Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

 

Phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trong tình hình mới có nhiều lực lượng tham gia và lực lượng của các cơ quan, sở, ban, ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị-xã hội nhân dân trong tỉnh; trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Bởi vậy, đây là một giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi “diễn biến hòa bình” và dập tắt bạo loạn lật đổ.

Phối kết hợp chặt chẽ các lực lượng; củng cố chính quyền các cấp; trong phát triển kinh tế xã hội gắn với củng cố tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh; trong nắm tình hình địa phương, nắm và phát hiện âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, hoạt động chống phá gây bạo loạn lật đổ của các thế lực phản động; trong xây dựng kế hoạch, phương án chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; trong đấu tranh giải quyết các ‘‘điểm nóng” đáp ứng yêu cầu phòng ngừa hiệu quả, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các cuộc bạo loạn, sẵn sàng dập tắt các cuộc bạo loạn lật đổ nhanh nhất, kiên quyết không để xảy ra sai lầm tạo cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp.

Ngăn chặn, chia cắt lực lượng biểu tình, bạo loạn, bắt giữ những tên cầm đầu, hung hăng manh động. Phát triển kinh tế xã hội với hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, kịp thời giải quyết các tình huống xảy ra ở từng địa phương. Vì vậy, phải được xây dựng rộng khắp, có chất lượng tổng hợp cao, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong các tình huống xảy ra ở cơ sở. Thường xuyên giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, kiến thức pháp luật về biên giới, năng lực làm công tác đối ngoại nhân dân trên biên giới; nâng cao chất lượng huấn luyện sát với nhiệm vụ giữ gìn an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên biên giới.

Bằng các nghiệp vụ của lực lượng, chủ động và phối hợp với các lực lượng khác như bộ đội, biên phòng phải xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cốt cán nắm chắc tình hình, ngăn chặn, trấn áp những phần tử phản động, cầm đầu đội lốt tôn giáo, ngăn chặn truyền đạo trái phép, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn tỉnh, đặc biệt là vùng núi, vùng sâu vùng xa không để xảy ra bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ trong tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội

Đây là giải pháp giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là cơ sở để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Học viện Lục quân hiện nay. Bởi vì, nhận thức giữ vai trò trong định hướng và chỉ đạo hoạt động của các cá nhân và tổ chức. Nhận thức đúng là cơ sở để mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sỹ Học viện tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Hai là, tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực đấu tranh trên không gian mạng cho lực lượng 47

Trước hếtcấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị cần có chủ trương, biện pháp bồi dưỡng năng lực đấu tranh trên không gian mạng cho Lực lượng 47. Nội dung giáo dục, bồi dưỡng phải toàn diện nhằm bổ sung, nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là tri thức khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khả năng tư duy khoa học, trình độ khai thác và sử dụng công nghệ thông tin, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, nhãn quan chính trị để nhận diện đúng, đấu tranh phê phán có hiệu quảgóp phần bảo vệ và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nayVề hình thức, biện pháp bồi dưỡng, cấp ủy chỉ huy các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị.

          Ba là, tiếp tục đổi mới phương thức, đa dạng hóa hình thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” rất đa dạng, tinh vi và thường xuyên thay đổi. Để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng thực sự đem lại chất lượng, hiệu quả đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên có sự đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp đấu tranh. Mỗi cơ quan, khoa, đơn vị cần xây dựng kế hoạch đấu tranh cụ thể trên cơ sở chỉ đạo chung; bám sát đặc điểm đối tượng, khai thác nguồn tin và tổ chức lưu chuyển thông tin phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Phải có sự phối hợp chặt chẽ, phân công cụ thể, xác định rõ nội dung đấu tranh, mục tiêu cần đạt được; đấu tranh thường xuyên, liên tục. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch trên không gian mạng.      N.T.T

 

 

ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỐI TÁC TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY


Xác định đối tác, đối tượng trong quan hệ quốc tế luôn là vấn đề nhạy cảm, quan trọng đối với các quốc gia - dân tộc. Trong hơn 35 năm đổi mới đất nước, việc nhận diện đối tác, đối tượng, xử lý mối quan hệ giữa đối tác, đối tượng luôn được Đảng ta quan tâm, chú trọng. Đây chính là cơ sở để Việt Nam hoạch định đường lối đối ngoại, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Ngày nay chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là là đế quốc Mỹ đã thay đổi biện pháp chiến lược, bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên phạm vi toàn thế giới và ở nước ta diễn ra trong những điều kiện mới và những hình thức mới. Trong điều kiện đó có nhiều mặt tích tụ thành nguy cơ của cách mạng, không chỉ là nguy cơ từ bên ngoài, mà còn nguy cơ nẩy sinh từ bên trong do chính mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với sự tác động nguy hiểm, thù địch của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động gây ra. Từ thực tế đó, việc xác định đối tượng, đối tác của cách mạng nước ta hiện nay đòi hỏi Đảng ta có tầm nhìn toàn cục để xác định đâu là đối tượng, đâu là đối tác của cách mạng nước ta, trong tình hình hiện nay.

 Đối tác là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác, hợp tác, liên kết, phối hợp với nhau giữa hai hay nhiều bên để cùng hành động, hỗ trợ lẫn nhau thực hiện những mục tiêu, lợi ích chung hay tương đồng của các bên tham gia. Đối tác có nhiều cấp độ khác nhau: Đối tác quan hệ đặc biệt, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác chiến lược trong một số lĩnh vực cụ thể, đối tác toàn diện, đối tác hữu nghị. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, không quốc gia nào cỏ thể tự mình phát triển nếu không tham gia vào hội nhập, liên kết, bởi những giá trị phát triển chung của nhân loại ngày càng được phổ biến toàn cầu.

          Đảng ta lại nhấn mạnh: Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản\của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

          Những quan điểm trên cho thấy: Đảng ta xác định rõ con đường phát triển của Việt Nam là phải tham gia hội nhập quốc tế, đến với quốc tế, làm bạn với các nước, các tổ chức quốc tế để cùng bàn bạc, chia sẻ, cùng hợp tác làm ăn. Qua đó, vừa giành lợi ích cho đất nước, cho dân tộc nhờ vào thế mạnh, ưu điểm của mình, vừa tránh được những thua thiệt về lợi ích nếu như ta không tham gia. Đồng thời lại tranh thủ được những kinh nghiệm, bài học, vốn đầu tư và những giá trị tiến bộ của nhân loại để vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

          Việt Nam ngày càng có nhiều đối tác quan hệ hữu nghị, bình đẳng cùng có lợi và chính các đối tác trong quá trình quan hệ, làm ăn, chia sẻ sẽ ngày càng hiểu Việt Nam hơn, ủng hộ Việt Nam, đóng góp vào quá trình phát triển của Việt Nam và góp phần nâng cao uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Trong những đối tác của Việt Nam, có đối tác về nhiều mặt như chính trị, kinh tế, quốc phòng quân sự, có đối tác về từng lĩnh vực như kinh tế hoặc ngoại giao, quân sự hoặc xã hội, thậm chí là đối tác của một vấn đề chiến lược như đối tác về biến đổi khí hậu, đối tác về chống nước biển dâng. Mức độ xác định đối tác tùy thuộc vào lòng tin chính trị, mối quan hệ truyền thống và thế mạnh của từng đối tác trên lĩnh vực quan hệ. Bước chuyển đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng ta xuất phát từ các yếu tố:

Trước hết, nhu cầu đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam với các nước. Trước Đại hội VI của Đảng, Việt Nam rơi vào khủng hoảng toàn diện về kinh tế - xã hội; đất nước bị bao vây, cô lập; quan hệ với Trung Quốc chưa được cải thiện. Để thoát khỏi tình thế hiểm nghèo, Đảng ta đã quyết định tiến hành đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, từng bước khai thông quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc giải quyết vấn đề Campuchia năm 1989 đã giúp Việt Nam gạt bỏ trở ngại quan trọng trong quá trình tìm kiếm thêm bạn bè và trên thực tế đã tạo sự xoay chuyển căn bản trong quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam. Hơn nữa, trong hoàn cảnh hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đang gặp khó khăn, ngoài nhu cầu thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận, Việt Nam còn có thêm nhu cầu mở rộng quan hệ với cả các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa. Tuyên bố của Đại hội VII (năm 1991): Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, là sự khẳng định mong muốn đó.

Thứ hai, tình hình thế giới, khu vực cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã tác động sâu sắc đến việc đổi mới tư duy của Đảng về quan niệm đối tác - đối tượng. Sự kết thúc của Chiến tranh lạnh tạo ra những điều kiện khiến xu thế hòa dịu, hòa hoãn trở nên chiếm ưu thế trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới; tạo những tiền đề cho sự hình thành xu thế đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập khu vực và quốc tế. Một trật tự thế giới mới theo hướng đa cực đã dần hình thành. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống quốc tế. Toàn cầu hóa trở thành một xu thế tất yếu, khách quan mà không một nước nào trên thế giới có thể đứng ngoài lề nếu không muốn bị tụt hậu.

Thứ ba, các nước trên thế giới đều điều chỉnh chiến lược quốc gia, chuyển hướng chính sách đối ngoại để thích nghi và giành chủ động ở mức độ nhất định trong môi trường quốc tế mới. Lý do sự chuyển hướng này là bởi những biến động to lớn từ sự thay đổi chế độ xã hội ở một loạt nước Đông Âu và Liên Xô, dẫn tới phá vỡ cục diện hai phe, hai cực. Trong giai đoạn chuyển tiếp từ trật tự thế giới cũ sang trật tự thế giới mới, các nước xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc, đều điều chỉnh lại chính sách, tìm kiếm điều kiện thuận lợi nhằm tối đa hóa lợi ích của mình. Các nước lớn chủ trương tăng cường hợp tác và chủ động cải thiện quan hệ với nhau; đều tìm kiếm cơ hội riêng cho mình trong bối cảnh mới, tránh xung đột, đối đầu. Một số khuôn khổ hợp tác đã được hình thành, được sử dụng để chế ngự phát sinh mâu thuẫn và xung đột lợi ích mới.                                  N.T.T

 

           


PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH

 

Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta. Đảng ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để tạo điều kiện phát triển và quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. Giữ vững và nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế đất nước, đồng thời tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của đất nước, tham gia có hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Phát triển kinh tế thị trường phải kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Theo đó, phải tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ; đẩy mạnh phát triển các vùng kinh tế trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ cho các vùng còn nhiều khó khăn; khuyến khích làm giầu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo.

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển, tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập; khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Triển khai có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho những người và gia đình có công với cách mạng. Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nâng cao chất lượng chăm sóc súc khỏe nhân dân, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ; tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.

Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.                                                                                                         N.T.T

 

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CHẾ ĐỘ NGHỈ CỦA QUÂN NHÂN CHUYÊN NGHIỆP, CÔNG NHÂN VÀ VIÊN CHỨC QUỐC PHÒNG!

     Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 109/2021/TT-BQP ngày 23-8-2021 (TT 109/2021) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 113/2016/TT-BQP ngày 23-8-2016 của Bộ Quốc phòng quy định chế độ nghỉ của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng (QNCN, CN, VCQP).

Theo đó, hằng tuần QNCN, CN, VCQP được nghỉ ngày thứ Bảy và ngày Chủ nhật. Đối với đơn vị thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu hoặc do yêu cầu nhiệm vụ, việc nghỉ hằng tuần do chỉ huy cấp Trung đoàn và tương đương trở lên căn cứ tình hình nhiệm vụ của đơn vị thực hiện cho phù hợp.
Về chế độ nghỉ phép hằng năm, TT 109/2021 quy định: QNCN, CN, VCQP có thời gian công tác dưới 15 năm được nghỉ 20 ngày; từ đủ 15 năm đến dưới 25 năm được nghỉ 25 ngày và từ đủ 25 năm công tác trở lên được nghỉ 30 ngày. QNCN, CN, VCQP đóng quân ở đơn vị xa gia đình (nơi cư trú của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp; bố, mẹ, người nuôi dưỡng hợp pháp của bản thân, của vợ hoặc của chồng) khi nghỉ phép hằng năm được nghỉ thêm 10 ngày khi thuộc một trong các trường hợp đóng quân cách xa gia đình từ 500km trở lên; đóng quân ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cách xa gia đình từ 300km trở lên; đóng quân tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1; được nghỉ thêm 5 ngày khi thuộc một trong các trường hợp đóng quân cách xa gia đình từ 300km đến dưới 500km; đóng quân ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cách xa gia đình từ 200km đến dưới 300km và có hệ số khu vực 0,5 trở lên; đóng quân tại các đảo được hưởng phụ cấp khu vực.
Trong trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, đơn vị không thể bố trí cho QNCN, CN, VCQP nghỉ phép năm hoặc nghỉ chưa hết số ngày phép năm theo quy định thì năm sau chỉ huy đơn vị xem xét, quyết định cho nghỉ bù phép của năm trước. Trường hợp cá biệt, chỉ huy đơn vị vẫn không thể bố trí cho nghỉ phép được thì QNCN, CN, VCQP được xem xét, thanh toán tiền lương đối với số ngày chưa nghỉ phép năm theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư số 13/2012/TT-BQP ngày 21-2-2012 của Bộ Quốc phòng quy định chế độ thanh toán tiền nghỉ phép đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, đơn vị Quân đội. Thời gian đi đường không tính vào số ngày được nghỉ phép đối với các trường hợp: Nghỉ phép năm; nghỉ phép năm thuộc các trường hợp nghỉ thêm; nghỉ phép đặc biệt. Ngoài ra, TT 109/2021 cũng sửa đổi, bổ sung quy định chế độ nghỉ lễ, tết và và chế độ nghỉ chuẩn bị hưu đối với QNCN,CN,VCQP. TT 109/2021 của Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10-10-2021./.
Môi trường ST.

BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Đại hội Đảng lần thứ XII đã khẳng định những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong tình hình mới; quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi những quan điểm cơ bản đó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có nội dung rộng lớn và toàn diện, quan hệ mật thiết và gắn bó chặt chẽ với tư duy mới của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn 36 năm đổi mới, đất nước chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng; chính trị-xã hội ổn định; môi trường hòa bình được giữ vững; quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp, Tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng làm nên những thành tự to lớn và có ý nghĩa lịch sử đóBảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bao gồm: bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo và thềm lục địa; bảo vệ mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lưạ chọn; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực phản động trong và ngoài nước. Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ những thành quả của công cuộc đổi mới mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giành được. Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vị thế, uy tín, quyền bình đẳng của nước ta trên trường quốc tế; đấu tranh không khoan nhượng với tất cả các lực lượng và những hành động làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, đẩy lùi các tội phạm và tệ nạn xã hội; giữ gìn kỷ cương, kỷ luật; bảo tồn phát huy các giá trị văn học, nghệ thuật, thuần phong mỹ tục, đồng thời làm phong phú thêm truyền thống bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta.

TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ AN NINH

 

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nền tảng là công nghệ thông tin đang chuyển hóa một phần thế giới thực thành thế giới số và cùng song song tồn tại. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, đặc biệt là truyền thông xã hội, đã và đang tạo điều kiện cho sự phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Nhà nước ta phải sử dụng đầy đủ cả quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế để giữ vững kỉ cương xã hội, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi vi phạm pháp luật và các tệ nạn xã hội, khắc phục cho được tình trạng có những văn bản pháp luật đã được ban hành nhưng không được nghiêm chỉnh chấp hành. Thực tế chứng minh sự kém hiểu biết, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật của một bộ phận dân cư đã và đang kéo dài trong thời gian qua.

Xu thế toàn cầu hoá hội nhập và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ như vũ bão trong những năm qua đã đem lại cho đất nước ta những thời cơ, thuận lợi để phát triển, song cũng không ít những khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Những thách thức này đã và đang biến chuyển thành những nguy cơ mới hết sức đa dạng, đa chiều và nguy hiểm; đây thực sự là những mối đe doạ trực tiếp tới an ninh quốc gia hiện nay.

Cùng với những bất cập của pháp luật trong quản lý xã hội, đã dẫn đến thái độ tự do vô kỉ luật coi thường pháp luật đặc biệt là hình thành phổ biến trong xã hội kiểu ứng xử hung bạo trong các quan hệ xã hội. Kiểu cách ứng xử này vừa là hậu quả cơ bản của loại hình tội phạm sử dụng bạo lực người tốt, việc tốt nhằm xây dựng một cuộc sống trật tự, yên vui, lành mạnh.

Đẩy mạnh cải cách tư pháp, quan tâm xây dựng đổi mới, tổ chức hoạt động của cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Cần bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan này có đủ quyền lực và khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ pháp luật.

Việc tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trong công tác bảo vệ an ninh, đòi hỏi Nhà nước ngoài việc tăng cường cho lực lượng Công an mạnh về tổ chức, còn phải quan tâm trang bị các phương tiện nghiệp vụ, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia. Nhà nước ưu tiên áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào việc nghiên cứu, sản xuất các loại phương tiện nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng.

 

SIẾT CHẶT KỶ LUẬT, GÓP PHẦN GIÚP ĐẢNG VỮNG MẠNH!

     Trong thời gian qua, qua kiểm tra, giám sát, không ít cán bộ ở Trung ương và các địa phương có khuyết điểm đã được cấp có thẩm quyền xem xét cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác hoặc bố trí công tác khác theo đúng chủ trương của Đảng.

Kết quả này cho thấy, công tác giám sát, thi hành kỷ luật Đảng đã, đang góp phần quan trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Không có “vùng cấm”
Báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho thấy, 6 tháng đầu năm 2023, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã quyết định thành lập 10 đoàn kiểm tra do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng làm Trưởng đoàn, kiểm tra đối với 30 tổ chức Đảng về việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 26-NQ/TƯ (ngày 19-5-2018) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kết luận số 21-KL/TƯ (ngày 25-10-2021) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Trong đó, cấp ủy các cấp tiến hành kiểm tra theo Điều 30 Điều lệ Đảng, đã kiểm tra 19.491 tổ chức Đảng và 100.117 đảng viên, có 23.899 đảng viên là cấp ủy các cấp (chiếm 23,87% tổng số đảng viên được kiểm tra). Qua kiểm tra, đã kết luận 505 tổ chức Đảng và 1.702 đảng viên có vi phạm, khuyết điểm; phải thi hành kỷ luật 3 tổ chức Đảng và 17 đảng viên, đã thi hành kỷ luật 3 tổ chức Đảng và 13 đảng viên. Ủy ban Kiểm tra các cấp cũng đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 914 tổ chức Đảng và 3.057 đảng viên; có 1.625 cấp ủy viên các cấp, chiếm 53,15%; đồng thời thực hiện giám sát 8.947 tổ chức Đảng và 12.002 đảng viên, trong đó, có 8.033 đảng viên là cấp ủy viên các cấp...
Tại Thành ủy Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm 2023, Ban Thường vụ Thành ủy đã hoàn thành 1 cuộc kiểm tra, 1 cuộc giám sát, triển khai 2 cuộc kiểm tra (đối với 52 tổ chức Đảng, 10 đảng viên); trong đó, có 1 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Các cấp ủy Đảng cấp dưới đã kiểm tra 665 lượt tổ chức Đảng và 456 đảng viên. Theo Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hoàng Trọng Quyết, công tác thi hành kỷ luật Đảng tại Đảng bộ thành phố được thực hiện công minh, chính xác, kịp thời; một số vụ việc đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc tạm giam đã được cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp chủ động xem xét, kỷ luật kịp thời, không chờ kết luận của cơ quan điều tra hoặc tuyên án của tòa án…
Kết quả kiểm tra, giám sát những tháng đầu năm cho thấy, việc thi hành kỷ luật Đảng đã được các cấp ủy Đảng thực hiện theo đúng mục tiêu đề ra từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII trên tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ".

Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
Phát biểu bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận: Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đã tiếp tục được đổi mới, tăng cường trên cơ sở ban hành có chất lượng và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ nhiều quy định mới của Đảng. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng cho rằng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp, không thể chủ quan, lơ là.
Theo đó, để thực hiện mục tiêu “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” được đề ra trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải tiếp tục được nâng lên. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú cho biết, những tháng cuối năm 2023, Ủy ban Kiểm tra các cấp sẽ chủ động tích cực tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách đối với công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm khoa học, chặt chẽ; không oan sai, không bỏ lỏng. Cùng với đó, sẽ thực hiện nghiêm quy định kiểm soát về quyền lực; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát...
Cũng theo Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, toàn ngành Kiểm tra Đảng sẽ tập trung đẩy mạnh công tác chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời thực hiện nghiêm túc các kết luận về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... góp phần hoàn thành mục tiêu đã được đề ra từ đầu nhiệm kỳ./.
Yêu nước ST.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - LỰC LƯỢNG TIÊN PHONG, ĐI ĐẦU TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Gìn giữ và phát triển tư tưởng của Đảng trong Quân đội chính là bảo vệ tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam - những hệ giá trị để xác lập hệ tư tưởng chính trị, định hướng cho mục tiêu, lý tưởng phụng sự Tổ quốc, Nhân dân của Quân đội. Hiện nay, trước sự chống phá của các thế lực thù địch với thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là yêu cầu cấp thiết và là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Nhận diện các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch với nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Ngay từ khi ra đời, Quân đội Nhân dân Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” trong quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng là cơ sở để xây đắp, tăng cường, củng cố đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội sẽ trực tiếp góp phần củng cố, bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Một trong những nội dung trong hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Trong cuốn sách mới công bố ngày 18/6/2023 với tên gọi “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Thực chất, “phi chính trị hóa” Quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước ta”. Sở dĩ Tổng Bí thư coi đây là “thủ đoạn cực kỳ nhan hiểm” vì các thế lực thù địch đã thực hiện thành công âm mưu này ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa.
Đối với Việt Nam, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội thực chất là mũi nhọn để phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam, làm cho Quân đội thay đổi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Trong thời gian gần đây, lợi dụng những thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của tr.í t.uệ nh.ân t.ạo AI, các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam đã triệt để lợi dụng để tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả mạo, sai lệch, thật giả lẫn lộn gây hoang mang cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta. Các thủ đoạn của chúng là lập hàng loạt các trang web, blog, hàng loạt các nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt như: Người đưa tin, Sự thật 24h…; xây dựng các chiêu trò như: Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm tiếp xúc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn chính trị trong và ngoài nước để tuyên truyền, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng và tình hình đất nước. Với Quân đội, các phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng một số vi phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, sĩ quân, chiến sĩ trong Quân đội để xuyên tạc, thổi phồng, thậm chí khoét sâu làm trầm trọng hóa thêm tình hình nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, tấn công vào trận địa tư tưởng, văn hóa của Quân đội và tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức, lối sống từng cán bộ, chiến sĩ. Đây là những chiêu trò chống phá rất nguy hiểm, chúng ta không thể lơ là, xem nhẹ.
Giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện đang là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng hiện nay, giúp cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy; lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc.
Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cần tập trung vào những giải pháp chủ yêu sau:
Một là, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cơ quan chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, trực tiếp và chủ yếu nhất là của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, bí thư cấp ủy, người chỉ huy các cấp, trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị; từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc bảo vệ nền tảng tư tưởng trong Quân đội sát, đúng, hiệu quả, thiết thực. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội”. Ngoài ra, cần quan tâm, chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; Kết luận số 01 của Bộ Chính trị về tiếp đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030.
Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, tập thể quân nhân, cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong Quân đội trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm cơ sở, tiền đề cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong Quân đội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, cần tiếp tục xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, trực tiếp góp phần giữ vững sự thống nhất, đoàn kết, nhất trí trong các tổ chức đảng, sự đồng thuận của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị. Từ đó, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, cần làm tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị để nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Quan tâm và tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, khắc phục những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc, góp phần giữ vững bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong tình hình mới.
Ba là, tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay để gia tăng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ.
Cần tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay giữ vị trí, vai trò quan trọng, giúp cho mọi quân nhân nhận thức sâu sắc những giá trị cốt lõi tạo nên nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Từ đó, xây dựng và củng cố vững chắc lòng tin, lý tưởng vào những giá trị bền vững và tạo cơ sở khoa học cho việc tự nguyện, tự giác phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, trung thành tuyệt đối với nhân dân, với Tổ quốc. Do đó, phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cấp, nhất là các học viện, nhà trường phù hợp với từng đối tượng quân nhân.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội luôn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng giúp mọi quân nhân có được niềm tin, bản lĩnh, trình độ… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay cần tập trung làm cho mọi quân nhân hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ Quân đội... Trong giáo dục, cần làm cho họ thấy tính đúng đắn và sự cần thiết trong vai trò Đảng lãnh đạo Quân đội; lý tưởng khát vọng hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của giai cấp, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Xây dựng hình thành, truyền bá những hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới đến bạn bè quốc tế; tập trung khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, tiếp thu những giá trị văn hóa tinh hoa của nhân loại.
Bốn là, làm tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng Internet, mạng xã hội trong Quân đội hiện nay.
Cần quản lý chặt chẽ thông tin trên internet, mạng xã hội ở tất cả các đơn vị trong toàn quân, không để các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh trận địa thông tin. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội trong tình hình mới. Chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 và l.ực l.ượ.ng 4.7 các cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoạt động có nền nếp, hiệu quả.
Các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác rà soát việc cấp phép hoạt động đối với các mạng xã hội, cấp tên miền bảo đảm chặt chẽ; phân định rõ các loại báo chí điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử. Tiến hành kiểm soát chặt chẽ việc đăng tải thông tin trên Internet, mạng xã hội của các quân nhân; đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, nhóm, trang diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”.
Năm là, xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong bảo vệ tư tưởng của Đảng trong Quân đội và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.
Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến mạng xã hội, an ninh mạng Bộ Tư lệnh 86, L.ực l.ượ.ng 4.7 trong toàn quân; thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp trên mạng xã hội để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những dịch vụ, hành vi vi phạm pháp luật, gây hại đến hoạt động quân sự.
Sáu là, tổ chức đấu tranh có hiệu quả, quyết liệt với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội
Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.
Trang bị những kiến thức cần thiết để mỗi cán bộ, chiến sĩ có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, “miễn dịch” với những thông tin xấu độc, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.
Có thể khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội không chỉ liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà còn có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại và phát triển của Quân đội. Do đó, để Quân đội ta tiếp tục phát huy được những truyền thống anh hùng, vẻ vang, mỗi tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cũng như mỗi cán bộ, chiến sĩ cần phải luôn không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức “Bộ đội cụ Hồ” mà còn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.
St

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC NGUY CƠ "CÁCH MẠNG MÀU" Ở VIỆT NAM

 “Cách mạng màu” đã và đang có những nguy cơ tiềm tàng tác động đến chính trị và đời sống xã hội Việt Nam. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, cùng với những tồn tại, hạn chế của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đất nước... đã tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động mưu đồ thực hiện “sắc màu chính trị”. Từ những nguy cơ tiềm tàng này đặt ra những thách thức cần kịp thời có các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam.

Những thách thức có thể dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” diễn ra
Để thực hiện được “cách mạng màu”, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình quốc tế, khu vực và trong nước để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trong đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng một số vấn đề xã hội và thổi phồng lên để xuyên tạc, chống phá. Hiện nay, ở Việt Nam nổi lên một số vấn đề chính trị, xã hội được đặt ra là những thách thức tạo điều kiện để các đối tượng trong và ngoài nước có thể móc nối, kích động dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” có thể diễn ra.
Trước hết, vấn đề chính trị đang được các đối tượng lợi dụng để tấn công xuyên tạc đó là công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và một số vấn đề như dân chủ, nhân quyền… Đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động hướng đến để “tấn công” rất đa dạng, trong đó trực diện hướng vào một bộ phận nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hệ thống chính trị ở Việt Nam.
Đơn cử, trong thời gian vừa qua, một số đơn vị, địa phương thực hiện thi hành kỷ luật một số tập thể và một số cá nhân do buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xảy ra sai phạm mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra trong các kỳ họp. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, những vụ việc này “đều cần phải được điều tra một cách triệt để và minh bạch”. Một số vụ việc chúng còn quy chụp cho rằng là bao che cán bộ sai phạm, không xử lí nghiêm minh mà chỉ mang hình thức “kỷ luật mềm”… Với các thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng tạo ra những bất ổn về chính trị. Chúng tạo ra những thông tin xấu độc để lan truyền, gây tò mò, hoang mang và dễ gây hiểu nhầm đối với sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước...
Thứ hai, thách thức về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện “cách mạng màu”. Như thông tin đã phân tích ở các bài trước, các cuộc "cách mạng màu" dẫn đến sự sụp đổ chế độ chính trị ở một số nước SNG và các nước Trung Đông, Bắc Phi cho thấy nguyên do sâu xa từ sự suy thoái, biến chất, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ban lãnh đạo đương nhiệm khiến nhân dân mất lòng tin, chống đối. Ở Việt Nam, chúng tận dụng "sức mạnh" của dư luận, mạng xã hội, những trang thông tin cá nhân chưa được kiểm soát để ráo riết tung tin về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Mục tiêu của chúng là làm cho nhân dân mất niềm tin với cán bộ, đảng viên và từ đó, tìm mọi thủ đoạn để thổi bùng lên những mâu thuẫn, nhằm gây bất ổn xã hội, tạo cơ hội cho thực hiện "cách mạng màu".
Có thể thấy rõ trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng những vụ việc được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, như vụ án: Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Công ty Việt Á, Công ty AIC, Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, FLC… để xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng. Chúng rêu rao công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là không hiệu quả; xuyên tạc và cho rằng công cuộc “đốt lò” lúc cháy lúc không, chỉ đốt được "củi nhỏ", còn "củi gộc" thì bao che, dung túng. Các thế lực phản động, thù địch rêu rao rằng ở Việt Nam tham nhũng là “quốc nạn” và việc phòng, chống tham nhũng chỉ là “chữa ung thư bằng thuốc nhức đầu”. Chúng tìm mọi cách ngụy biện rằng muốn cho đất nước minh bạch và phát triển thì phải có nhiều đảng chính trị giám sát lẫn nhau, phải thực hiện “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực. Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động này nhằm mục tiêu giảm uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng để cổ xúy và hướng lái cho sự hình thành chế độ đa đảng, tam quyền phân lập.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động đã cấu kết với lực lượng trong nước thực hiện những thủ đoạn có quy mô ngày càng rộng, phức tạp, kéo dài, có tổ chức tinh vi và chuyên nghiệp. Một mặt, chúng cố thổi phồng lên những yếu kém, sai phạm của cán bộ, đảng viên, mặt khác, chúng không ngừng rêu rao rằng chế độ xã hội chủ nghĩa không có dân chủ, mà có chăng thì chỉ là “dân chủ giả hiệu”.
Mới đây, vụ “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” diễn ra vào rạng sáng 11/6/2023 khi một nhóm đối tượng trang bị v.ũ kh.í tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk bằng các hành vi mất nhân tính đã làm 9 ng.ười ch.ết, 2 người bị thương, nhiều tài sản bị đốt phá. Sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng thù địch, chống đối đã tung ra nhiều thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Từ vụ việc này cho thấy, các thế lực thù địch, phản động sẽ không từ mọi thủ đoạn để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng cách mạng, gây ra sự bất ổn chính trị, đồng thời tạo cớ để kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.
Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm mưu đồ thực hiện “cách mạng màu”. Các thế lực thù địch, phản động dùng chiêu bài phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của tư bản, là tự do cạnh tranh bị chi phối bởi một “bàn tay vô hình” của những tập đoàn kinh tế lớn, hướng người ta đến các quyết định về các vấn đề kinh tế cơ bản không cần đến sự can thiệp của nhà nước. Nhất là từ sau đại dịch COVID-19, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do biến động chung của thị trường thế giới, những hội nhóm “núp bóng yêu nước” này điên cuồng đăng tải những thông tin về kinh tế ảm đạm, lạm phát tăng cao, độc quyền giá điện, độc quyền xăng dầu… Những thủ đoạn đê hèn, dơ bẩn của chúng không thể chấp nhận được xét cả về phương diện chính trị, kinh tế và đạo đức; là cái nhìn phiến diện của những kẻ cố tình xuyên tạc Việt Nam, đi ngược lại lợi ích dân tộc, quốc gia, cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật. Mục đích những quan điểm sai lệch, phiến diện nhằm phủ nhận thành tựu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong trạng thái “bình thường mới”, phủ nhận kết quả thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh COVID-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta... để cố hướng kinh tế nước ta theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế.
Những năm vừa qua, ở nước ta đã xuất hiện một số vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng sử dụng các chiêu thức "cách mạng màu" để tấn công vào công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Đơn cử như, lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại một số tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt...
Mặt khác, chúng lợi dụng nguy cơ xảy ra lợi ích nhóm trong các vấn đề chính trị, xã hội như công tác cán bộ, bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ…, vấn đề trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản, bất động sản, trong quản lý việc cấp các loại giấy phép, tham mưu đường lối, chính sách… để nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa theo con đường “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, rất nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp, chống lại mọi âm mưu “cách mạng màu” ở Việt Nam
Những cái gọi là “luận cứ” và những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra với quy mô và tính chất ngày càng phức tạp hơn. Chúng không bao giờ từ bỏ dã tâm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước những thách thức về nguy cơ "cách mạng màu" đặt ra yêu cầu cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.
Thứ nhất cần phải nhận diện đầy đủ và sâu sắc, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện thúc đẩy "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, nâng cao khả năng nhận diện của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân về chủ thể, phương thức, bản chất, mục đích, nguy cơ và hệ quả của "cách mạng màu". Cụ thể hơn là chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài "cách mạng màu" để chống phá cách mạng nước ta. Trong đó, cần thiết phải nhận diện và đưa ra âm mưu “cách mạng màu” từ những đặc điểm, ngôn từ, cách diễn đạt, nguồn địa chỉ thông tin, video, so sánh kiểm chứng đúng - sai, thật - giả trên các trang mạng khác nhau, xác định đường liên kết tên miền của Việt Nam hay nước ngoài… giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá chính xác được vấn đề, nhất là mạng xã hội mà các thế lực thù địch dùng làm phương tiện triển khai "cách mạng màu".
Giải pháp đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất, nguy cơ và thủ đoạn của "cách mạng màu". Quản lý phát huy hiệu quả vai trò của báo chí và các binh chủng thông tin, tuyên truyền góp phần thông tin nhanh nhạy, chính xác, đầy đủ đến nhân dân và định hướng đúng dư luận, tích cực trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Cần chú ý tập trung đến công tác giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn cho đội ngũ phóng viên báo chí, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và nhất là thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên được trang bị kiến thức cần thiết về nhận diện "cách mạng màu", về kỹ năng xử lý và tham gia đấu tranh phòng, chống những nguy cơ "cách mạng màu" cũng như những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội hiện nay. Các cơ quan báo chí, truyền thông tích cực, thường xuyên đấu tranh phòng, chống, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, đẩy mạnh phòng ngừa “từ sớm, từ xa” trước những thách thức và nguy cơ về "cách mạng màu" ở Việt Nam. Đồng thời, cần nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của "cách mạng màu"...
Thứ hai, cùng với việc nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của "cách mạng màu" là việc trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần sâu sắc nền tảng tư tưởng của Đảng; tin tưởng, kiên định, giữ vững con đường cách mạng và thành tựu đổi mới, hội nhập, phát triển của đất nước ta. Trong đó, phải thường xuyên nắm bắt và bồi dưỡng công tác tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa căn cơ lâu dài, mang tầm chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi nguy cơ gây tổn thất cho cách mạng. Cụ thể, tiếp tục thực hiện Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và quán triệt, triển khai, thực hiện hiệu quả các Nghị quyết Trung ương; tiếp tục lan tỏa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thường xuyên và thiết thực; thúc đẩy việc rèn luyện đạo đức, bản lĩnh, “tự soi” và “tự sửa” hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, bền bỉ rèn luyện hằng ngày trong công việc cũng như trong cuộc sống…
Theo GS.TS. Hoàng Chí Bảo (Giảng viên cao cấp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh): “Mỗi cán bộ, đảng viên và nhất là thế hệ trẻ cần học Bác Hồ là học nói đi đôi với làm, học đạo đức cách mạng, học nêu gương, học phong cách quần chúng, học tác phong làm việc khoa học và dân chủ… Học đi đôi với thực hành đều đặn để trở thành cán bộ liêm chính, đời tư trong sáng”.
Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị. Các cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị chủ động học tập, quán triệt, trau dồi, nghiên cứu và thấm nhuần sâu sắc nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhằm xây dựng luận cứ khoa học, bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc củng cố niềm tin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; đồng thời, chủ động, tích cực phê phán quan điểm lệch lạc, đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái và thù địch. Đây cũng là biện pháp ngăn ngừa đối với những biểu hiện xa rời lý tưởng cách mạng của cán bộ, đảng viên, của thế hệ trẻ; đồng thời qua đó góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị và trách nhiệm với Đảng, với đất nước.
Cùng với việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, cần chú trọng công tác tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận sáng tạo, đáp ứng đúng quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Trọng tâm, tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, sâu rộng, thiết thực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân theo hướng gợi mở những giá trị vận dụng, phát triển sáng tạo hiện nay.
Theo TS. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, cần phải "thực hiện đồng bộ 4 kiên định mà Đại hội XIII của Đảng nói đến là: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Phải thực sự đổi mới tư duy, mở tầm viễn kiến, nắm lấy quy luật và hợp lòng dân”. Cụ thể, tăng cường công tác nghiên cứu, phát triển lý luận góp phần “kiến tạo nền móng” dẫn đường cho sự phát triển thực tiễn, nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự tất thắng của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, thực hiện đồng bộ giải pháp thường xuyên là ổn định và an sinh xã hội, nâng cao đời sống và trình độ dân trí, gắn liền với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Điều này trở thành “liều thuốc” hữu hiệu và căn cơ trong việc chống lại mọi âm mưu và thách thức "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, quan tâm thúc đẩy ba động lực tăng trưởng phát triển là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng... Như PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng: “Chú trọng các chính sách kích thích phát triển kinh tế gắn với quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững; phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng xã hội, phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế”. Việc bảo đảm an sinh xã hội, sinh kế cho người dân, thúc đẩy sản xuất, giải quyết thất nghiệp sẽ kiểm soát nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn xã hội và những thách thức an ninh phi truyền thống, phòng ngừa được kích động tâm lý xã hội gây mất an ninh, trật tự xã hội, qua đó góp phần chống lại âm mưu "cách mạng màu".
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền đa kênh, đa phương tiện, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất và nguy cơ về "cách mạng màu "- Ảnh: Phạm Cường.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ gắn với việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt của vấn đề then chốt”; cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, ý thức được những nguy cơ và thách thức lớn đối với Đảng cầm quyền là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu phải thường xuyên đổi mới công tác cán bộ theo quy trình chặt chẽ, có đánh giá tín nhiệm; chú trọng đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý; khuyến khích cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần chỉ rõ: Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức vào đội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ quy hoạch cấp chiến lược. Xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật của Nhà nước đối với cán bộ vi phạm, những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ và cũng không để bị lợi ích nào cám dỗ, không để bị chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen không trong sáng. Kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, kể cả khi đã chuyển công tác.
Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ, kết hợp nhiều hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng thông qua thực tiễn công tác, học tập, rèn luyện... của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đánh giá cán bộ, sử dụng những cán bộ đủ tiêu chuẩn với việc kiên quyết đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ không đáp ứng về phẩm chất và năng lực ở những nơi trì trệ, yếu kém, mất đoàn kết kéo dài. Đồng thời, thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, chú trọng thực hiện tốt Quy định số 110-QĐ/TW ngày 06/7/2023 của Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ trong ngành Kiểm tra Đảng; cùng với đó thực hiện hiệu quả Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
Đặc biệt, tiếp tục quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về 8 bài học quý báu, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, 5 nhiệm vụ, giải pháp để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt những bước tiến mới, quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Phát huy cao độ trách nhiệm chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo các ban, ngành, địa phương về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp hướng tới mục tiêu “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực.
Thứ năm, cùng với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cần phải không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở. Đây vừa là lực lượng trực tiếp, vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Trong thời gian qua, chúng ta “Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang”. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII của Đảng xác định. Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; nỗ lực ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ứng phó có hiệu quả với các tình huống, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế sự gia tăng tội phạm..., góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao tiềm lực, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước.
Có thể khẳng định rằng, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, luôn đề cao cảnh giác và thực hiện các giải pháp nhằm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành “cách mạng màu” ở Việt Nam, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa nguyên nhân, thách thức từ sớm, từ xa. Trong đó, cần loại bỏ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xử lý các cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Khi làm tốt việc này, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên; học và làm theo Bác ở những điều thiết thực nhất, việc gì có lợi cho dân hết sức làm; rèn luyện lối sống giản dị, đời tư trong sáng, cống hiến hết mình, vượt qua mọi cám dỗ vật chất, danh lợi, kiên quyết, bản lĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao... Đặc biệt, cán bộ, đảng viên cũng như mỗi người dân Việt Nam tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.
St

CẦN HUN ĐÚC Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG CHO THANH NIÊN VIỆT NAM

 Lịch sử Việt Nam là sự minh chứng sức mạnh của ý chí tự lực, tự cường, khát vọng độc lập, tự do phát triển đất nước. Để chống giặc ngoại xâm và phòng chống thiên tai, toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết, tự lực, tự cường dựa vào sức mạnh của mình để cùng nhau chống kẻ thù, xây dựng bảo vệ nền độc lập Khát vọng độc lập dân tộc, ý chí tự lực, tự cường là cốt lõi sức mạnh nội sinh của dân tộc ta. Với khát vọng và ý chí kiên cường đó, dân tộc Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ biên cương Tổ quốc ở Tây Nam và phía Bắc. Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - khoa học đất nước, trước sự chuyển biến không ngừng của tình hình trong nước và những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế. Thanh niên đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, trước mọi khó khăn thách thức, thanh niên Việt Nam luôn nỗ lực vượt qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc, cần phát huy ý chí tự lực, tự cường của thanh niên Việt Nam. Như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Thanh niên có mạnh thì dân tộc mới mạnh; trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên. Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, thanh niên luôn nêu cao truyền thống yêu nước, chí khí anh hùng, bất khuất của dân tộc, hăng hái đi tiên phong trên mọi lĩnh vực, có nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước”. Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên - lực lượng xã hội có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích ứng với mọi sự thay đổi, tác động tới. Họ có tinh thần nhiệt tình, hăng hái, ham học hỏi, có óc sáng tạo. Họ dám mơ ước và theo đuổi ước mơ của mình. Song, do còn những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động, dễ có tâm lý chán nản, bị quan trước những cám dỗ thường nhật. Do vậy, thanh niên cần được định hướng, khơi dậy nội lực để thanh niên phát huy được tài năng, sức lực, tính sáng tạo, có tư tưởng chính trị vững vàng. Ý chí tự lực, tự cường của dân tộc đã bồi đắp tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; góp phần vào những thành công của cách mạng Việt Nam. Ý chí tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, thôi thúc cổ vũ con người đứng lên, vượt qua những rào cản trên con đường phấn đấu để đạt được mục đích. Ý chí giúp con người phát huy được sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, đôi khi đến mức độ phi thường. Ý chí của một cộng đồng dân tộc dựa trên sự thống nhất về tư tưởng, có lợi ích chung, tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc trong giành, bảo vệ nền độc lập cũng như trong xây dựng, phát triển đất nước. Ý chí chính là năng lực thực hiện các hành động có mục đích của con người hay khả năng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích. Như vậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường cho thanh niên Việt Nam hiện nay là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện lâu dài và đòi hỏi sự phối hợp của các chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Tuổi trẻ là tương lai, muốn có tương lai tốt đẹp thì mỗi thanh niên phải nỗ lực xây dựng bằng ý chí và nghị lực của bản thân. Việc giữ gìn thành quả và tiếp tục phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay góp phần hình thành một thế hệ thanh niên biết phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; có lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có chí tiến thủ; có khát vọng vươn lên lập thân, lập nghiệp, cống hiến sức trẻ và trí tuệ cho sự phát triển của đất nước là một nhiệm vụ cơ bản và cấp thiết./.

St