Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: “NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VI PHẠM TRẮNG TRỢN CÁC QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN”

 


Trong nhiều thập kỷ qua, nhất là khi Chiến tranh lạnh kết thúc, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chiến lược “Diễn biến hòa bình”, đẩy mạnh cuộc “Chiến tranh không khói súng” nhằm chuyển hóa các nước sang con đường tư bản chủ nghĩa. Đối với nước ta chúng tập chung xuyên tạc, vu cáo thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh; vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xuyên tác bôi nhọ chủ nghĩa Mác- lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vu cáo chế độ ta là chế độ “toàn trị” của Đảng Cộng sản Việt Nam, chà đạp lên quyền công dân và con người.

Gần đây không ít các bài viết của chúng cho rằng chủ nghĩa Mác- Leenin đã “xóa bỏ cá nhân”; rằng chủ nghĩa tư bản tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Chẳng hạn có kẻ viết: chủ nghĩa Mác- Leenin “với chuyên chính vô sản, chỉ những người nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản mới có cá nhân. Khối nhân dân còn lại chỉ là một đám đông, một bày lạc đà…Chủ nghĩa Mác chỉ giành được thắng lợi ở những nơi chưa có văn minh công nghiệp; những nơi chưa có cá nhân, các nhân chưa được giải phóng, con người vẫn là đám đông, vẫn là bầy đàn” (!). Chúng ca ngợi chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay “không còn những ông chủ làm giàu bằng bóc lột…mọi người dân đều có thể trở thành người chủ. Quyền con người và những giá trị nhân đạo vì hạnh phúc và phẩm giá con người đều trở thành luật pháp xã hội, được nhà nước tư bản thực thi nghiêm chỉnh, minh bạch trong cuộc sống (!).

Các thế lực còn cho rằng: Cách mạng Việt Nam, nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “nồi da, nấu thịt”, là “tàn bạo”, là vi phạm luật nhân đạo…; Nhà nước Việt Nam ngày nay vẫn hạn chế nghiêm ngặt các quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền thay đổi chính phủ”, hình ảnh Việt Nam hôm nay là: “Một chính quyền tàn bạo và đàn áp có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa, thường xuyên đàn áp những người chất vấn các việc làm của nhà nước hay đòi hỏi các giải pháp dân chủ khác” (!)

Đối với việc thực hiện công ước quốc tế về quyền con người, chúng vu cáo rằng: Nhà nước Việt Nam hạn chế nghiêm ngặt “các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”, “Đàn áp những người bất đồng Chính kiến”, “băt bớ, xét xử, bỏ tù tràn lan các blogger” , “Ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, “Hà Nội vẫn kiểm soát tất cả các cộng đồng tôn giáo, nghiêm cấm và trừng phạt việc sinh hoạt tôn giáo độc lập”; Nhà nước Việt Nam trấn áp các hoạt động “ôn hòa”, “bất bạo động” như “giã ngoại nhân quyền”, “biểu tình chống Trung Quốc”; vi phạm chính các quyền con người ghi trong điều 14 Hiến pháp năm 2013 về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,… quyền hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước Việt Nam còn vi phạm các quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền được đói xử nhân đạo…

Những quan điểm trên đây là hoàn toàn bịa đặt, cần phải kịch liệt đấu tranh, bác bỏ và nghiêm trị!

TIÊU CỰC HOÁ, THẦN THÁNH HOÁ


Thần thánh hoá là sự tôn sùng thần tượng của mình đến mức mù quáng, một khi đã tin yêu là không cần biết người đó sai ở đâu, đúng ở đâu, dù có làm sai cũng cho là đúng. Tung hô ca ngợi hết lời đưa họ lên chín tầng mây, thầy thuốc bình thương trở thành thần Y, ca sỹ có giọng ổn chút thì thành ông hoàng, chửi bậy bỗng dưng thành anh hùng. Sự tung hô quá đà vô tình đã làm hại thần tượng của mình một cách nhanh chóng nhất, khiến người trong cuộc ảo tưởng bản thân. Có người ảo tưởng quyền lực mạng đã phải trả giá rồi đấy. Bạn tung hô ca ngợi bao nhiêu thì những người vốn không ưa họ sẽ ngứa mắt  bấy nhiêu. Gì cũng vừa phải thôi, yêu ghét là quyền của mỗi người nhưng nên sáng suốt nhìn nhận đúng sai, để giúp người ta có phương hướng biết đâu là giới hạn ..


TIÊU CỰC HOÁ 


Đó là khi con người ta nhìn đâu cũng một màu tăm tối, nhìn đâu cũng thấy xấu xa tồi tàn. Cái gì họ cũng đổ thừa cho cơ chế, lên án cả chế độ, thế rồi họ chỉ biết quy kết, chế giễu, soi mói, có xu hướng vơ đũa cả nắm, thể hiện sự ác cảm kỳ thị. Một số tỏ thái độ ác cảm ngành nghề hay cá nhân nào đó, bọn này bọn kia, con nọ con kia, thể hiện theo kiểu bố mày đã ghét mày rồi là mày hết đường ngóc đầu dậy, bố ném đá cho mày tan nát mới thôi. 


Nếu như cả ngày lên MXH  bạn chỉ bắt gặp người ta chì chiết soi mói lẫn nhau tâm trạng bạn cảm thấy thế nào, rất mệt rất chán mặc dù bạn không tin vào những gì bạn nghe bạn đọc nhưng nó vẫn ám vào người. Có những sự việc mắt thấy tai nghe chưa chắc đã đúng, vậy nên thận trọng tỉnh táo chẳng bao giờ thừa. Khi bạn đọc được bài viết một hình ảnh có đầu có cuối có lý có tình mang tính giáo dục nhân văn cao cả, bạn sẽ vỡ lẽ ra mọi vấn đề, biết đâu đúng đâu sai. Đúng tốt thì phát huy sai thì sửa, còn chỉ nói viết theo một chiều chỉ dẫn dắt được một số người nhận thức còn còn hạn chế mà thôi. Tuyên truyền hay đấu tranh quá lố, mang tính công kích, hay thần thánh hoá đều không ổn.


Theo tôi thì đăng bài hay viết bài cũng nên viết có đầu có cuối có tình có lý, đăng mỗi cái Tik Tok độ vài giây đoạn cao trào để hạ bệ người ta là thiếu công tâm. Việc đấu tranh đẩy lùi những tiêu cực trong xã hội là trách nhiệm của người công dân yêu nước, nhưng đấu tranh phải đúng cách, phải có văn hoá,cần sự công tâm sáng suốt. Góp ý một cách xây dựng, chỉ cho người ta sai ở đâu, đúng ở đâu, cái gì tốt thì phát huy, cái gì chưa được cần sửa đổi. Còn theo kiểu bát nháo chỉ gây nhiễu loạn hình thành phe phái càng nguy hiểm dẫn đến mất đoàn kết. Họ sai phạm đến mức vi phạm PL thì đã có CQCN xử lý. 


Bác Hồ của chúng ta từng khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công.” Tinh thần đoàn kết là một yếu tố cần có ở mọi thời đại và trong xã hội. Tất cả 54 dân tộc trong cả ba miền đều máu đỏ da vàng cùng yêu thương đoàn kết. Hãy yêu nước bằng trái tim nóng và cái đầu lạnh đừng để bất cứ một thế lực nào chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc .. 

Đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện


Nhờ đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, bộ mặt vùng dân tộc và miền núi nước ta đã thay đổi rõ rệt.

Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Hiện nay có 98,6% số xã có đường ô tô đến trụ sở ủy ban nhân dân xã; 99,8% số xã và 95,5% số  thôn có điện lưới quốc gia; 99,5% số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non; 99,39 % số xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc  gia về y tế

Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện

Về phát triển kinh tế, đã hình thành các vùng cây công nghiệp: Cà phê, chè, cao su, hạt tiêu, điều,…; các vùng cây ăn quả như: Cam (Hòa Bình, Hà Giang), vải thiều (Bắc Giang), nhãn (Sông Mã, Sơn La),…;Công nghiệp khai khoáng: Than (Quảng Ninh), Apatit (Lào Cai), Đồng (Lào Cai), Thiếc (Cao Bằng), Bô xit (Tây Nguyên),…;Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu,…

Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay. Chính phủ tập trung chỉ đạo đầu tư và nguồn lực thực hiện chính sách giảm nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Những năm vừa qua, thu nhập bình quân các vùng dân tộc tăng nhanh: Tây Nguyên tăng 1,5 lần; Đông Bắc bộ 1,4 lần; Tây Bắc 1,3 lần. Tỷ lệ giảm nghèo các tỉnh Đông Bắc 3,62%, Tây Bắc 4,4%, Tây Nguyên 3,04%; trong dân tộc thiểu số 3,55%/năm (bình quân cả nước là 1,83%). Khoảng cách nghèo trong dân tộc thiểu số giảm từ 24,3% xuống còn 19,2%. Mức độ trầm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% xuống còn 8,2%. Qua khỏa sát 98,6% ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân đánh giá đời sống đồng bào dân tộc thiểu số khá hơn, được dư luận trong nước, quốc tế đánh giá cao. Về Giáo dục và đào tạo, hiện nay có- 300 trường phổ thông dân tộc nội trú,  với 88 ngàn học sinh theo học; 876 trường phổ thông dân tộc bán trú, với 140 ngàn học sinh theo học; 782 trường, 124 ngàn HS học tiếng dân tộc thiểu số. 5 năm qua (2011- 2016), vùng dân tộc cử tuyển 18 ngàn sinh viên dân tộc thiểu số vào học các trường cao đẳng, đại học. Đến nay, đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS. Về y tế, nhờ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế  và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%.

 

Việt Nam đã thực hiện tốt chính sách về dân tộc. Quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

 


Các dân tộc thiểu số đã được bình đẳng về chính trị

Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc ở nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng; tất cả mọi công dân không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giới đều bình đẳng về chính trị, bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống và bình đẳng trước pháp luật. Đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, tôn trọng. các dân tộc tôn trọng, đoàn kết giúp đỡ cùng phát triển, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng bào các dân tộc thiểu số  được hưởng các quyền bình đẳng với dân tộc Kinh. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước. Quốc hội khóa 14 có 86 đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 17,4%; 49/53 dân tộc thiểu số có đại biểu trong Quốc hội; Đại biểu trong hội đồng nhân dân các cấp khoảng 20%. Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người dân tộc thiểu số như Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, ban bí thư, ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh,...

 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị, nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị, nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt.Những năm qua quy mô, mạng lưới trường lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai đề án củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay có 316 trường phổ thống dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với 109.245 học sinh, trong đó có khoảng 40 % số truwngf được công nhân đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp với nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và địa phương để hỗ trợ, đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chỉ tính giai đoạn 2011-2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135,000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước)[1]) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu. Nhờ đó sản xuất hầu hết các địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi đều phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng bào đã thay đổi phương thức canh tác truyền thống, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, giống mới có chất lượng, năng xuất cao. Các huyện, xã đều có điển hình sản xuất giởi; một số vùng đã có sản xuất hang hóa với các sản phẩm chủ lực như: cà phê, hồ tiêu, cao su (ở các tỉnh Tây Nguyên); chè, lúa, gạo, cây ăn quả (ở miền núi phía Bắc); cây ăn quả (ở các tỉnh Tây nam Bộ). Việc làm và thu nhập của người dân tăng lên. Nhờ đó tốc độ tang trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao; giai đoạn 2016-2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hang năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 4%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05%-06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015-2019, đã có 8/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của chương trình 135. Từ năm 2013 -2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thơi, chính phủ tập trung xây dựng hang vạn công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường lớp học, trạm y tế đã được xây dựng mới. Đến nay 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4 xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3% xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng

Văn hóa- xã hội phát triển; văn hóa truyền thống được bảo tồn, tiếng nói, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số được tôn trọng

Văn hóa các dân tộc tiếp tục được giữ gìn và phát huy. Thiết chế văn hóa cơ sở nhiều nơi được củng cố gắn với phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới. Đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng lên. Mạng lưới thông tin, phát thanh, truyền hình phủ rộng khắp, giúp người dân tiếp cận được nhiều hơn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đời sống chính trị- xã hội của đất nước, tiến bộ khoa học- kỹ thuật góp phần quan trọng mở mang dân trí. Các giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn, phát huy góp phần làm phng phú, sống động hơn văn hóa Việt Nam. Nhiều di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận (không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên) và một số di sản được công nhận là di sản quốc gia (sử thi Đam San- Tây Nguyên, Hát then - dân tộc Tầy, Nùng),v.v...

 

 



[1] Ủy ban Dân tộc- Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc, năm 2016

Một số tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài đang tăng cường tuyên truyền, vận động “đòi Việt Nam công nhận một số dân tộc thiểu số là dân tộc bản địa”


Ngày 13-9-2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 61/295 về “Tuyên ngôn về quyền các dân tộc bản địa”. Bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa”, gồm 46 điều, trong đó có một số điều đang được các thế lực thù địch quan tâm, lợi dụng, khai thác hòng kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là “Các dân tộc bản địa có quyền tự quyết”, “các dân tộc bản địa có quyền tự trị, hay tự quản”, “các dân tộc bản địa có quyền duy trì và tang cương những thiết chế, chính trị, luật pháp, kinh tế; xã hội và văn hóa riêng”,…

Lợi dụng việc này thời gian gần đây, các tổ chức phản động ở nước ngoài đã liên kết, tập hợp với nhau đấu tranh đòi Chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khmer và một số dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên là dân tộc bản địa. Từ đó các thế lực phản động đưa ra các yêu sách đòi Chính phủ Việt Nam phải thực hiện quyền của các dân tộc bản địa, để thực hiện âm mưu thâm độc là phá hoại khối đại đoàn kết của các dân tộc thiểu số, chia cắt sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất của đất nước ta.

Ngày 22-9-2012, tại North Carolina, Mỹ, cái gpoj là: Hội đồng dân tộc Thượng, Hội đồng tối cao Kampuchia - Krom, Hội đồng phát triển Văn hóa Xã hội Champa đã thành lập một “liên minh đấu tranh của các dân tộc bản địa Việt Nam” với tên gọi là: Hội đồng tối cao các dân tộc bản địa Việt Nam”, tên tiếng Anh là: The Supreme Council of Indigenous Peoples of Today’s Việt Nam, viết tắt là SCIP - TVN. Mục tiêu của cái gọi là SCIP - TVN gồm: “kêu gọi Chính phủ Việt Nam phải công nhân dân tộc Thượng, Kampuchi – krom và Chăm là dân tộc bản địa”, “Yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải thực thi những điều khoản nêu trong tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết”, “kêu gọi các tổ chức của Liên hợp quốc đóng vai trò tích cực trong cuộc vận động đấu tranh của SCIP - TVN phù hợp với Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền của các dân tộc bản địa.

Kể từ khi ra đời đến nay, SCIP – TVN có nhiều hoạt động vận động, tác động đến các tổ chức nhân quyền, tôn giáo của Liên hợp quốc và các cơ quan hành chính và Quốc hội Mỹ. Trong tháng 4-2003 SCIP – TVN đã có nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, trình các bản kiến nghị lên các quan chức nhiều cơ quan của Mỹ và Liên hợp quốc yêu cầu Chính phủ Việt Nam thừa nhân các yêu sách “Thừa nhận dân tộc Chăm, Kampuchi – krom, Tây nguyên là dân tộc bản địa; Rút toàn bộ khu quân sự Việt Nam ra khỏi lãnh thổ của dân tộc Chăm, Khmer và khu vực Tây nguyên; Chấm dứt khai thác tài nguyên các dân tộc bản địa; Chấm dứt mọi hành động bắt bớ, giam cầm và tra tấn dân tộc bản địa (!).

Như vậy có thể thấy bản chất, mục tiêu cuối cùng mà các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đòi hỏi Chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khmer và các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên là dân tộc bản địa không phải xuất phát từ lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà là phục vụ âm mưu chính trị, ý đồ đen tối, nhằm chia cắt sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước. Đây là những quan điểm cần phải bác bỏ và nghiêm trị. 

Dân tộc thiểu số ở Việt Nam

 


Như chúng ta đã biết dân tộc là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua. Trong gia đình các dân tộc Việt Nam, có 54 dân tộc anh em, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số. các dân tộc ở Việt Nam không có dân tộc nào là dân tộc bản địa. Thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” thường dùng để chỉ những người thuộc các dân tộc (tộc người) có dân số ít hơn so với dân tộc đa số. Theo các nhà dân tộc học, để xác định một dân tộc (tộc người), cần phải dựa vào 3 tiêu chí cơ bản là: có chung ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Dựa vào các tiêu chí nói trên, trong những năm 70 của thế kỷ XX, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Ủy ban Dân tộc đã thống nhất xác định các dân tộc, xây dựng Bảng Danh mục thành phần các dân tộc ở nước ta trình Hồi đồng Chính phủ đã ủy quyền co Tổng cục Thống kê chính thức công bố bảng danh mục thành phần các dân tộc nước ta gồm 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số.

Việc xác định thành phần dân tộc Việt Nam là căn cứ để thực hiện các cuộc Tổng điều tra dân số, phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn văn hóa truyenf thống của các dân tộc, bảo đảm nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

 

LUẬN CỨ PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM KHÔNG THỰC THI CÁC QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA”

 


Thời gian gần đây, các thế lực thù địch tang cường chống phá cách mạng nước ta, chúng thường xuyên tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; trên các diễn đàn, trên mạng xã hội là: Chính quyền Việt Nam không thực thi các quyền của các dân tộc bản địa” theo đúng cam kết đã ký trong “Tuyên ngôn về các quyền của các dân tộc bản địa””. Đây là luận điệu hoàn toàn bịa đặt, vu khống, không đúng với thực tế tình hình ở nước ta. Bài viết dưới đây cung cấp các thông tin, tài liệu chứng minh, phản bác lại các luận điệu tuyên truyền vu khống đó.

Trong tiếng Anh, dân tộc bản địa được ghi trong văn bản của Liên hợp quốc là: Indigenuos (dân tộc bản địa hay dân tộc bản xứ) hoặc Aborginal peoples (những người thổ dân). Liên hợp quốc quan niệm: “ Dân tộc bản địa hay còn gọi là thổ dân, là nhóm người đã từng có mặt trên một khu vực đất đai, trước ngày di dân của nhóm dân tộc khác vào lãnh thổ của họ”[1]. Ví dụ: Những người thổ dân ở châu Đại Dương, họ đã sinh sống lâu đời ở châu Đại Dương, trước khi thực dân Anh đưa quân đội và dân đến chiếm đóng, thống trị và cai quản. Những người Mỹ gốc thổ dân hay thường gọi là người da Đỏ ở Mỹ, cũng có thể đọc theo phiên âm là người Anhđiêng (tiếng Anh là Native American Indians, Indigenous Peoples, Aboriginal Peoples hay Original Americans) là những người đã sinh sống lâu đời trên đất Mỹ, trước khi quân đội và người da trắng đến chiếm đóng.

Theo lịch sử nước ta, thuật ngữ “Dân tộc bản địa” gắn liền với các thời kỳ nước ta bị đô hộ, xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc, thuật ngữ “dân tộc bản địa” hoặc “người bản xứ” được dung để chỉ tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cả người Kinh và các dân tộc thiểu số).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là dân bản địa hay bản xứ nữa. Trong Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định: Nhà nước tôn trọng quyền bình đẳng của tất cả các công dân thuộc các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam. Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 quy định: “Tất cae công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”[2]. Đối với các dân tộc thiểu số, Hiến pháp cũng đã quy định: “Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc”[3]

Từ năm 1945 đến nay, thuật ngữ dân tộc bản địa hay người bản xứ chỉ còn dung trong văn bản lịch sử hoặc trong ký ức, gợi nhớ về quá khứ đau thương của dân tộc ta, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Hiện tại trong tất cả các văn bản hành chính và đời sống văn hóa xã hội ở nước ta không còn sử dụng thuật ngữ “dân tộc bản địa” đẻ chỉ vị thế của người dân hoặc nói về các dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống trên đất nước Việt Nam.

 



[1]. Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc, Bản tin số 9.

[2] Điều 6 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.

[3] Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980.

Việt Nam kiên định chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay là sự nhất quán về đường lối, chủ trương và luật pháp về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam; là tư tưởng quốc phòng đúng đắn, được lựa chọn và xác lập phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; là sự kế thừa truyền thống, tinh hoa văn hóa dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, được nâng lên và cấu thành nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Việt Nam ban hành nhiều chính sách quốc phòng, là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quân đội, phù hợp với bối cảnh quốc tế, thực tiễn đất nước, hòa bình hoặc chiến tranh, xung đột mà Việt Nam đang phải đối diện. Nhờ đó, Việt Nam không chỉ bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn phá vỡ thế bao vây, cấm vận, mở đường hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, giữ vững nền hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Để chuẩn bị cho đất nước bước vào thời kỳ phát triển nhanh và bền vững, thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một nước thịnh vượng, hùng cường và có nhiều đóng góp quan trọng vào giữ vững, xây đắp nền hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới, Đảng và Nhà nước ta ban hành chính sách quốc phòng Việt Nam (1), với một số quan điểm cơ bản:  

“Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

“Một đồng”: Đồng thời tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung.

“Một tùy”: Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp.

Như vậy, “mẫu số chung” của chính sách quốc phòng Việt Nam là: “Tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điều này thể hiện một chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, tiến bộ và đúng đắn của Việt Nam, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa tôn trọng và hài hòa với lợi ích của các quốc gia khác và cộng đồng quốc tế.  

“Không tham gia liên minh quân sự” là chính sách đầu tiên, chi phối và quyết định toàn bộ các chính sách quốc phòng khác của Việt Nam. Thực hiện chính sách quốc phòng nhất quán độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam; độc lập song không biệt lập, mà đồng thời (“một đồng”) chú trọng tăng cường quan hệ quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, cùng có lợi, vì hòa bình và sự tiến bộ của thế giới.

Bởi vậy, những luận điệu cổ xúy Việt Nam “chọn phe”, “liên thủ” hoặc “liên minh” quân sự với nước khác để “gia tăng sức mạnh bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”, cũng như đi ngược lại nguyên tắc “bốn không”, bản chất là âm mưu hòng làm suy yếu nền quốc phòng của Việt Nam, phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng tự chủ của một quốc gia độc lập, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng quân sự khác, gây nên những hệ lụy to lớn ảnh hưởng tới sức mạnh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cùng với “bốn không”, “một đồng”, chính sách “một tùy” thể hiện sự khéo léo, linh hoạt, nhưng hết sức cứng rắn trong quan hệ quốc tế, quốc phòng, quân sự của Việt Nam. Trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, Việt Nam sẽ “cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp”, nhằm tăng thêm thực lực, sức mạnh quốc phòng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động xâm hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Mối quan hệ biện chứng, tương hỗ, chuyển biến linh hoạt giữa “bốn không”, “một đồng”, “một tùy” trong chính sách quốc phòng Việt Nam thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự của dân tộc, phù hợp với xu thế của thời đại, bảo vệ tuyệt đối chủ quyền đất nước, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Lịch sử chiến tranh và quân đội trên thế giới đã chứng minh về tính chất hai mặt của liên minh quân sự. Hiện nay, thế giới đang tồn tại một số liên minh, khối quân sự tiêu biểu: 1) Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) - liên minh quân sự 30 nước do Mỹ đứng đầu; 2) Tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể (CSTO) - liên minh chính trị quân sự 6 nước châu Âu (thuộc khối Liên Xô trước đây) do Nga dẫn đầu; 3) Tổ chức An ninh tập thể Thượng Hải gồm 5 nước Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan; 4) Liên minh quân sự 3 nước Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Mỹ (ANZUS); 5) Liên minh quân sự Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc; 6) Liên minh quân sự Nga - Bê-la-rút... Ngoài ra, trước sự tranh giành, mâu thuẫn và đối đầu quyết liệt về lợi ích, thế giới đã hình thành các “Bộ Tứ”, “Bộ Tam kim cương” ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, như: Mỹ - Nhật Bản - Ô-xtrây-li-a - Ấn Độ; Nga - Trung Quốc - I-ran; Nga - I-ran - Ấn Độ; quan hệ Đối tác An ninh tăng cường ba bên (AUKUS): Mỹ - Ô-xtrây-li-a - Anh…   

Trong tính tương đối, các liên minh, khối quân sự trên tạo ra một cục diện tương đối hòa bình, ổn định cho khu vực và thế giới trong thời gian qua; nhưng mặt khác, chính các khối liên minh quân sự này đã và đang gây ra những căng thẳng, châm ngòi cho các cuộc chiến tranh, xung đột, tranh chấp, chủ nghĩa khủng bố kéo dài dai dẳng. Mâu thuẫn về lợi ích căn bản giữa các nước lớn đã thúc đẩy những hành động quân sự, chính sách quốc phòng cực đoan. Các nước khác trong và ngoài các khối này luôn bị lôi kéo hoặc cuốn vào những cuộc xung đột, buộc phải chi phí, tiêu hao nguồn lực quốc gia cho quốc phòng, an ninh để tăng cường phòng bị và tham gia nhiều hoạt động quân sự của liên minh; hoặc liên tục bị xung đột, chiến tranh, chủ nghĩa khủng bố tàn phá... khiến cho đất nước không thể phát triển, ngày càng phụ thuộc, lệ thuộc sâu hơn vào các nước lớn. Và, một khi lợi ích quốc gia của các nước lớn hoặc các quốc gia thuộc khối quân sự lớn đạt được thì lợi ích của các đồng minh nhỏ hoặc các nước nhỏ sẽ bị gạt đi một cách phũ phàng… Sự thật đó cho thấy, việc “chọn phe” cũng có thể đồng nhất với sự đánh mất chủ quyền quốc gia - dân tộc, khi quyền căn bản nhất là độc lập về đường lối chính trị đối nội và đối ngoại, quân sự đã bị nước ngoài can thiệp. “Chọn phe” phần nào thể hiện sự lệ thuộc, sự lạc hậu về tư tưởng và hành động quốc phòng, quân sự, đi ngược lại xu thế hòa bình và hợp tác của thời đại. Các quốc gia trên thế giới dù có cùng chung ý thức hệ hoặc khác biệt ý thức hệ đều có thể tồn tại, chung sống hòa bình, thịnh vượng nếu các bên cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Vì vậy, việc kiên trì chính sách quốc phòng “bốn không”, “một đồng”, “một tùy” là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam.

Lịch sử và hiện tại đều chứng minh, Việt Nam có đủ sức mạnh để tự bảo vệ mình mà không cần lệ thuộc, phụ thuộc vào bất cứ khối và liên minh quân sự nào. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam chính là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... Khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân Việt Nam đã trở thành sức mạnh vô địch mà không một kẻ địch nào có thể chiến thắng được. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch. Ta kháng chiến thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết. Ta xây dựng hòa bình thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết” (2).

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân; đồng thời là nhân tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc bất di bất dịch đó và thực tiễn xây dựng, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam là minh chứng hùng hồn đập tan mưu đồ của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa”, “trung lập hóa” và “dân sự hóa” quân đội, hòng làm cho quân đội nước ta mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu.

Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đồng thời tăng cường khả năng quốc phòng; phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam thực hiện chiến lược quốc phòng dựa trên tổng thể các hoạt động chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - xã hội và quân sự nhằm triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh. Quán triệt phương châm phòng thủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, quốc phòng Việt Nam sử dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ bên ngoài.

Đó còn là sức mạnh của thực lực quân sự, quốc phòng Việt Nam đã không ngừng được xây dựng, lớn mạnh cả về lực lượng, tiềm lực, thế trận, khoa học - công nghệ, nghệ thuật chỉ huy, tác chiến, sự tập trung thống nhất về lãnh đạo và quản lý quốc phòng - an ninh quốc gia, vùng, miền chiến lược, địa phương và cơ sở. Các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội được nhanh chóng xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia trách nhiệm và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Rõ ràng, những thành tựu, cùng thực lực sức mạnh quân sự, quốc phòng của Việt Nam đã tạo tiền đề vững chắc cho sự lựa chọn, kiên định, thống nhất triển khai thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình; là điều kiện thuận lợi cho xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời tự nó là minh chứng đanh thép đập tan những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kêu gọi từ bỏ chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay./.

V3.

Vai trò, trách nhiệm và nghĩa vụ của thế hệ trẻ trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo

 


Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam, bảo đảm quốc phòng – an ninh trên biển là nội dung chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt hiện nay. Trách nhiệm thiêng liêng này thuộc về mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ và vai trò xung kích thuộc về thế hệ trẻ, đây là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển bền vững hiện nay và trong tương lai. Để thế hệ trẻ làm tốt việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần phải tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về chủ quyền biển, đảo, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo.

Công tác tuyên truyền biển, đảo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho thanh niên cần bám sát thực tiễn tình hình, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp với trình độ, đặc điểm của từng địa bàn nhằm đáp ứng thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đồng thời tận dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật và chú trọng mở rộng phạm vi tuyên truyền.

Công tác tuyên truyền về chủ quyền quốc gia trên biển cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và địa phương trong việc phát huy các tổ chức, đoàn thể, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công tác tuyên truyền và gắn kết chặt chẽ với việc học tập và làm theo tấm gương, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống, các bài học kinh nghiệm và gương các anh hùng trong kháng chiến chống xâm lược trong thanh niên.

Thông qua các cuộc vận động và chương trình hành động của thanh niên với cách làm thiết thực, như: "Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, "Tuổi trẻ giữ nước”, "Năm xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, "Doanh nhân trẻ khởi nghiệp”, "Nghĩa tình biên giới, hải đảo”, "Vì Trường Sa thân yêu”, "Góp đá xây Trường Sa”, "Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, "Tuổi trẻ hướng về biển, đảo của Tổ quốc”… Phối hợp giữa các cấp, ngành, tổ chức đoàn thể, gia đình, nhà trường, xã hội (nhất là Đoàn Thanh niên) và các hoạt động văn hoá, các phương tiện thông tin đại chúng tạo sức mạnh tổng hợp, hướng thanh niên chung sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đối với các cấp Đoàn, cần chú trọng tổ chức các hoạt động thi tìm hiểu, tọa đàm về chủ quyền biển, đảo trong thanh niên bảo đảm thiết thực, chất lượng tốt; tăng cường tổ chức cho thanh niên đi thăm và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thực tế trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Đồng thời, cần tổ chức cho thanh niên tham gia tìm hiểu về pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế để các thế hệ thanh niên hiểu và nắm vững các vùng, khu vực thuộc chủ quyền có lịch sử lâu đời của Việt Nam cũng như chủ quyền và quyền chủ quyền đối với biển, đảo Việt Nam được xác lập trên cơ sở các điều khoản quy định trong Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982; khẳng định, củng cố niềm tin cho nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế nói chung cũng như đối với thanh niên về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Thứ hai, cần có sự quan tâm và chính sách đãi ngộ cụ thể đối với thanh niên khi tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Cùng với việc thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với các huyện đảo xa bờ và các địa bàn trọng điểm, chiến lược; coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi huyện đảo và giữa các huyện đảo với nhau, tạo ra thế trận liên hoàn trên biển để có thể nhanh chóng tập hợp và sử dụng hiệu quả sức mạnh của các lực lượng tại chỗ phục vụ cho quốc phòng – an ninh trên biển, thì rất cần thiết để cho thanh niên nắm rõ được tính chất phức tạp của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vừa nhận thấy nhân dân ta, đất nước ta có đủ ý chí, quyết tâm và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc biển, đảo của mình, qua đó, củng cố thêm niềm tin, thái độ, động cơ và ý chí vững vàng cho thanh niên về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc một cách bền vững, để "không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập”8.

Động viên thế hệ trẻ nâng cao quyết tâm và hành động thiết thực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó đang nổi lên vấn đề bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trên các vùng biển đảo. Nhưng muốn có được quyết tâm và hành động để bảo vệ, trước hết phải có đủ tri thức hiểu biết và lòng tự hào về những điều mình sẽ dám bảo vệ, để thế hệ trẻ Việt Nam có ý thức về chủ quyền quốc gia nói chung, chủ quyền biển đảo nói riêng. Đó là những cơ sở tri thức tiền đề quan trọng giáo dục lòng tự hào dân tộc, bồi đắp tinh thần yêu nước, nâng cao ý thức về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng thời chống lại âm mưu xuyên tạc lịch sử, âm mưu thôn tính từng bước, dưới nhiều hình thức của các thế lực xâm lược.

Một trong những nền tảng quan trọng trong việc củng cố niềm tin, thái độ, động cơ và ý chí cho thế hệ trẻ đối với vận mệnh của đất nước, đó là cần nắm vững tư tưởng, phương châm chỉ đạo giải quyết các vấn đề về biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta, để thanh niên thực sự là một lực lượng to lớn và vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế các vùng đảo, quần đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của biển đảo Việt Nam.

Thứ ba, chú trọng xây dựng quyết tâm cao, định hướng hành động thiết thực trong thanh niên đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.   

Để xây dựng quyết tâm cho thanh niên, cần làm cho thanh niên thấy được sự khó khăn, gian khổ đối mặt với nguy hiểm, sự phức tạp của các hoạt động trên biển, đảo (đặc biệt là ở một số đảo có vị trí quan trọng về quốc phòng – an ninh như: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…), đòi hỏi thanh niên phải dũng cảm, mưu trí, chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường, sẵn sàng hy sinh xương máu, kiên quyết đứng lên bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc biệt là đối với thế hệ trẻ là lực lượng kiểm ngư; hay thanh niên ở các địa phương ven biển, huyện đảo tích cực tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ để vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển.

Bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền, thanh niên cần phải tiếp tục gìn giữ và phát triển những tiềm năng của biển đảo Việt Nam, để Việt Nam có thể làm giàu từ biển, mạnh về biển, củng cố vị trí của Việt Nam giữa các quốc gia trên thế giới để sớm đưa đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, sánh vai với cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.

V3.

 

Tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc vấn đề “nhân quyền” tại Việt Nam

 


Các đối tượng xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay về cơ bản là những lực lượng cực hữu ở một số nước phương Tây, lực lượng cực hữu người Việt ở nước ngoài và những cá nhân người Việt trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay thường tập trung vào hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về dân chủ, nhân quyền.

Trong bản Báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2021, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa lại xuyên tạc sự thật về tình hình Việt Nam. Bản báo cáo dài 48 trang đã đề cập đến nhiều nội dung thiếu chính xác và khách quan, không phản ánh đúng thực tế về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Trong báo cáo, Việt Nam được nêu như là một quốc gia độc tài, độc đảng và "cuộc bầu cử Quốc hội không tự do cũng không công bằng". Báo cáo cũng đề cập đến tình trạng giết người bất hợp pháp và tuỳ tiện của Chính phủ; tra tấn và đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục bởi các nhân viên Chính phủ; bắt giữ và giam giữ tùy tiện; tù nhân chính trị; sự trả thù có động cơ chính trị đối với các cá nhân ở quốc gia khác…

Hay trong một bản báo cáo công bố vào ngày 17/02/2022, tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền Human Rights Watch (HRW) đã cáo buộc chính quyền Việt Nam “cản trở một cách có hệ thống quyền tự do đi lại của các nhà hoạt động chính trị và nhân quyền”. Trong báo cáo, HRW đã vu cáo chính quyền Việt Nam áp dụng các biện pháp nhằm giam lỏng, hoặc cản trở việc đi lại của những nhà hoạt động nhân quyền, hay những người bất đồng chính kiến cũng như chu kỳ diễn ra của những sự vi phạm quyền tự do đi lại này. Tuy nhiên, mọi cáo buộc được đưa ra trong báo cáo của HWR là vô căn cứ và không mang tính khách quan. Thông tin mà tổ chức HRW dựa vào để đưa ra cáo buộc lại là từ những kẻ mà chúng gọi là “các nhà hoạt động”, mà bản chất lại là những kẻ chống phá chính quyền, thường xuyên có những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Các “nhà hoạt động” này tự nghĩ rằng mình bị ngăn cấm, cản trở đi lại và lỗi này đều do chính quyền gây ra, tuy nhiên chẳng có cơ quan, cá nhân, tổ chức nào cản trở quyền tự do đi lại cả; tại Việt Nam chưa hề diễn ra sự bắt bớt công dân một cách trái pháp luật. Thực chất HWR đang lợi dụng chiêu bài nhân quyền để thúc đẩy các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, hướng lái theo ý đồ của họ. Chưa dừng lại ở đó, khi Việt Nam phòng chống dịch Covid-19 thành công, bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân cũng bị cáo buộc vi phạm nhân quyền; HRW cho rằng “Việt Nam tự xưng đã thành công trong việc chống dịch Covid-19 trong năm 2020 và năm tháng đầu năm 2021. Nhưng khi biến thể Delta tràn vào khu vực, tính đến đầu tháng Mười một đã có hơn 939.000 ca dương tính và hơn 22.000 người chết. Các lực lượng thực thi pháp luật đã vi phạm nhân quyền khi sử dụng vũ lực quá mức để cưỡng chế người dân xét nghiệm Covid-19 hay đi cách ly bắt buộc, và để ép buộc thi hành lệnh phong tỏa”.

Gần đây, trên các diễn đàn thông tin của VOA, FRA, Việt Tân đăng tải nội dung “Tờ trình của liên minh Châu Âu (EU) trước đối thoại nhân quyền EU - Việt Nam” trong khuôn khổ hoạt động đối thoại thường niên về nhân quyền năm 2022. Trong đó đưa ra các luận điểm: “Dù nhà cầm quyền cho phép nhiều nhà thờ, chùa chiền trong hệ thống kiểm soát của nhà nước được tổ chức thờ phụng, cúng lễ nhưng vẫn cấm các hoạt động tôn giáo bị họ tuỳ tiện cho là đi ngược với “lợi ích quốc gia”, “trật tự xã hội”, hay “khối đoàn kết dân tộc”. Chính quyền dán nhãn “tà đạo” đối với Tin Lành Đề Ga, Công giáo Hà Mòn, Pháp Luân Công và vài nhóm tôn giáo khác”. Tổ chức Việt Tân đề cập đến nội dung “Việt Nam được Liên Âu gọi là “chế độ đàn áp” trong báo cáo nhân quyền, với nội dung “Báo cáo cho rằng ở Việt Nam những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, và thành quả mà Châu Âu đạt được trong lĩnh vực nhân quyền ở đây là không đồng nhất” hay “Khi cần Châu Âu và Hoa Kỳ giúp đỡ thì chính quyền sẽ nới lỏng sự kiểm soát, nhưng khi đã đạt được mục đích thì sẽ quay ngoắt và tăng cường đàn áp trở lại, đó là bản chất xảo trá của ĐCSVN”. Tuy nhiên, phải nói rằng, toàn bộ nội dung của “Tờ trình” chỉ được đăng tải trên các trang thông tin của các tổ chức phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Tính đến thời điểm hiện tại, Chính phủ Việt Nam chưa ghi nhận được bất kỳ văn bản chính thức nào từ phía EU trong năm 2022.

 

Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền, như các bản phúc trình toàn cầu về nhân quyền của HRW và các báo cáo của Mỹ đều dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, mang động cơ chính trị thực dụng nên phiến diện và không phản ánh đúng thực tiễn nhân quyền tại Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã từng rất nhiều lần phản hồi thông tin sai sự thật, phản bác các thông tin sai trái, khẳng định lại sự thật khách quan về tình hình tại Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến nhân quyền. Trong tất cả những lần đó, các tổ chức cáo buộc Việt Nam đều không hề có ý kiến phản hồi cũng như không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc Việt Nam có dấu hiệu hay hành động xâm phạm đến quyền con người.

Nhìn nhận một cách khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam, công tác bảo đảm quyền con người trong hơn 35 năm đổi mới ở nước ta đã thu được nhiều thành tựu nổi bật. Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam và điều này được thể hiện rõ trong Bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững. Trái với những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn về nhân quyền, thực tế Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy nhân quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Trong thời điểm đại dịch Covid-19 hoành hành trên thế giới và ở Việt Nam, hàng loạt chính sách an ninh con người, an sinh xã hội được Chính phủ ban hành nhằm bảo đảm an ninh lương thực và ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Gói an sinh xã hội có quy mô 62.000 tỷ đồng (năm 2020), gói cứu trợ 26.000 tỷ đồng (năm 2021) là giải pháp cấp bách, kịp thời, không chỉ giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19 đối với quyền sống, quyền được chăm sóc y tế và mưu sinh của người dân, mà còn một lần nữa khẳng định mạnh mẽ quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam “đặt lợi ích của người dân lên trên” và “không để lại ai ở phía sau” trong đại dịch Covid-19.

Đồng thời, Việt Nam cũng chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng thế giới ghi nhận như việc thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao trong những lần Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Từ những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là những đòn đả kích mạnh mẽ nhằm vào các đối tượng vu cáo Việt Nam về vi phạm nhân quyền.

Thực tế nhân quyền ở Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế, tiêu biểu là nhiều nhà lãnh đạo, chính khách quốc tế, các nhà quan sát, du khách đến Việt Nam cảm nhận, đánh giá. Chẳng hạn nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á David Hutt phát biểu trên đài BBC News rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân lên làm mối quan tâm hàng đầu. Còn trang liberationnews.org (Mỹ) thì thừa nhận: Một chính phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế... Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh: Việt Nam ứng phó thành công đại dịch Covid-19 là một câu chuyện truyền cảm hứng, trong đó tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn kết xã hội là chìa khóa thành công. Trang Times of India thì cho rằng, Chính phủ Việt Nam đã chủ động bảo vệ người dân trước dịch bệnh thông qua việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về dịch bệnh và quyền được tiếp cận điều trị Covid-19 cho tất cả mọi người, nhờ thế đã tạo được sự đồng thuận trong xã hội, huy động được sức mạnh toàn dân trong cuộc chiến chống dịch. (1)

Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người chính là một trong những minh chứng cụ thể nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền. Việc lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch.

V3.

 

Tiếp tục đẩy mạnh, có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 


Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

          V3.

 

Thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng, cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đưa nhiệm vụ này vào chỉ tiêu nghị quyết lãnh đạọ của cấp ủy, chi bộ, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, trách nhiệm của đảng viên, nhất là bí thư cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, từ đó đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả thiết thực.

Hai là, phải làm tốt công tác phối hợp, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của cơ quan nghiệp vụ cấp trên; các sự kiện chính trị quan trọng, những vấn đề phức tạp nhạy cảm và hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội trên internet, MXH, có kế hoạch tổ chức đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả.

Ba là, tăng cường công tác quản lý tư tưởng, kỷ luật, mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là khi tiếp xúc với Nhân dân giải quyết các vấn đề nhạy cảm. Kịp thời phát hiện và ngăn ngừa những biểu biện suy thoái về chính trị tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, không để xảy ra thiếu sót, sơ hở, để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá, xuyên tạc.

Bốn là, thường xuyên tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm, kịp thời khen thưởng, động viên những tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khích lệ, cổ vũ cán bộ tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng…

          V3.

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam

 


Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước. Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn đan xen, song quá trình thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn.

Song với mục đích, động cơ đen tối, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại luôn tìm mọi cách để phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta. Thủ đoạn chúng thường thực hiện đó là lợi dụng những hạn chế, tiêu cực trong xã hội; những thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật ở từng bộ phận, địa phương, tổ chức, cá nhân, nhất là cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn của một bộ phận nhân dân, những người nghèo, vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo; sự phân hóa, chênh lệch giàu nghèo… để xuyên tạc, chống phá. Chúng ra sức tuyên truyền luận điệu vu cáo Đảng, Nhà nước ta không quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của người dân, thậm chí “bỏ mặc” nhân dân, chỉ chăm lo cho lợi ích của Đảng, lợi ích của cán bộ, đảng viên… Từ việc dựng lên một hình ảnh Việt Nam không có “dân chủ”, mất “công bằng”, các thế lực phản động, thù địch không ngừng kêu gọi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, những luận điệu vô căn cứ nói trên xuất phát từ góc nhìn phiến diện, một chiều và động cơ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Cần khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là đường lối, chủ trương xuyên suốt của Đảng, hiện thực sinh động về tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta. Với việc khởi xướng công cuộc đổi mới, Đại hội VI (1986) đã đánh dấu bước đổi mới căn bản tư duy của Đảng ta về xây dựng CNXH, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam. Về bản chất, việc phát triển kinh tế trong CNXH đã hướng đến và bao hàm tiến bộ, công bằng xã hội. Tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu hướng đến, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm để kinh tế phát triển lành mạnh. Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”; “không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần” (1). Bám sát thực tiễn, Đảng ta đã kiên trì lãnh đạo thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Đặc biệt, đến nay sau hơn 35 năm đổi mới, quá trình thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể kinh tế tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm từ 6,9% của năm 2001 xuống 3,22% năm 2021. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình trong 35 năm qua đạt khoảng 7%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng hơn 23 lần, từ 159 USD/năm (1985) lên 3.743 USD/năm (2021). Kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng từ 2,4 tỷ USD (1990) lên 660 tỷ USD (2021). Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều… Đây là cơ sở, điều kiện có tính quyết định để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trên phạm vi cả nước, an sinh xã hội được thực hiện ngày càng tốt hơn. Chính sách bảo trợ, hỗ trợ xã hội có nhiều tiến bộ. Riêng trong giai đoạn 2015 - 2020, cả nước đã hỗ trợ nhà ở cho 335,8 nghìn hộ người có công; hỗ trợ nhà ở cho hơn 181,4 nghìn hộ nghèo ở nông thôn và các vùng thường xuyên bị bão lụt; xây dựng hơn 6 triệu m2 nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại đô thị và công nhân các khu công nghiệp. Mới đây nhất, trong đại dịch COVID-19, Nhà nước dành nhiều nguồn lực, biện pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn, như giảm, giãn thuế, phí, lệ phí; giảm giá điện, nước, dịch vụ viễn thông; khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất tín dụng...

Nhất quán chủ trương thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được nhiều thành tựu. Quy mô giáo dục phát triển, cơ sở vật chất được nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho sự phát triển đất nước nhanh và bền vững. Số trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 chiếm 99%; số trẻ đi học và hoàn thành tiểu học sau 5 năm chiếm trên 92% (thuộc nhóm đầu của ASEAN). Hiện có 95% số người lớn biết đọc, biết viết; đã phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010. Hệ thống y tế được tổ chức đến tận cơ sở thôn, bản không những phát huy tốt hoạt động y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu mà trong nhiều lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật khám, điều trị, chữa bệnh đã đạt trình độ tiên tiến của thế giới, nhất là kỹ thuật ghép chi, ghép tạng và sản xuất vắc-xin... Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2021.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu nổi bật nêu trên, vẫn “có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa;... bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù” (2).

Khách quan nhìn nhận, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là vấn đề phức tạp; vừa phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, nhất là trình độ kinh tế, vừa phục thuộc vào năng lực chủ quan của các chủ thể xã hội. Ở nước ta, chủ trương của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được triển khai thực hiện đồng bộ, thường xuyên đã tạo điều kiện để các giai cấp, tầng lớp nhân dân với đặc điểm, nhu cầu đa dạng, phong phú đều có cơ hội đóng góp cho đất nước; đồng thời, được thụ hưởng xứng đáng, phù hợp với thành quả phát triển từ các chính sách kinh tế, xã hội của đất nước.

Rõ ràng, với quan điểm xuyên suốt, nhất quán, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới. Những kết quả tích cực, toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội đã không chỉ khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa do Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng; mà còn là những minh chứng sinh động để đập tan các âm mưu, luận điệu phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam.

Mọi âm mưu, hành động xuyên tạc, phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua sẽ không thể đánh lừa được dư luận trong nước và quốc tế. Trực tiếp thụ hưởng thành quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, mọi người dân Việt Nam sẽ tiếp tục đoàn kết một lòng, hiện thực hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

V3.