cửu Chân có 7 huyện 33. 286 hộ; quận Nhật Nam có 8 huyện 12.047 hộ, quân Ninh Việt ở phía Đông Bắc, gồm Khâm Châu không rõ số dân; 3 quận mới chiếm của Lâm Ấp là quân Tỷ Ảnh có 4 huyện 4.305 hộ, quận Hải Âu có 4 huyện 2.457 hộ.

Đến trung kỳ thời Đường, nước Nam Chiều của người Bạch nổi lên mạnh mẽ, trong khi nhà Đường lại bị suy yếu vì những sung đột nội bộ. Đường và Nam Chiếu thường xuyên xung đột, đỉnh điểm là việc quân Đường đại bại ở Hạ Quan, quân Nam Chiếu thừa cơ tỏa đi chiếm toàn bộ các vùng đất thuộc Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên ngày nay. Đồng thời quận Nam Chiếu cũng thường xuyên xuôi dòng sông Hồng dánh phá An Nam thuộc Đường. Mỗi lần đánh phá An Nam, quân Nam Chiếu đều tàn sát dân địa phương, cướp doạt vô số của cải Nhà Đường tỏ ra bất lực và quân Đường chỉ quay lại khi quân Nam Chiếu đã rút đi. Năm 863 Đoàn Tú Thiên lại tiến vào An Nam, đánh bại quân Đường. Sái Tập bị giết. Quân Nam Chiếu chiếm đóng và cướp phá, giết hại tới 15 vạn người Việt. Sau đó vua Nam Chiếu sai Đoàn Tú Thiên ở lại Giao Châu làm tiết độ Sứ. Nhà Đường phải di chuyển Phủ Đô hộ An Nam đến Hải Môn. Năm 864, Nhà Đường sai Cao Biền làm An Nam Đô hộ kinh lược chiêu thảo sứ sang đánh Nam Chiếu. Năm 865, Cao Biền tiến đến Nam Định, nhân lúc quân Nam Chieéu đang gặt lúa. Bất ngờ đánh úp, phá tan quân Nam Chiếu. Tới năm 867. Cao Biền đánh bại hoàn toàn người Nam Chiếu tại An Nam, chiếm lại thành Tống Bình, giết chết Đoàn Tú Thiên, chém hơn 3 vạn quân Nam Chiếu. Từ đó sự xâm lấn của Nam Chiếu mới chấm dứt. Nhà Đường chia nhỏ thành các phủ, dưới phủ là huyện rồi đến hương xã. Các xã cũng không đều nhau, có hạng lớn thì 40-60 hộ, hương nhỏ từ 70-150 hộ, lớn từ 160-540 hộ.

Năm 863, Đương ý Tông thăng An Nam đô hộ phủ làm Tính Hải quân, cho Cao Biền làm tiết độ Sứ, và sau là Cao Tầm, Tăng Côn, Tạ Triệu, An Hữu Quyền, Chu Toàn Dục và Đốc Cô Tốn. Năm 905, Đốc Cô Tốn bị Chu Ôn đầy đi Hải Nam giết chết do không cùng vây cánh. Trong lúc nhà Đường chưa kịp cử quan cai trị mới sang trấn nhậm, một hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm lấy thủ phủ Đại La, tự xưng là tiết độ Sứ. Chu Ôn đang mưu cướp ngôi nhà Đường, đã nhân danh vua Đường thừa nhận Khúc Thừa Dụ, từ đó người Việt bắt đầu khôi phục quyền tự chủ. Tỉnh Hải quan lúc này gồm có 12 Châu là Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Thang, Trường, Chi, Vũ Nga, Vũ An, Ái, Hoan, Diễn. Lãnh thổ 12 Châu này bao gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, kéo dài tới phái Bắc Hoành Sơn, thêm một phần phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay. Tuy nhiên sang thời nhà Ngô (939-967), lãnh thổ Tĩnh Hải quân chỉ còn 8 Châu là Giao, Lục, Phúc lộc, Phong, Trường, Ái Hoan, Diễn. Bốn châu: Thang, Chi, Vũ Nga và Vũ An về Nam Hán. Việc thu hẹp lãnh thổ phía Bắc này không được sử sách ghi chép rõ. Không có ghi chép rõ ràng về dân số Việt nam thời kỳ này.

Tư tưởng chủ quan và sự chấp hành không nghiêm túc còn đè nặng ở một số người dân Việt Nam trong chống dịch COVID-19

 


Chúng ta đã nói nhiều đến tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, trách nhiệm, ý chí quyết tâm của người dân Việt nam trong chống dịch COVID-19. Tuy nhiên trong chống dịch COVID-19, ngoài những mảng sáng còn có nhiều khoảnh tối. Khoảnh tối đó chính là tâm lý chủ quan, ý thức trách nhiệm của một số người trong chống dịch COVID-19 trong thời gian gần đây.

Đó là vấn đề đeo khẩu trang, vấn đề thực hiện giãn cách xã hội và các biện pháp phòng chống dịch khác. Hiện nay qua quan sát, phần lớn người dân chấp hành rất tốt việc đeo khẩu trang ở nơi công cộng. Tuy nhiên có một số người vì tâm lý chủ quan cộng với ý thức trách nhiệm hạn chế nên không đeo khẩu trang. Đây là vấn đề các cấp, các ngành, cấp ủy đảng, chính quyền cần phải vào cuộc và thực hiện nghiêm túc việc tuyên truyền, vận động, cùng với sử phát nghiêm minh. Có như vậy chúng ta mới khắc phục được vấn đề tren.

Quy mô dân số việt Nam thời kỳ Bắc thuộc

 


Thời nhà Triệu đến thời kỳ Nam- Bắc triều.

Sau khi nhà nước Âu Lạc bị Triệu Đà tiêu diệt năm 179 TCN, lãnh thổ và dân số Việt Nam bị sáp nhập vào các triều đại Trung Hoa, do đó việc thống kê nhân khẩu Việt Nam giai đoạn này phải dựa trên các ghi chép trong các bộ thư tịch cổ của Trung Quốc.

Triệu Đà chia lãnh thổ Âu Lạc cũ làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Bên dưới cấp quận không có đơn vị hành chính khác. Sử sách ghi nhận tại 2 quận này có 60 vạn dân thời Triệu.

Đa số cư dân Nam Việt là người Bách Việt cũ cùng khoảng 100 ngàn người Hán di cư từ phía Bắc, nhóm này nắm giữ hầu hết chức vụ chủ chốt trong chính thể Nam Việt. Họ bao gồm con cháu của các thương gia, binh sỹ Tần được gửi xuống chinh phục phía Nam với những thanh nữ phục vụ nhu cầu tình dục trong quân đội, các lại thuộc và cả tội phạm nhà Tần bị lưu đầy. Người Âu Việt sinh sống tại khu vực phía Tây Quảng Đông, họ tập trung chủ yếu dọc lưu vực các con sông như Taamg Giang, Tây Giang và khu vực phía Nam sông Quế Giang. Những con cháu của Dịch Hu Tống, thủ lĩnh Âu Việt bị quan Tần giết vẫn nắm giữu là vai trò thủ lĩnh của các thị tộc Âu Việt. Đến khi Nam Việt bị Hán diệt, khu vực quận Quế Lâm đã có khoảng vài trăm ngàn người Âu Việt sinh sống. các thị tộc Lạc Việt sinh sống ở khu vực ngày nay là nam Quảng Tây và bắc Việt Nam, và lưu vực sông Bàn ở Quý Châu.

Theo Tiền Hán thư thì số dân 7 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời thuộc Hán thuộc vào năm 2 như sau: Quận Nam Hải có 6 huyện, 19613 hộ, 94.253 người; Quận Uất Lâm có 12 Huyện, 12.415 hộ,71.162 người; Quận Thượng Ngô có 10 Huyện, 15.398 hộ, 146.160 người; Quận Hợp Phố có 5 huyện, 30.796 hộ, 78.980 người; Quận Giao Chỉ có 10 huyện, 92.440 hộ, 746.237 người; Quân Cửu Chân có 7 huyện, 35.743 hộ, 166.013 người; Quận Nhật Nam có 5 huyện, 15.460 hộ, 69.485 người.

Thời điểm Hai Bà Trưng khởi nghĩa (năm 40) ước tính Việt Nam có khoảng gần 2 triệu nhân khẩu.

Năm Quang Hòa thứ 7 (năm 148 SCN) đời Linh Đế nhà Đông Hán, quận Giao Chỉ có 11 huyện, 209.304 hộ, 1.387.144 nhân khẩu; quận Cửu Chân có 5 huyện, 93.026 hộ, 419.780 nhân khẩu; quận Nhật Nam có 5 huyện, 43.628 hộ, 138.952 nhân khẩu.

Sau khi nhà Hán sụp đổ, ở phương Bắc hình thành cục diện Tam Quốc, lãnh thổ Việt nam tương ứng với Giao Châu của Đông Ngô, do nhà Ngô đã tách giao Châu cũ thành Giao Châu mới (Bắc và Trung Bộ Việt Nam) và Quảng Châu (bao gồm Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay). Ngay từ cuối thời Đông Hán khi loạn Hàng Cân bùng phát, chiến tranh đã lan ra khắp Trung Nguyên kéo dài suốt hơn trăm năm cho đến khi Tây Tấn tiêu diệt Đông Ngô, thống nhất thiên hạ. Trong suốt khoảng thời gian đó, chiến loạn triền miên dẫn đến dân số của Trung nguyên sụt giảm nghiêm trọng và dân số của Giao Châu cũng bị kéo theo xu thế này. Theo ghi chép, Khi nhà Tấn diệt Ngô đã tiến hành điều tra dân số toàn quốc thì đất giao Châu chỉ còn hơn 53.278 hộ, 241.532 nhân khẩu. Cần chú ý rằng ở thời điểm này quận Nhật Nam đã bị Lâm Ấp chiếm mất nên đất Giao Châu thuộc Tấn chỉ còn 3 quận Hợp phố, Cửu Chân và Giao Chỉ, và cũng do lúc này chiến loạn mới dứt, thiên hạ chưa ổn định nên việc thống kê có thể không chính xác dẫn đến các con số ít hơn thực tế, khoảng một nửa hoặc một phần ba.

Sau khi nhà Tây Tấn sụp đổ do Loạn bát vương và biến động Ngũ Hồ loạn Hoa, Việt Nam lần lượt thuộc về Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Nam Lương, Nam Trần. Trong thời kỳ Nam Bắc triều, chính trị phương Bắc biến loạn liên tục, giao tranh liên mien nên có nhiều bộ phận dân cư chạy về phương nam, đa phần lưu trú ở Quảng Châu, một bộ phận chạy xuống tận Giao Châu và hợp với một số quận khác để lập ra Việt Châu. Khi đó Giao Châu chia ra thành 8 quận, bao gồm: Giao Chỉ, Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức, Nhật Nam, Nghĩa Xương, Tống bÌnh (Tóng thư chỉ liệt kê tên gọi của 7 quận).

Thực hiện tốt vấn đề đeo khẩu trang trong chống dịch COVID- 19

 


Với quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân, cho đến hôm nay, Việt Nam cơ bản đã khống chế được dịch COVID19. Tuy nhiên nghuy cơ lây nhiễm dich trở lại rất cao bởi vì, chúng ta có thể khống chế được trong nội địa, nhưng ở ngoại địa chúng ta còn nhiều lỗ hổng. Đó là tình trạng vượt biên trái phép từ biên giới đất liền giữa các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc, từ biển đông vào; vấn đề nhập cảnh theo chủ trương hội nhập của ta với các nước…Những vấn đề trên là những tác nhân, nguy cơ rất cao bùng phát trở lại dịch COVID-19. Tuy nhiên, nếu chúng ta phòng đúng cách chúng ta cũng sẽ chiến thắng được dịch. Chúng ta phải thực hiện nhiều biện pháp trong chống dịch, tuy nhiên có một biện pháp hữu hiệu nhất dó là vấn đề đeo khẩu trang đúng cách, mọi lúc, mọi nơi. Nếu trong cộng đồng người Việt Nam hiện nay, ai nấy đều tuân thủ nghiêm ngặt việc đeo khẩu trang thì khi dịch bùng phát trong cộng đồng thì nguy cơ lây nhiễm không cao, và như vậy chúng ta chỉ có khoanh vùng với phạm vi nhỏ thì chúng ta đã chiến thắng được dịch rồi.

 

Quy mô dân số Việt Nam Thời kỳ Văn Lang- Âu Lạc

 


Thời Hùng Vương Việt Nam hoàn toàn không có các tài liệu về thống kê chính thức dân số, có thể là do các đời Vua Hùng không tiến hành thống kê nhân khẩu hoặc trải qua hàng ngìn năm Bắc thuộc với nhiều lần chiến loạn nên các tài liệu thư tịch cổ bị thất lạc mất, không thể tìm ra được. các nhà sử học cả phong kiến và đương thời, ước tính đến cuối thời Văn Lang, Việt nam có khoảng 1000.000 dân, chủ yếu phân bố ở khu vực trung hạ du sông Hồng và Sông Mã.

Năm 258 trước công nguyên, Vua Tộc Âu Việt là Thục Phán đem quân đánh bại Vua Hùng đời thứ 18, sáp nhập lãnh thổ Văn Lang của người Lạc Việt, hai tộc người Âu Việt và Lạc Việt hợp nhất thành một, Thục phán lên ngôi Vua lấy hiệu là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng phái tướng Đỗ Thư đem 50 vạn quân đi bình định các dân tộc Bách Việt, nhưng sau tướng Đỗ Thư bị giết trong một cuộc tập kích, quân Tần buộc phải bãi binh do Chủ tướng tử trận và các cuộc bạo loạn ở Trung nguyên. Sau cuộc chiến, hơn 10 vạn quân Tần thiệt mạng và khoảng 10 vạn bị quân Âu Lạc bắt làm tù binh, bị đầy đi khai hoang ở các miền xã xôi. Sau khi nhà Tần suy yếu và sụp đổ, phương Bác chìm trong chiến loạn từ nhiều năm. Các thế lực quân phiệt, tiêu biểu là Hán Lưu Bang và Sở Hạng Vũ, giao tranh quyết liệt để tranh giành đất đai. Dân chúng thường bị vạ lây sau các trận chiến, do các thủ lĩnh quân sự thường tàn sát dân chúng khắp vùng nếu đối phương kháng cự quyết liệt. Tiêu biểu là Lưu Bang đã làm cỏ bách tính ở Vĩnh Dương, còn Hạn Vũ đã giết sạch dân ở Tương Thành và tàn sát 20 vạn hàng binh nước Tần. Do đó đã có nhiều người dân đã chạy xuống phương nam để lánh nạn , mà đa phần là đến vùng Lưỡng Quảng (thuộc nước Nam Việt của Triệu Đà, tướng cũ của Nhà Tần), tuy nhiên, có một bộ phận chạy xuống tận Âu Lạc, sống chung với người Bách Việt. Theo ước tính, thời Âu Lạc Việt Nam có khoảng 70- 80 vạn dân, bao gồm toàn bộ dân cư Lạc Việt cũ, dân cư Âu Việt mới sáp nhập và các nạn dân từ phương Bắc chạy đến để tránh chiến loạn.