Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2020

Cảnh giác với luận điệu phản động




Bài viết “Lòng dân thể hiện thế nào?” đăng trên Tiếng Dân ngày 24/12/2020 là dã tâm thâm độc và âm mưu của Dương Quốc Chính (DQC). Thực tế, DQC đã mượn cớ bàn về lòng dân thông qua việc nói đến dân chủ và lòng dân trong chế độ phong kiến, lòng dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để quy kết phản động và kích động tâm lý người dân rằng: “Một chế độ đã vỗ ngực tự nhận là được lòng dân thì tại sao không dám để tự do đa nguyên đa đảng, tự do bầu cử, ứng cử? Được lòng dân rồi thì bầu cử kiểu gì chả thắng, thế lực thù địch làm sao mà chen chân vào được? Hỏi tức là trả lời!”.


Dùng ngôn ngữ để xảo biện vốn là nghề của các anh hùng bàn phím/những người luôn mượn danh dân chủ, yêu nước để đòi đa nguyên, đa đảng đối lập ở Việt Nam; đòi tự do bầu cử và ứng cử… Chuyện sẽ không có gì đáng nói nếu DQC không tiếp cận vấn đề này từ góc độ “vấn đề lòng dân”.


Ở Việt Nam, lòng dân hiển hiện rất rõ trong suy nghĩ, hành động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân vào chủ trương, đường lối và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt hơn 90 năm qua kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước ngày càng phát triển phồn vinh, bền vững…


Vì thế, DQC dù phiếm luận và mưu mô bàn về “vấn đề lòng dân” thế nào cũng không thể xuyên tạc được sự thật lịch sử đã, đang và sẽ diễn ra trên dải đất hình chữ S này. Nói với DQC rằng, “lòng dân Việt Nam” vốn là thế này:


1. Trải qua bao thăng trầm, lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng: “Dân là gốc” và “nước lấy dân làm gốc”.


Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam ghi nhận rằng, nước lấy dân làm gốc từng được nhà Trần vận dụng thành công, góp phần làm nên thắng lợi của triều Trần với 3 lần chiến thắng quân Mông – Nguyên. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã đúc kết bài học qúy báu đó thành “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc chính là thượng sách giữ nước”để căn dặn con cháu muôn đời. Sau đó, tiếp tục vận dụng bài học kinh nghiệm đó, việc huy động sức mạnh của toàn dân và chính thành lũy lòng dân đồng tình ủng hộ đã góp phần làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, trong Cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi khẳng định “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”…


Sau này, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa nông dân kéo dài nhất trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp há chẳng phải là minh chứng thuyết phục và sinh động về lòng dân và niềm tin của người dân vào người anh hùng ảo vải hay sao hả DQC? Vì thế, nhà Trần, nhà Lê không “mị dân” nhé DQC, mà chính là tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân; là cổ vũ và phát huy vai trò của nhân dân để làm nên thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên và quân Minh.  


 2. Bài học về “dân là gốc” và “nước lấy dân làm gốc” từ chiều sâu lãnh đạo dân tộc, từ quá khứ được thực tiễn kiểm nghiệm, được đúc kết thành giá trị có ý nghĩa thời đại, đã làm nên cốt cách dân tộc Việt, tinh thần dân tộc Việt và tiếp tục tỏa sáng ở thời đại Hồ Chí Minh lịch sử.


Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện luôn thấm nhuần sâu sắc và thực thi trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam rằng: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[1]. Vì thế, từ Trung ương đến địa phương, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị cùng quán triệt phương châm: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[2].


Trong hành trình ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”[3]. Vì thế, nhân dân Việt Nam tin Đảng, đi theo Đảng, vượt muôn khó khăn, thử thách để không chỉ giải phóng đất nước mình, bản thân mình khỏi ách thống trị tàn bạo của Pháp, Nhật mà còn tiếp tục tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; đưa cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Lòng dân và sự tin tưởng của nhân dân Việt Nam vào Đảng Cộng sản Việt Nam chưa khi nào thay đổi, dù vật đổi sao rời!


3. Sự thật này hiển nhiên về lòng dân luôn tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam này ai cũng biết, có chăng chỉ DQC và nhóm người như DQC không chịu biết/không chịu thừa nhận nên mới phản động viết rằng: “Khi không đong đếm được lòng dân thì khái niệm đó chỉ dùng để tuyên truyền mị dân, hòng lôi kéo đám đông, đây là thủ đoạn chính trị mà tổ chức chính trị nào cũng phải làm và đảng CS (không chỉ VN) là làm xuất sắc nhất”. Vì thế, cách đánh giá chính xác nhất “lòng dân Việt Nam” không phải chỉ là “phe nhóm, đảng phái nào giành được phiếu bầu cao nhất” như DQC viết trong bài mà chính là lòng tin/niềm tin vào một chính Đảng cách mạng trong sạch, vững mạnh, với một đường lối chính trị đúng đắn và đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu.


Thực tiễn luôn soi rọi chân lý. Lòng dân Việt Nam đoàn kết/muôn người như một dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập cách đây 75 năm/Cuộc Tổng tuyển cử tự do, bình đẳng và đoàn kết theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu đầu tiên ở Việt Nam, cũng chính lòng dân Việt Nam đoàn kết, không sợ hiểm nguy, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bộ chỉ huy tối cao của dân tộc và Tổng bộ Việt Minh đã kiên quyết thực hiện thắng lợi quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong ngày 6/1/1946 để bầu Quốc hội khóa I. Thế mới nói, Quốc hội khóa I chính là Quốc hội ra đời từ lòng dân/lòng dân Việt Nam yêu nước, tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam!


4. Nói với DQC là, dù thể chế chính trị nào thì người dân của một quốc gia cũng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia mình sinh sống. Mỗi người dân Việt Nam yêu nước thực sự sẽ sống và làm việc đúng theo nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm công dân của mình, thiết thực góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Chỉ có những người bất chấp luật pháp, phản bội lại quê hương, đất nước mới từ bỏ nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, mới bôi nhọ, nói xấu Tổ quốc mình mà không thấy tự bản thân mình có lỗi.


DQC chắc không còn huyết mạch “con Rồng cháu Tiên” trong mình nên mới viết về lòng dân như vậy; mới cho rằng “Dân VNCH trước 1975 thì nhiều ông ùn ùn theo cách mạng, sau 1975 thì ùn ùn vượt biên để bầu cử bằng chân. Đặc biệt là các ông trí thức thiên tả thuộc thành phần thứ 3 (không CS, không quốc gia), giúp một phần lớn cho chiến thắng của CS nhưng sau 1975 lại vượt biên vãn!”.


Sự thật là, mỗi khi Tổ quốc lâm nguy thì truyền thống yêu nước nồng nàn trong mỗi người dân Việt Nam và lòng dân Việt Nam yêu nước lại trào dâng, tạo nên thành lũy vững chắc để bảo vệ quê hương, đất nước. Khi đất nước thái bình, thì sức mạnh của lòng dân/của khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại cùng đồng lòng, chung sức dưới sự lãnh đạo của Đảng để cùng xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.


Thời gian càng lùi xa, càng nhận thấy lòng dân Việt Nam tin Đảng/tin tưởng vào sự lãnh đạo độc quyền, tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, mượn cớ nói về “lòng dân” để đòi đa nguyên, đa đảng, đòi tự do bầu cử và ứng cử vào các vị trí lãnh đạo trong Đảng khi Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến gần chính là luận điệu man trá, phản động của DQC chứ không phải là tâm nguyện của nhân dân Việt Nam!


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr.232


[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.64


[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.81


Trần Phụng Hoàng Nhi

Phê phán quan điểm “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

 

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là công việc rất cần thiết. Mỗi quốc gia, dân tộc cần biết mình đang sống trong thời đại gì và bối cảnh thế giới nào, với những tính chất, đặc điểm, nội dung và xu thế phát triển ra sao.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

 

 “Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta xác định là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Do vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là công cuộc “giữ nước” trong thời bình của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một nhiệm vụ cấp bách, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa.

Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa

“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay 

Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng nhằm phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong những năm qua, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng đạo đức, lối sống được ban hành và triển khai thực hiện, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12-1-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010, của Ban Bí thư về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… Trong đó, đặc biệt, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là bước chuyển trực tiếp đến “diễn biến hòa bình”, làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh, cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tự soi, tự sửa và giám sát người khác; qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chung chung. Thực trạng “vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên” chưa được ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời đã ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây cũng là điểm cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng để bôi nhọ, nói xấu chế độ ta.

Để đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tham mưu và ban hành, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, như tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg, ngày 29-3-2017, về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 9-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang”; Nghị định số 110/2018/NĐ-CP, ngày 29-9-2018, “Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội”; Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, ngày 17-9-2018, “Quy định về xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa””…

Cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng triển khai xây dựng các đề án, đề tài, hội thảo khoa học để nghiên cứu những giá trị văn hóa tốt đẹp cần phát huy và những hủ tục, những biểu hiện văn hóa lai căng, không phù hợp cần được loại bỏ nhằm hướng tới xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam, như các đề án, đề tài về tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam; vai trò của hương ước, quy ước đối với xây dựng đạo đức lối sống hiện nay; bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; xây dựng mô hình cưới văn minh tiết kiệm, phù hợp với phong tục, tập quán; văn hóa ứng xử trong lễ hội…

Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể triển khai nhiều hoạt động thực tiễn; phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức các đợt phát động sáng tác tranh cổ động, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị được giao; tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần xây dựng con người Việt Nam yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân, viên chức, lao động... Phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng chương trình đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nam, nữ thanh niên về trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm cho thanh, thiếu niên về giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng gia đình no ấm; xây dựng con người tiến bộ, hạnh phúc, có lòng yêu nước, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... triển khai các chương trình phối hợp trong xây dựng đạo đức, lối sống trong các lĩnh vực, địa bàn công tác có liên quan; phát huy hiệu quả phối hợp giáo dục của 3 môi trường “gia đình - nhà trường - xã hội”; nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng như hiệu quả công tác quản lý và tổ chức lễ hội…

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng lồng ghép, triển khai các nội dung tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh trong việc việc cưới, việc tang và lễ hội với các phong trào khác, như phong trào xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng gia đình nông dân sản xuất giỏi, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; đồng thời tổ chức thực hiện Chương trình khoa học và công nghệ cấp bộ “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trước tác động của phương tiện truyền thông mới” gồm 8 đề tài; thực hiện đề tài khoa học cấp quốc gia “Hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Phát huy vai trò của hương ước, quy ước trong xây dựng đạo đức, lối sống trong giai đoạn hiện nay”; triển khai thực hiện Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình gắn với chủ đề “Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”.

Nhìn chung, các văn bản, chỉ thị về văn hóa được ban hành kịp thời, phát huy được những hiệu quả, hiệu lực quản lý nhất định, góp phần đề cao vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa đã trở thành hiện thực trong đời sống, trở thành nền nếp, tạo ra những giá trị mới phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đồng thời, góp phần thúc đẩy, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam trong tình hình mới, đẩy lùi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng “hệ giá trị văn hóa tư sản”. Nền văn hóa truyền thống, cách mạng giữ gìn được bản sắc dân tộc, phát huy được giá trị tinh hoa trong quá trình đổi mới và hội nhập. Với các chủ trương, đường lối kịp thời của Đảng và Chính phủ, đời sống mọi mặt của đất nước ổn định, phát triển bền vững, mối đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên lĩnh vực văn hóa. công tác xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam còn có hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, những tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi các giá trị xã hội, định hướng chuẩn mực đạo đức trong mỗi con người. Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tốt đẹp của dân tộc bị biến đổi, mai một, thậm chí bị lấn át bởi quan hệ kinh tế, lợi nhuận. Hệ giá trị mới với các chuẩn mực cụ thể về đạo đức, lối sống chưa được tập trung xây dựng; những giá trị mới hình thành chưa bền vững nên chưa có tác động tích cực đối với định hướng giá trị nhân cách con người. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức và pháp luật chưa tốt; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc tham gia xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam chưa được phát huy. Tình trạng lai căng sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các tệ nạn xã hội và sự xâm nhập các sản phẩm, dịch vụ độc hại, chủ nghĩa cá nhân vị kỉ, đang làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là giới trẻ hiện nay. Hoạt động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật có lúc còn thiếu sắc bén, thiếu tính thuyết phục và tính chiến đấu. Việc ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa thực sự hiệu quả, kịp thời.

Một số giải pháp thời gian tới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.

Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.

Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả.

Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.    ST. NTC

 

 

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.

Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta. Theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm suy giảm niềm tin, tạo ra trong nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ một “khoảng trống” về mục tiêu lý tưởng, lịch sử truyền thống và thành tựu của cách mạng. “Nội công, ngoại kích” là chiêu bài rất nham hiểm mà các thế lực thù địch phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ,… để sử dụng làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

 Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, của dân tộc. Vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện lớn, đặc biệt là chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chiêu trò này tiếp tục được chúng sử dụng. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng bị chúng lợi dụng để chống phá. Chúng xuyên tạc rằng đó là cuộc thanh trừng, đấu đá nhằm tranh giành lợi ích giữa các phe, nhóm trong nội bộ Đảng. Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận ngoại giao cũng bị chúng xuyên tạc, phủ nhận hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới.

Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.

Tính chủ động trước hết trong nhận thức. Hiện nay một số lượng rất lớn các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ, được cập nhật thường xuyên về tình hình và những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

    Những năm qua, các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để khẳng định tính cách mạng khoa học của mục tiêu lý tưởng, của đường lối, chủ trương, chính sách và những thành tựu của cách mạng chưa được quan tâm đúng mức. Tính thuyết phục trong tuyên truyền đấu tranh phản bác còn hạn chế. Để khắc phục, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn nữa trong tổ chức các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chính là cơ sở khoa học để chúng ta nâng cao tính thuyết phục trong phản bác các luận điệu xuyên tạc và những âm mưu, thủ đoạn chống phá.

     Sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp. Điều này chỉ được tạo ra khi các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị có sự chủ động phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Thực tế thời gian qua cho thấy trong từng nhiệm vụ, từng nội dung đấu tranh cần tránh hô hào chung chung mà phải phân rõ trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị trong cơ chế, quy chế phối hợp thống nhất.

Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch. Sự chủ động trong quản lý, nắm bắt tình hình, phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm đấu tranh của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là các cơ quan, đơn vị chức năng cũng rất cần được quan tâm.

Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

                                                                                                        NTC. ST

                                                                                       

.

 

.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


 

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Vị tướng suốt cuộc đời vì nước, vì dân

 Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Vị tướng suốt cuộc đời vì nước, vì dân




Những ngày tháng 12 lịch sử, trong niềm vui chung cùng với quân và dân cả nước kỷ niệm 76 năm Ngày thanh lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2020), 31 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2020), cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu 4 đón nhận tin vui, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký Quyết định trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân cho Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, sinh năm 1926 tại xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tháng 12/1986, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 4/1987, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và liên tục các khóa IX, khóa X. Ông được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng năm 1980, Trung tướng năm 1987 và được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng…

Tháng 4 năm 1945, chàng thanh niên Nguyễn Quốc Thước lúc đó mới 20 tuổi, đã bí mật tham gia các phong trào Việt Minh tại địa phương. Người giới thiệu ông vào tổ chức là đồng chí Trần Văn Bành (em ruột Thượng tướng Trần Văn Quang, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Từ đó, ông nhận nhiều công tác quan trọng tổ chức giao trong khởi nghĩa giành chính quyền và xây dựng chính quyền mới sau ngày độc lập.

Năm 1949, khi đang là Bí thư Thanh niên huyện Nghi Lộc, Nguyễn Quốc Thước xung phong đi bộ đội. Người trí thức trẻ 2 tuổi Đảng đã được vào Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn (phân hiệu tại Liên khu 4), nơi đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội lúc bấy giờ. Thầy Hiệu trưởng - Đại tá Hoàng Điền thấy khả năng nắm bắt cái mới nhanh nhạy, hăng say luyện tập của cậu học trò Nguyễn Quốc Thước đã chọn ông làm trợ giảng cho mình.
Dù sau này đã lên đến Trung tướng, vượt cả quân hàm của thầy, nhưng ông Nguyễn Quốc Thước vẫn dành sự trân trọng đến người thầy năm xưa dù tuổi tác giữa hai ông không chênh lệch nhau là mấy. Những bài học từ Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn đã được ông Nguyễn Quốc Thước vừa ứng dụng vào thực tế chiến đấu vừa rút kinh nghiệm qua mỗi trận đánh. Nhờ đó, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh kinh điển trong kháng chiến chống Mỹ. Năm 1972, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, ông Nguyễn Quốc Thước trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh cắt giao thông đoạn giữa Đắc Tô và thị xã Kon Tum. Địch sử dụng máy bay B52 tập trung oanh tạc, hầm của trung đoàn trưởng sập, công binh đào bới một hồi mới đưa được ông lên. Sức ép của bom khiến ông chảy máu mũi, máu tai và hộp sọ bị rạn (sau này giám định tổn thương 49%). Quân y trung đoàn đề nghị đưa ông về trạm phẫu tiền phương, song ông yêu cầu tạm thời sơ cứu và quyết định ở lại chỉ huy. Chính tinh thần của người chỉ huy như vậy đã động viên các chiến sĩ làm nên chiến thắng, tiêu diệt được tiểu đoàn biệt động, diệt 168 tên, bắn rơi 19 máy bay trực thăng...

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ông Nguyễn Quốc Thước góp nhiều công sức vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc với vai trò tham mưu tác chiến Mặt trận B3 Tây Nguyên... Sau ngày đất nước thống nhất, ông lần lượt làm Tư lệnh Quân đoàn 3, Tư lệnh Quân khu 4.
Không chỉ nổi danh chiến trường, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước còn nổi danh cả nghị trường trong suốt 3 khóa liền là đại biểu Quốc hội, kéo dài 15 năm (1987 - 2002). Có lần bộ chủ quản khi trình Quốc hội đề án cải tạo một cảng biển, đã đề xuất dùng hàng chục tấn bộc phá để làm. Ông Thước kiên quyết bác bỏ phương pháp này. Ông nói, ở chiến trường, bộ đội chỉ dùng 1kg bộc phá mà còn bắt được hàng tạ cá. Bây giờ mà sử dụng đến hàng chục tấn bộc phá để cải tạo cảng biển thì dứt khoát tác động tiêu cực rất lớn đến môi trường, nhất là tàn phá môi trường sinh thái biển và sức khỏe con người. Từ ý kiến phản đối của ông trước diễn đàn Quốc hội, bộ chủ quản và chủ đầu tư phải khảo sát lại rồi đề xuất phương án khác để bảo vệ môi trường.

Ba khóa tham gia Quốc hội, cử tri cả nước rất ấn tượng với vị đại biểu xứ Nghệ qua những phát biểu tâm huyết, thẳng thắn. Có một kỷ niệm sâu sắc trong khóa đầu tiên ông có mặt trên diễn đàn Quốc hội. Tại một phiên họp ở tổ của nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992), ông Đỗ Mười lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng) có than phiền về tình trạng trên bảo dưới không nghe. “Tôi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mà nói có bộ trưởng không nghe”. Thấy ông Đỗ Mười phát biểu như vậy, đại biểu Nguyễn Quốc Thước đứng lên nói luôn: “Thưa anh Mười, tôi làm Tư lệnh Quân khu, tôi nói mà sư đoàn trưởng không nghe, tôi đình chỉ chức vụ. Một là tôi nghỉ, hai là đồng chí ấy phải nghỉ. Nếu vì lý do nào đó mà tôi không thể cách chức được các sư đoàn trưởng thì tôi sẽ xin từ chức, chứ như thế cả hai không thể làm việc với nhau. Anh nên cách chức bộ trưởng không nghe đó, nếu không cách chức được thì anh nên từ chức đi...”.

Sau cuộc họp có người cảnh báo: “Ông phát biểu thế thì nguy đến nơi rồi”. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cười bảo: “Yên tâm, nguy làm sao được mà nguy”. Còn nhiều người khác cũng chung tâm lý tỏ vẻ nghi ngại cho ông. Song Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười gặp đại biểu Quốc hội Nguyễn Quốc Thước đã vỗ vai cười hề hà và nói: “Cậu này được đấy…”.
“Tôi nói thế bởi tôi biết đồng chí Đỗ Mười là người rất hiểu cấp dưới. Trong cuộc họp, đôi khi cấp trên, cấp dưới có thể tranh luận, chất vấn gay gắt, cũng chỉ mong tìm ra hướng đi đúng đắn, có lợi cho cái chung, cho dân, cho nước. Sự thật là sau phát biểu đó, tôi cũng có gặp vấn đề gì đâu”, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhớ lại.

KHÔNG CÓ “VÙNG CẤM” VÀ ĐẦY TÍNH NHÂN VĂN


Người ta vẫn thường nói tham nhũng vốn là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, vì ở chế độ nào, thời nào thì “căn bệnh nan y” này dường như khó trị. Ở nước ta cũng vậy. Trong hầu hết các cuộc tiếp xúc cử tri trước đây, không lần nào không có những ý kiến bức xúc về thực trạng này. Nhưng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, nó không còn là “khuyết tật bẩm sinh” nữa. Đảng đã bắt đúng căn nguyên của bệnh tình và có phác đồ điều trị hiệu quả.

Điểm nhấn thuyết phục nhất

Trong các dấu ấn của nhiệm kỳ Đại hội XII, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là phòng, chống tham nhũng (PCTN) là điểm nhấn thuyết phục nhất, được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao nhất. Chưa bao giờ, trong một nhiệm kỳ mà hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị thi hành kỷ luật, trong đó có nhiều cán bộ cấp cao, kể cả Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, các tướng lĩnh, có người từng vang bóng một thời. Từ năm 2013 - năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, đến nay, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hơn 11.700 vụ án tham nhũng, chức vụ, kinh tế, trong đó có 1.900 vụ án tham nhũng, với gần 4.400 bị cáo; trong số cán bộ Trung ương quản lý bị xử lý hình sự, có một Ủy viên Bộ Chính trị, bảy Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, bốn bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, bảy sĩ quan cấp tướng. Một con số chưa từng có.

Trước đây, có tập đoàn được coi là con cưng của nền kinh tế vì đóng góp rất lớn cho ngân sách; có lĩnh vực được coi là vùng cấm, bất khả xâm phạm; có cá nhân núp bóng quyền lực, thâu tóm hàng loạt khu đất vàng, dự án béo bở, thu lợi bất chính; có cán bộ được bổ nhiệm “thần tốc” vì có người “nâng đỡ không trong sáng”; có bộ trưởng nhận hối lộ tới ba triệu USD, thật không tưởng tượng nổi. Nhiều vụ biết có sai phạm, nhưng không thể đụng đến được. Chỉ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN trực thuộc Bộ Chính trị được thành lập do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban, chỉ đạo quyết liệt thì tình thế bắt đầu khác. Từ một bài viết trên báo về chiếc xe tư nhân gắn biển số xanh, đồng chí yêu cầu chín cơ quan vào cuộc, làm từng bước, chắc chắn, thận trọng; kiểm tra, điều tra, kết luận rõ đến đâu xử lý đến đó; xử lý về Đảng trước, về pháp luật sau; dù trốn ra nước ngoài, vẫn phải về nước để chịu sự xét xử nghiêm minh, công tâm, khách quan. 

Thật đau lòng khi thấy tên tuổi của một số Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, nguyên chủ tịch UBND tỉnh, thành phố,… trong các bản án hình sự lại nhiều đến thế, nhưng không thể khác. Đó là sự nghiêm minh của pháp luật và cũng là để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe người khác không vướng vào vết xe đổ của đồng chí mình; là đòi hỏi chính đáng của nhân dân. Vì xét xử nghiêm minh nhưng cũng rất nhân văn, cho nên trước tòa án và phải đối diện với lương tâm, các bị cáo đã ăn năn hối hận, xin lỗi Đảng, Nhà nước và nhân dân. Có trường hợp tòa án đã lui ngày nghị án cho bị cáo có thêm thời gian trả lại tiền nhận hối lộ để được khoan hồng, giảm án. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội mới đây của Ban Tuyên giáo Trung ương, 93% số ý kiến của người dân tin tưởng vào công tác PCTN và vì thế niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố vững chắc.

“Nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế

Chưa bao giờ cuộc đấu tranh PCTN quyết liệt như hiện nay. Nhưng rõ ràng tham nhũng chưa bị đẩy lùi, có nơi, có lĩnh vực còn tinh vi, thậm chí trắng trợn hơn, hoặc nhẫn tâm trục lợi từ người bệnh. Giữa lúc PCTN đang trở thành xu thế, không ai được đứng ngoài cuộc lại có những cán bộ trong cơ quan PCTN để tay nhúng chàm mà cơ quan chủ quản vẫn nương nhẹ, xử lý cho qua chuyện, buộc Ủy ban Kiểm tra Trung ương phải vào cuộc, kết luận rõ sai phạm và xử lý đúng người đúng tội. Tham nhũng quy mô lớn làm thất thoát nghiêm trọng tài sản của Nhà nước; “tham nhũng vặt” đang gặm nhấm lòng tin của nhân dân đối với cán bộ, với cơ quan công quyền. Tại sao Đảng, Nhà nước đã có luật và nhiều nghị quyết, quy định về PCTN, nhưng vẫn chưa đủ sức đẩy lùi tệ nạn này? Đối tượng tham nhũng đều là cán bộ có chức quyền, am hiểu quy định, pháp luật về PCTN. Có cán bộ trong cơ quan phòng, chống tội phạm lại phạm tội ngay trong lĩnh vực mình phụ trách; cán bộ PCTN lại ngang nhiên vòi tiền khi thực thi công vụ. Cá biệt có trường hợp đang thi hành án phạt tù giam 30 năm mà vẫn bị xét xử và sẽ tiếp tục bị xét xử trong vụ án khác; các sai phạm nghiêm trọng của bị cáo kéo dài liên miên từ khi đứng đầu doanh nghiệp đến khi làm “tư lệnh” một ngành,... Sai phạm của bị cáo đã quá rõ, nhưng cũng cần truy tìm xem còn căn nguyên nào nữa không. Dường như cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đủ mạnh, nhất là với người đứng đầu, trao cho họ quyền lực nhưng chưa có đủ chế tài, cơ chế cụ thể để đủ sức kiểm soát quyền lực ấy. Họ thích làm gì thì làm, cấp dưới không dám phản bác, cấp trên không sát sao, thậm chí có trường hợp còn bao che vì lợi ích nhóm.

Với hàng loạt vấn đề đặt ra như thế, thiết nghĩ để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, trước hết cần rà soát, phát hiện, bịt cho được các lỗ hổng trong cơ chế quản lý, kiểm soát quyền lực, trong kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của người có chức quyền, nhất là người đứng đầu. Việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ, đồng bộ để người có quyền lực không thể tham nhũng và xử lý thật nghiêm để họ không dám tham nhũng. Mọi hoạt động, mọi quy trình công tác, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, các cơ quan phải công khai, minh bạch, bất cứ cán bộ, đảng viên và người dân nào cũng biết mà giám sát, để người thực thi công vụ không thể làm khác được. Các cơ quan PCTN cần rà soát, luân chuyển, bố trí, xây dựng đội ngũ cán bộ của mình thật sự là cán bộ chí công, vô tư; PCTN trước hết làm mạnh ngay trong cơ quan mình, xử lý nghiêm trường hợp tham nhũng, bằng mọi cách “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế. Có như thế mới ngăn chặn được tham nhũng - một “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực.

NHỮNG THÀNH TỰU KÉP TRONG NHIỆM KỲ ĐẶC BIỆT

 NHỮNG THÀNH TỰU KÉP TRONG NHIỆM KỲ ĐẶC BIỆT 

1. Kinh tế vĩ mô ổn định hơn hẳn, cải cách thể chế được đẩy mạnh

Riêng trên mặt trận kinh tế, thành quả lớn nhất là Chính phủ đã thiết lập được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định hơn hẳn so với các nhiệm kỳ trước đây, thể hiện ở việc kiềm chế lạm phát, nợ công ở mức thấp, cán cân thanh toán vãng lai ổn định, xuất khẩu kỷ lục, dự trữ ngoại tệ tăng lên… Nước ta đã có “của ăn của để” và nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định là một bệ đỡ rất quan trọng để chúng ta có thể vững vàng, ổn định đất nước, kiên cường chống chịu và tăng trưởng trong bối cảnh khó khăn.

Cùng với đó, cải cách thể chế kinh tế mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh. Trong nhiệm kỳ, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; Chính phủ đã phát động thành công 3 đợt sóng cải cách hành chính lớn. Năm 2016, xoá bỏ hàng ngàn giấy phép con. Năm 2018, cắt giảm, đơn giản hoá 50% điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành. Năm 2020, đưa ra mục tiêu tiếp tục cắt giảm và đơn giản hoá 20% các quy định hành chính về kinh doanh và tiến hành tổng rà soát để xoá bỏ tình trạng chồng chéo, bất cập trong các quy phạm pháp luật về kinh doanh hiện hành.

Chính phủ yêu cầu chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro giảm thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, mỗi năm chỉ thanh tra và kiểm tra doanh nghiệp một lần...

Chính phủ điện tử cũng được đẩy mạnh, dịch vụ công trực tuyến được áp dụng. Việt Nam tăng 20 bậc về môi trường kinh doanh, tăng 10 bậc về năng lực cạnh tranh theo các bảng xếp hạng toàn cầu. Khoảng cách điểm số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh  của nước ta so với nhóm các nước dẫn dầu ASEAN đang thu hẹp lại.

2. Doanh nghiệp phát triển, hội nhập đỉnh cao

Đại diện cộng đồng doanh nghiệp cũng nhắc tới những dấu mốc cho thấy sự quan tâm chưa từng có của Đảng, Nhà nước với các doanh nghiệp trong nhiệm kỳ này.

Đảng ta ra Nghị quyết về phát triển các thành phần kinh tế, nhấn mạnh vai trò động lực quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết về kinh tế tư nhân được mang tên Nghị quyết số 10, mang theo niềm tin: sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân sẽ là động lực đưa nền kinh tế Việt Nam tới đích mạnh giàu, giống như khoán 10 trong nông nghiệp đã mở đầu cho hành trình đổi mới ở Việt Nam. Quốc hội đã sửa Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa…

Lần đầu tiên trong lịch sử, Chính phủ ra Nghị quyết số 35/NQ-CP về Chương trình phát triển doanh nghiệp cho cả nhiệm kỳ với phương châm “doanh nghiệp là động lực, Chính phủ sẽ đồng hành” và ban hành loạt Nghị quyết 19, 02/NQ-CP hằng năm, xác lập hành trình cải cách để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh ở Việt Nam theo những chuẩn mực toàn cầu. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: “Vấn đề của doanh nghiệp phải được ghi trên trang đầu tiên trong cuốn sổ tay công tác của những nhà lãnh đạo các địa phương”.

Nhờ đó, tổng số doanh nghiệp trong cả nước đã tăng gấp 1,5 lần chỉ trong 5 năm, đây là kỳ tích. Cùng với đó, đất nước đã không chỉ có hơn 800.000 doanh nghiệp mà còn có 5,4 triệu hộ kinh doanh và theo quan niệm phổ biến của thế giới thì đó cũng là doanh nghiệp – doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (MSMEs) trong nền kinh tế.

Cũng trong 5 năm qua, Việt Nam đã lên đường cao tốc ra thế giới và cam kết vươn tới những chuẩn mực toàn cầu. Phát triển bền vững được nhấn mạnh, quan hệ lao động được đề cao, thân thiện với môi trường, phát triển bao trùm là hướng đi đúng đắn… CPTPP, EVFTA và các hiệp định thương mại tư do không chỉ mở không gian thị trường mà còn mở không gian cải cách của nền kinh tế Việt.

Vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế được tăng cường. Việt Nam là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Việt Nam đã đăng cai thành công các cuộc hội ngộ lịch sử: APEC 2017, ASEAN 2020. Việt Nam đã ghi dấu ấn không chỉ là thành viên tích cực mà còn là thành viên đóng vai trò kiến tạo trong cộng đồng quốc tế; là mẫu hình của một đối tác năng động và có trách nhiệm trong nền kinh tế toàn cầu.

3. “Lửa thử vàng” và khát vọng hùng cường

Thời đại dịch, thế giới trở nên mong manh, sức mạnh của các cường quốc kinh tế và công nghệ bị đe doạ, nền kinh tế thế giới lún sâu trong khủng hoảng, nhưng Việt Nam đã kiềm chế được dịch bệnh và duy trì tăng trưởng dương trong tâm thế vững vàng.

Sau một phần tư thế kỷ, từ đổ nát của chiến tranh, công cuộc Đổi mới của Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã làm nên một kỳ tích: 45 triệu người dân Việt thoát khỏi đói nghèo và Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp) và đang khát vọng trở thành một đất nước hùng cường. Dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đặt mục tiêu đến năm 2030 kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Nhận diện “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các tổ chức chính trị-xã hội

 

Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong mỗi tổ chức chính trị-xã hội như: Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh... có những biểu hiện cụ thể khác nhau, nhưng đều gây nên những tác hại to lớn cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức đối với các tổ chức và mỗi con người trong các tổ chức ấy.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với các tổ chức chính trị-xã hội không chỉ làm suy giảm vai trò, tiến tới làm tan rã các tổ chức, mà còn gây tác hại to lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và đối với cả sự tồn vong của chế độ.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các tổ chức chính trị-xã hội có biểu hiện ban đầu là suy giảm bản chất, tính chất của tổ chức trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị là dần rời xa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, của giai cấp công nhân, không quán triệt và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Về tư tưởng là dần rời xa Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để trào lưu tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa ngày càng xâm nhập, thẩm thấu vào các tổ chức chính trị-xã hội. Về tổ chức là ngày càng rời xa những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mỗi tổ chức xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn biểu hiện ở chỗ làm cho sức mạnh của các phong trào hoạt động cách mạng bị suy giảm, không còn khơi dậy được sức mạnh của toàn dân, không cổ vũ, tập hợp được hội viên, đoàn viên nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức mình. Thậm chí hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn làm cho tổ chức chính trị-xã hội không còn là chính mình, không còn là tổ chức chính trị-xã hội xã hội chủ nghĩa. Ở khía cạnh cá nhân: Các hội viên, đoàn viên khi bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lung lạc thì ban đầu là mất đi tính tích cực, trách nhiệm của thành viên đối với tổ chức; không còn thiết tha với các hoạt động của hội, đoàn, hoặc không thực hiện đúng các tôn chỉ, mục đích của hội, thậm chí còn xuất hiện hiện tượng nói, viết ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chống lại các chính sách, pháp luật của Nhà nước... Đó là dấu hiệu cho thấy sự biến chất về chính trị, tư tưởng, là dấu hiệu tan rã của các tổ chức chính trị-xã hội. Các tổ chức lúc này hoàn toàn mất vai trò tập hợp hội viên, đoàn viên, quần chúng nhân dân đi theo Đảng, thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Vì vậy, có thể hiểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là rất nguy hiểm và hiện nay, các thế lực thù địch đang tích cực chĩa mũi nhọn vào các tổ chức này, hòng xâm nhập dần vào tư tưởng của các hội viên, đoàn viên, để từ đó tác động, làm thay đổi dần nhận thức và hành động của họ. Việc ngăn chặn hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các tổ chức chính trị-xã hội là việc làm cấp thiết, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân mà trước hết là của mỗi hội viên, đoàn viên trong chính các tổ chức chính trị-xã hội ấy./.


Chống phá đại hội Đảng - mưu cũ của các thế lực thù địch

 

Trước, trong và ngay sau thời gian diễn ra Hội nghị 14 của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động đã tung ra nhiều luận điệu sai trái, thù địch chống phá thành quả cách mạng của nhân dân ta. Trên các trang BBC, RFA, VOA cũng như trang facebook, blog cá nhân của một số đối tượng cơ hội, chống đối trong và ngoài nước đã tập trung khai thác, đăng tải hàng loạt bài viết sai lệch, suy diễn với dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc, sai trái các đối tượng tập trung chống phá đáng chú ý là:

Chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên VOA, họ đưa ra những luận điệu: “Ý thức hệ và điều cần thay đổi”, “Cung cách chuẩn bị nhân sự và đường lối xây dựng xã hội không thay đổi, vẫn là kiên trì xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vẫn coi học thuyết xây dựng xã hội của Lênin làm nền tảng tư tưởng - lý luận thì đừng mong một sự thay đổi tốt đẹp”…

Nhằm cổ suý đa nguyên, đa đảng, đả phá và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng ta, trên đài BBC, VOA… đăng tải các bài viết, trong đó lấy ý kiến của một số cá nhân, đối tượng vốn có “thâm niên” chống đối Đảng Cộng sản, chính quyền nhân dân, cho rằng đã đến lúc “Đảng Cộng sản Việt Nam phải dân chủ hoá, đa đảng. Phải chấp nhận và để cho chế độ đa đảng xuất hiện, tồn tại để các đảng phái chính trị cạnh tranh công khai, công bằng”.

Thủ đoạn của các đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng, không bao giờ thay đổi là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, hướng lái cách mạng Việt Nam chệch hướng với mục tiêu, con đường mà Đảng và Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn. Từ lâu, các thế lực chống phá đã ra sức xuyên tạc, bóp méo, suy diễn, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vốn là cơ sở lý luận khoa học, cách mạng, kim chỉ nam cho mọi hành động trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là mục tiêu tấn công, thúc đẩy “tự do hóa” chính trị. Thực hiện “đa nguyên chính trị, “đa đảng đối lập” để tạo ra cơ hội, môi trường hoạt động của các tổ chức phản động, đảng phái chính trị đối lập. Họ luôn hô hào đất nước phải “đa nguyên” mới là tự do, “đa đảng” mới có dân chủ; coi đó là tiêu chuẩn, giá trị khuôn mẫu để dẫn dắt sự tiến bộ của mọi quốc gia, dân tộc dù điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau...

Công tác cán bộ là một trong những nội dung quan trọng nhất mỗi kỳ Đại hội Đảng. Nhằm làm suy giảm, xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân vào tính ưu việt của chế độ, uy tín của Đảng, chúng tinh vi khoét sâu vào công tác nhân dự Đại hội; giở trò dự đoán nhân sự, sắp xếp ghế này, ghế nọ, tung chiêu phe này đánh phe kia, người này “tranh giành, tiêu diệt, triệt hạ” người kia… Các đối tượng tự vẽ lên tình hình chính trị nội bộ với gam màu xám, an ninh chính trị “đấu đá, lâm nguy”. Nhiều người nếu thiếu tỉnh táo, khi xem các thông tin tiêu cực trên mạng dễ bị dẫn dắt theo luận điệu xuyên tạc của chúng, tư tưởng dao động, mất niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực chất, việc xuyên tạc nằm trong mưu đồ chống phá Đại hội XIII của Đảng, một phương thức, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hoà bình”, hòng thực hiện mưu đồ xóa bỏ CNXH ở Việt Nam, thực hiện đa nguyên, đa đảng, thay đổi thể chế chính trị./.

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2020

QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, TÁC ĐỘNG KHÓ LƯỜNG

 

Đấu tranh với các quan điểm sai trái là trách nhiệm và bản lĩnh của người cán bộ, đảng viên. Vì vậy, thời gian vừa qua trước thềm Đại hội XIII của Đảng nhiều tin bài xuyên tạc, kích động sai sự thật của một số trang mạng là cán bộ đảng viên, mỗi chúng ta cần vững vàng và bản lĩnh để đấu tranh phản bác với quan điểm thù địch đó.

 Cứ trước thềm các kỳ đại hội Đảng, các thế lực thù địch, phản động lại tập trung công kích, chống phá bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm và quyết liệt. Bản chất, mục đích của chúng không thay đổi, nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt.

Đặc biệt, nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề quan trọng hàng đầu được các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc với luận điệu sai trái rất nặng nề, nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Bắc - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, trước những sự kiện trọng đại của đất nước như dịp Đại hội Đảng, các thế lực thù địch thường tìm nhiều cách để đưa ra những luận điệu, quan điểm sai trái nhằm làm dao động tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Chiêu thức của chúng thường là ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi. Đồng thời đưa ra những luận điệu cho rằng Đảng không vì lợi ích của nhân dân. Cách làm của thế lực thù địch, phản động âm thầm, lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường.

Do đó, theo PGS.TS Nguyễn Đình Bắc, việc đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước thềm Đại hội XIII của Đảng đang cận kề là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên./.

NHIỀU ĐỒN ĐOÁN, XUYÊN TẠC THIẾU CĂN CỨ TRƯỚC THÊM ĐẠI HỘI XIII

 

Gần đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thì các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị lại tìm mọi cách chống phá đại hội bằng nhiều thủ đoạn, hình thức khác nhau. Đặc biệt qua việc lợi dụng thông tin đại chúng và mạng Internet đã có những thông tin sai lệch về chủ trương của Đảng về công tác nhân sự.

Cụ thể, hội nghị Trung ương 14 mới chỉ thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII. Tuy nhiên ngay sau hôm khai mạc, trên một số trang mạng xã hội có xuất xứ từ nước ngoài đã xuất hiện những thông tin xuyên tạc, bịa đặt về nhân sự đại hộ.

Trước những thông tin trên, TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Văn hóa-Xã hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng: Thực hiện phương hướng công tác nhân sự, tại hội nghị Trung ương 13, Trung ương đã bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Uỷ viên Trung ương chính thức, Uỷ viên Trung ương dự khuyết và Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII. Còn tại hội nghị Trung ương 14, Trung ương thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII.

Theo ông Chức, các thế lực thù địch luôn cố tình tạo ra “ý này, ý kia”, “chuyện này, chuyện kia” để gây mâu thuẫn trong nội bộ, sự phân tâm trong xã hội. Những thế lực chống đối luôn lợi dụng vào thời điểm trước đại hội để chống phá.

Trước đại hội, Đảng đang nghiêm cẩn tìm ra người “có đức, có tài” để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, phục vụ nhân dân. Xem xét lựa chọn tìm ra người xứng đáng, phù hợp với công việc mà Đảng và xã hội đang cần. Do đó người dân và cán bộ đảng viên phải tin vào sự lãnh đạo của Đảng, không mắc mưu theo thông tin của các thế lực phản động, chúng lợi dụng thông tin không chính xác, xuyên tạc nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết trong Đảng và Nhân dân ./.

NHỮNG THÀNH TỰU VỀ NHÂN QUYỀN CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Theo Khoản 1 Điều 14 Chương II Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ: “Ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Và trên thực tế, kể từ khi thành lập nước đến nay, vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn được quan tâm, chú trọng, lan tỏa sâu rộng trong cuộc sống. Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cùng nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực để nhân quyền được bảo đảm, ngày càng phát triển. Những thành tựu mọi mặt về nhân quyền Việt Nam đã đạt được không chỉ cho thấy kết quả của nỗ lực này, mà còn trực tiếp khẳng định, chứng minh sự ưu việt của chế độ xã hội.

Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn phải thể hiện qua những sự kiện, vấn đề, hiện tượng cụ thể của cuộc sống. Nói cách khác, nhân quyền - quyền con người không tồn tại như những khái niệm trừu tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát, đánh giá, định tính, định lượng,… một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con người. Từ nhận thức về nhân quyền một cách thiết thực như vậy nên Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam luôn phấn đấu để ở Việt Nam vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng cao. Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống mọi mặt của toàn dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, H.2011, t.9, tr.518). 

Trên cơ sở mọi chiến lược, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng theo nguyên tắc lấy nhân dân làm trung tâm và để phục vụ nhân dân, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm, phát triển quyền con người trên mọi phương diện. Sự nghiệp đổi mới với các bước đi đồng bộ trong sự kết hợp biện chứng giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, bảo đảm an ninh - quốc phòng, đẩy mạnh đầu tư và phát triển văn hóa, giáo dục, quan hệ quốc tế,… đưa đến nhiều thành tựu về vật chất, tinh thần, đó là nguồn lực, điều kiện để chăm lo nhân quyền cho toàn dân với quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Thời gian qua, dù phát triển kinh tế không đạt mục tiêu như kế hoạch đặt ra do ảnh hưởng đại dịch Covid-19 và tình hình thiên tai, bão lụt tại các địa phương thì ở Việt Nam, quyền được sống, quyền ăn, mặc, ở, quyền tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, tự do kinh doanh, quyền tự do ứng cử, quyền thể hiện quan điểm xã hội, quyền của mọi tầng lớp, thành phần, người dân vẫn luôn được bảo đảm. Từ một nước nghèo và lạc hậu, phải khắc phục hậu quả của chiến tranh, bị cấm vận trong nhiều năm, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã vượt mọi khó khăn và trở ngại, tự lực phát triển để trở thành một trong những nước đã thực hiện thành công trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, trở thành một nước đang phát triển với 70% dân số có cuộc sống ổn định. 

Để bảo đảm cho mọi người Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ quyền con người, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó nổi lên là các quyền về chính trị, dân sự. Đơn cử, Quốc hội khóa XIV thông qua nhiều văn bản luật mới, đồng thời sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật. Các luật này đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân,… trong đó nổi lên là Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng… Các bộ luật này có vai trò quan trọng trong từng lĩnh vực cụ thể của quyền con người. Đó là cơ sở bảo đảm để báo chí Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, phát triển lành mạnh, phát huy tính tích cực xã hội trong sự đa dạng, phong phú, xứng đáng với vai trò kênh truyền tải hiệu quả mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi đầu trong biểu dương và cổ vũ cái tích cực, lên án và phê phán cái tiêu cực, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, trau dồi giá trị chân - thiện - mỹ trong nhân dân, đồng thời đấu tranh ngăn chặn luận điệu sai trái, thù địch… Đó là cơ sở bảo đảm bảo vệ môi trường an ninh trên in-tơ-nét, xây dựng in-tơ-nét trở thành môi trường an toàn, lành mạnh để mọi người Việt Nam giao lưu, học hỏi, trao đổi, tiếp thu tri thức, giải trí,… một cách hữu ích, có trách nhiệm. Đó là cơ sở để các năm qua, mọi người Việt Nam đều được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào; công dân - tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”; rất nhiều cơ sở thờ tự, nhà thờ, nhà chùa được xây mới, xây dựng lại; chức sắc, nhà tu hành, người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp đã tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu trong đời sống tinh thần và tâm linh của nhân dân; các tôn giáo có quyền và được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện mở trường, cơ sở đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia các hoạt động xã hội; các lễ hội tôn giáo đã được tổ chức long trọng, trang nghiêm; trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản... Thực tế này không chỉ được nhiều nước trên thế giới, bạn bè quốc tế đánh giá cao, mà ngay cả nhiều tổ chức, thế lực từng có lúc chưa hiểu rõ hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam cũng phải thay đổi, thừa nhận. Sau nhiều năm sống tại Việt Nam, ông A. Sauvageot (Sa-va-gớt - cựu đại tá CIA từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam) đã nói: “Nếu ai hỏi tôi, tự do tín ngưỡng ở Việt Nam là bao nhiêu, theo tôi là 100%. Một điều nữa, tự do không tín ngưỡng của Việt Nam cũng là 100%. Cá nhân tôi không theo một tôn giáo nào, nhưng làm việc ở Việt Nam, tôi không bao giờ bị mang tiếng xấu vì điều đó. Tôi có nhiều người bạn là người Mỹ và Việt Nam, họ theo Thiên chúa giáo, Tin lành, Phật giáo”. Và trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, để bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, Việt Nam đã thành lập Ủy ban Quốc gia về chính phủ điện tử để cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nâng cao hiệu quả tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; và cán bộ, cơ quan, tổ chức trực tiếp đối thoại, lắng nghe ý kiến và giải quyết mọi nhu cầu chính đáng của nhân dân. 

Từ quan niệm nhân quyền luôn thuộc về nhân dân và vì nhân dân, bên cạnh rất nhiều chương trình, kế hoạch tập trung xây dựng xã hội học tập, phát triển hệ thống giáo dục, hệ thống y tế, đường sá, lưới điện quốc gia trên cả nước, phát triển văn hóa nghệ thuật,… được Chính phủ triển khai rộng khắp trong nhiều năm, thì thời gian qua, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cuộc sống người nghèo, người yếu thế, các đối tượng chính sách... càng được tập trung đẩy mạnh. Đây là một chủ trương lớn, một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của phát triển bền vững, là chương trình mang tầm quốc gia, thể hiện tính nhân văn của chế độ xã hội và truyền thống tương thân tương ái tốt đẹp của dân tộc. Dù ngân sách còn nhiều khó khăn song Quốc hội, Chính phủ đã tăng nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo gấp hai lần so với giai đoạn trước, liên tục chỉ đạo nhằm thực hiện đầy đủ chính sách giảm nghèo, nỗ lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững theo hướng toàn diện, đa chiều và hạn chế tái nghèo; tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là tại các địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo. Trong năm 2020, Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm ưu tiên nguồn lực hơn, đầu tư trọng tâm với mục tiêu giảm nghèo nhanh hơn. Những chương trình của Nhà nước cùng sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm giúp đỡ người nghèo với các hình thức khác nhau, đã đưa tới kết quả là tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm khoảng 1,43%/năm; hơn 650 xã, 1.200 thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 170 nghìn ngôi nhà “Đại đoàn kết” được xây dựng; cùng với người dân tộc thiểu số và hộ nghèo được hưởng 100% bảo hiểm y tế (BHYT), 2.327.000 người thuộc hộ cận nghèo tham gia BHYT. Việc cải cách thủ tục, quy trình khám, chữa bệnh tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người tham gia BHYT trong tiếp cận các dịch vụ y tế cao, năm 2019 đã sử dụng khoảng 32.300 tỷ đồng chi sự nghiệp y tế (chiếm khoảng 35%) để hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách tham gia BHYT, góp phần để đến tháng 6-2020, BHYT đạt tỷ lệ bao phủ gần 89% dân số… 

Nỗ lực và kết quả Việt Nam đạt được với sự vào cuộc của hệ thống chính trị và toàn dân đã làm cho nhân quyền ở Việt Nam trở thành tài sản chung của xã hội, được Liên hợp quốc và nhiều chính phủ, tổ chức quốc tế, chuyên gia trên các lĩnh vực khác nhau ca ngợi, đánh giá rất cao. Đặc biệt từ đầu năm 2020 đến nay, việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam quyết tâm bằng mọi biện pháp bảo vệ tính mạng con người trước đại dịch Covid-19, chính là một sự khẳng định rõ ràng về  thành tựu, chủ trương nhất quán, toàn diện và đúng đắn này. Ngay cả D. Hutt (D. Hút) - cây bút vốn thiếu thiện chí với Việt Nam, cũng phải thừa nhận trên BBC: “Trong khủng hoảng vừa qua do đại dịch virus corona, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động có trách nhiệm, đặt người dân làm mối quan tâm hàng đầu… Phản ứng của Chính phủ Việt Nam với đại dịch Covid-19 gần giống như những cái mà chính trị thật sự nên làm. Chính phủ và đảng cầm quyền, cũng như các đại biểu nhân dân, cần làm mọi điều có thể để bảo vệ công dân của mình. Và người dân, với một chính phủ được tin tưởng, có thể cảm thấy chính họ đang được bảo vệ”. Gói an sinh xã hội gần 62.000 tỷ đồng khắc phục hậu quả của đại dịch Covid-19, 11.500 tấn gạo hỗ trợ khẩn cấp và hàng nghìn tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để cứu trợ đồng bào miền trung khắc phục hậu quả “lũ chồng lũ, bão chồng bão” là nỗ lực rất lớn, kịp thời, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất tác động của đại dịch Covid-19 và bão lụt, giúp mọi người được hưởng quyền sống, quyền được chăm sóc y tế, quyền mưu sinh, và tiếp tục làm sáng tỏ tinh thần coi lợi ích nhân dân là mục tiêu hàng đầu. Không có ý nghĩa nào khác, các thành tựu đó là kết quả từ nỗ lực hành động vì nhân quyền, vì con người của Đảng, Nhà nước Việt Nam, không ai có thể xuyên tạc, phủ nhận.

HỒNG QUANG (Báo Nhân dân điện tử)