Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Hải quân nhân dân Việt Nam - 69 năm hành trình giữ biển

 

Ngày 7-5-1955, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ bể, là “cơ quan giúp Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các lực lượng phòng thủ bờ bể, tổ chức đào tạo cán bộ, nhân viên thủy thủ; sản xuất, sửa chữa dụng cụ, phương tiện về thủy quân; xây dựng các thủy đội để bàn giao cho các khu và liên khu làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên các vùng sông, biển”. Ngày 7-5-1955 trở thành mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Ngày 24-8-1955, Cục Phòng thủ bờ bể tổ chức trọng thể Lễ thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng tại Trường Huấn luyện bờ bể, bên bờ sông Cấm, thành phố Hải Phòng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh và đồng chí Đỗ Mười, Chủ tịch Ủy ban quân chính thành phố Hải Phòng, cùng đông đảo cán bộ, chiến sĩ Cục Phòng thủ bờ bể và nhân dân thành phố Hải Phòng đã chứng kiến buổi ra mắt của hai thủy đội. Đây là những viên gạch đầu tiên, là tiền thân của lực lượng tàu chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam sau này.

Hải quân nhân dân Việt Nam - 69 năm hành trình giữ biển

Bảo quản vũ khí trang bị kỹ thuật ở Lữ đoàn 167 Vùng 2 Hải quân. 

Đến cuối năm 1963, lực lượng Hải quân Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Sau gần 9 năm xây dựng (5-1955/12-1963), Hải quân nhân dân Việt Nam đã có các lực lượng tàu tuần tiễu ven biển, tàu phóng ngư lôi, tàu săn ngầm, vận tải, trinh sát và một số tàu phục vụ khác như tàu dầu, tàu chở nước, tàu đo đạc biển, trục vớt…, có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng chiến đấu trên biển; hệ thống cầu cảng, các đơn vị công binh công trình, lực lượng bảo đảm, phục vụ cùng với các cơ sở vật chất kỹ thuật đã được xây dựng; hệ thống ra-đa, đài trạm quan sát được bố trí dọc ven biển từ Quảng Ninh đến Cửa Tùng. Cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ hải quân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, trước yêu cầu của tình hình mới, ngày 3-1-1964, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Cục Hải quân thành Bộ tư lệnh Hải quân với nhiệm vụ: Lãnh đạo, chỉ huy xây dựng Quân chủng Hải quân, tự đảm nhận nhiệm vụ hoạt động chiến đấu trên không phận, hải phận, bờ biển miền Bắc. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam về quy mô tổ chức và sức mạnh chiến đấu trên con đường xây dựng một quân chủng mới - Quân chủng Hải quân, một quân chủng chiến đấu bằng lực lượng binh chủng hợp thành và phương tiện kỹ thuật hiện đại, lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông nước, biển và hải đảo của Tổ quốc.

Chưa đầy 10 năm thành lập, quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam đã lập công ra quân đánh thắng trận đầu vào ngày 2 và 5-8-1964 - anh dũng đánh đuổi tàu khu trục Maddox của đế quốc Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc, bắn rơi 1 máy bay; hiệp đồng chiến đấu với lực lượng Phòng không và quân, dân các địa phương ven biển miền Bắc bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống giặc lái, lập nên chiến công đánh thắng trận đầu. Chiến thắng này đã viết tiếp truyền thống “bách chiến, bách thắng”, đã ra quân là đánh thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hải quân nhân dân Việt Nam - 69 năm hành trình giữ biển

Tàu của Lữ đoàn 172, Vùng 3 bắn ngư lôi. Ảnh: Lê Hệ 

Hải quân nhân dân Việt Nam - 69 năm hành trình giữ biển

Huấn luyện hiệp đồng đổ độ đường biển. Ảnh: Vũ Hưởng 

Chiến thắng đó là một trong những mốc son của Hải quân nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với quân dân cả nước trong hành trình vĩ đại đó, Hải quân đã nêu cao ý chí quyết tâm “Đánh địch mà đi, mở luồng mà tiến”, làm nòng cốt phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng vũ trang đánh bại chiến tranh phong tỏa sông, biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường của đế quốc Mỹ. Hải quân đã mở tuyến, thông luồng, nối lại tuyến vận tải đường biển chiến lược chi viện miền Nam, dũng cảm, táo bạo, kịp thời tiến công giải phóng và làm chủ quần đảo Trường Sa… góp phần cùng quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Bước vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó có chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, đối mặt với biết bao thử thách, khắc nghiệt, nhất là trước những diễn biến hết sức phức tạp trên Biển Đông, Hải quân nhân dân Việt Nam phát huy truyền thống vẻ vang, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân chủng thường xuyên nắm chắc tình hình trên các vùng biển trọng điểm; kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động bất ngờ, bảo vệ được chủ quyền và các mục tiêu chiến lược, các hoạt động kinh tế biển, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển để phát triển đất nước.

Được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân quan tâm, đầu tư xây dựng nên những năm 2010 - 2015 là thời kỳ Hải quân nhân dân Việt Nam phát triển với tốc độ rất nhanh, tạo bước biến đổi quan trọng cả về lượng và chất. Đến năm 2014, Hải quân đã có đủ 5 thành phần lực lượng chiến đấu là: Tàu mặt nước, Tàu ngầm, Không quân Hải quân, Pháo binh-Tên lửa bờ, Hải quân đánh bộ-Đặc công Hải quân và các lực lượng phục vụ bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự Hải quân. Các cơ sở giáo dục đào tạo ở các bậc trình độ chuyên môn kỹ thuật hải quân từ sơ cấp đến đại học và trên đại học được trang bị và cải tiến thiết bị phục vụ dạy và học hiện đại, giáo trình giảng dạy tiên tiến. Các nhà máy, xí nghiệp tiếp tục được củng cố, nâng cấp và xây dựng. Các cơ sở sản xuất, làm kinh tế quốc phòng khác được trang bị những thiết bị công nghệ mới hiện đại, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh để không ngừng phát triển phục vụ nhiệm vụ quốc phòng và làm kinh tế.

Hải quân nhân dân Việt Nam - 69 năm hành trình giữ biển

Phó đô đốc Trần Thanh Nghiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Hải quân kiểm tra tại Trạm Ra-đa của Vùng 5 Hải quân. 

Bám sát các nghị quyết lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương, Quân chủng Hải quân chủ động tham mưu kịp thời cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về xử lý, giải quyết những vấn đề có liên quan đến tình hình trên biển, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo và xây dựng Hải quân tiến lên hiện đại; thường xuyên duy trì tốt các hoạt động quản lý, nâng cao khả năng bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa; tăng cường củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng nhân dân trên các vùng biển, đảo; tích cực tổ chức các hoạt động tuyên truyền về biển đảo, huy động nguồn lực cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và xây dựng hải quân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Trải qua 69 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân chủng bằng mồ hôi, công sức và cả xương máu của mình nối tiếp nhau xây đắp và tô thắm truyền thống vẻ vang “Chiến đấu anh dũng; mưu trí, sáng tạo; làm chủ vùng biển; quyết chiến, quyết thắng”. Hải quân nhân dân Việt Nam đã lập nhiều thành tích, chiến công xuất sắc và đặc biệt xuất sắc, có những chiến công như huyền thoại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu cao hơn. Phát huy truyền thống 69 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, tập thể cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân nguyện ra sức xây dựng Quân chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, luôn sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống, góp phần ngăn ngừa đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ

 

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, sáng 7-5, đoàn đại biểu Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh do Đại tá Khúc Thành Dư, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh; Đại tá Nguyễn Quang Hiến, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh làm trưởng đoàn đã tới dâng hoa, dâng hương tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ TP Hạ Long và Tượng đài Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân, Liệt sĩ Vũ Văn Hiếu, Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên Khu mỏ Quảng Ninh.

Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ

Đoàn đại biểu Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hoa, dâng hương tại tượng đài các Anh hùng liệt sĩ TP Hạ Long. 

Trong bầu không khí trang nghiêm và xúc động, đoàn đại biểu Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh đã dâng hoa, dâng hương, thắp nén tâm nhang tưởng nhớ đến anh linh các Anh hùng liệt sĩ, bày tỏ lòng thành kính, sự tri ân sâu sắc với các thế hệ đi trước đã không tiếc máu xương, tuổi thanh xuân, dâng trọn đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Máu đào của liệt sĩ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do.

Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ
Đại tá Khúc Thành Dư, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh; Đại tá Nguyễn Quang Hiến, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hương tại tượng đài các Anh hùng liệt sĩ TP Hạ Long. 

Trước anh linh của các Anh hùng liệt sĩ, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh nguyện phát huy tốt truyền thống "Đoàn kết - Sáng tạo - Bất khuất - Kiên trung - Chiến thắng", gắn với thực hiện chủ đề năm 2024 của tỉnh: "Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế; phát triển văn hóa, con người giàu bản sắc Quảng Ninh" tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác quốc phòng, quân sự địa phương; xây dựng Đảng bộ, LLVT tỉnh vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu"; đoàn kết khắc phục khó khăn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, phối hợp với các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển đảo; giữ vững an ninh chính trị-trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng tỉnh Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ
Cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh dâng hương tưởng niệm tại Tượng đài Anh hùng LLVT nhân dân, Liệt sĩ Vũ Văn Hiếu, Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên Khu mỏ Quảng Ninh. 

Đảm bảo sức khỏe, hậu cần cho các lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành

 

Để phục vụ các lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành và hoạt động khác trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bệnh viện dã chiến cứu chữa mức 2 được thành lập theo Quyết định số 1216/QĐ-BQP ngày 1-4-2024 của Bộ Quốc phòng trên cơ sở cán bộ, nhân viên, y sĩ, bác sĩ của Bệnh viện Quân y 354, 105 thuộc Tổng cục Hậu cần, do Bệnh viện Quân y 354 đảm nhiệm.

Bệnh viện dã chiến cứu chữa mức 2 đặt tại Bệnh xá D40 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên, bắt đầu hoạt động từ ngày 22-4-2024, có nhiệm vụ tiếp nhận, đánh giá, phân loại, cấp cứu, thu dung, chăm sóc, điều trị người bị bệnh, bị thương trong khi tham gia các hoạt động dịp Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Đảm bảo sức khỏe, hậu cần cho các lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành
Bộ phận hậu cần sắp đặt các món ăn trên mâm gọn gàng, thẩm mỹ. 

Đại tá, Bác sĩ CKII Ngô Toàn Thắng, Giám đốc Bệnh viện cho biết: Bệnh viện dã chiến cứu chữa mức 2 được tổ chức các khoa, ban chuyên môn cùng với thiết bị, phương tiện y tế hiện đại, đồng bộ tương đương bệnh viện quân y tuyến cuối. Lực lượng y sĩ, bác sĩ đều là những thầy thuốc có tinh thần trách nhiệm cao, chuyên môn giỏi được lựa chọn từ các khoa, ban của Bệnh viện Quân y 354 và 105. Với trang bị y tế hiện đại và lực lượng y sĩ, bác sĩ hiện nay, Bệnh viện có thể thực hiện những ca trung phẫu, đại phẫu phần bụng, ngực và sọ não.

Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ, Bệnh viện kịp thời khám bệnh, cấp cứu cho gần 60 trường hợp bị ốm bệnh, cảm, tai nạn lao động trong khi thực hiện nhiệm vụ. Các trường hợp trên được điều trị khỏi tại Bệnh viện, đã trở về đơn vị công tác bình thường. Cùng với đó, trong các ngày hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt, Bệnh viện tổ chức 2 tổ cấp cứu túc trực tại thực địa, đồng thời duy trì 100% quân số trực sẵn sàng xử trí các tình huống đột xuất và hỗ trợ hệ thống y tế địa phương tham gia phòng, chống dịch, bệnh, phối hợp tham gia cứu trợ cộng đồng khi được yêu cầu.

Đảm bảo sức khỏe, hậu cần cho các lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành
Tổ cấp cứu tăng cường của Bệnh viện dã chiến cứu chữa mức 2 cấp cứu học sinh bị cảm trong khi tham gia diễu hành.

Theo Thượng tá Đỗ Việt Trung, Chính trị viên Bệnh viện, để sẵn sàng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hằng ngày Bệnh viện luôn duy trì tốt các chế độ trong ngày theo quy định, chấm điểm thi đua sắp đặt nội vụ, vệ sinh khu vực nhà ở, nhà làm việc các khoa, ban đảm nhiệm.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, cùng với làm tốt công tác chuyên môn, Bệnh viện còn tổ chức bảo đảm tốt nơi ăn, ở, sinh hoạt, nhất là bảo đảm ăn uống cho cán bộ, nhân viên và các lực lượng đến phối thuộc.

Thiếu tá Phạm Văn Khoa cho biết: Với quân số biên chế 4 đồng chí nuôi quân, ngoài việc bảo đảm ăn uống trong nội bộ, Bệnh viện còn bảo đảm ăn uống cho các tổ quân y cơ động của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 103, Viện Y học dự phòng Quân đội, Cục Quân y với quân số bảo đảm lên đến gần 100 người. Hằng ngày, bộ phận nuôi quân luôn phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, chế biến món ăn theo định lượng đảm bảo khoa học, đủ dinh dưỡng, vệ sinh an toàn lương thực, thực phẩm, bộ phận Hậu cần xây dựng thực đơn ăn đa dạng, luôn thay đổi, đảm bảo khoa học, cân đối chất dinh dưỡng, hạn chế trùng nhiều bữa trong tuần. Công tác giám sát chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được thực hiện chặt chẽ các khâu. Do đó, Bệnh viện luôn bảo đảm tốt chất lượng bữa ăn hằng ngày cho các đối tượng, bộ đội luôn ăn ngon, ăn hết tiêu chuẩn, không để ngộ độc do ăn uống; đảm bảo kịp thời gian các bữa ăn trong ngày.

Có thể nói, những công việc thầm lặng hằng ngày của cán bộ, nhân viên, y sĩ, bác sĩ Bệnh viện dã chiến cấp cứu mức 2 góp phần quan trọng vào thành tích chung trong công tác bảo đảm hậu cần phục vụ Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Đề cao trách nhiệm công dân trong phát huy dân chủ hiện nay

 


 Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đi liền với việc đề cao trách nhiệm công dân và bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội, không được tách rời, đối lập giữa thực hành dân chủ và kỷ cương, pháp luật.

 Mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải gắn với quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Điều đó đòi hỏi mỗi công dân phải biết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở pháp luật. Phát huy dân chủ đối lập với dân chủ vô chính phủ, dân chủ cực đoan. Nếu cá nhân nào có hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, lợi dụng dân chủ để gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì có thể bị truy cứu trách nhiệm theo pháp luật.

Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội.

 


Đảng ta là đảng cầm quyền và sự cầm quyền đó luôn được đặt trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Vì vậy, thực hành, phát huy dân chủ trong Đảng phải luôn đi trước, tạo khuôn mẫu, mực thước cho nhân dân noi theo. Trong giai đoạn hiện nay, việc phát huy dân chủ trong Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì có một bộ phận cán bộ, đảng viên tuy có nhận thức đúng, đầy đủ về thực hành, phát huy dân chủ nhưng trên thực tế, nhận thức đó chưa biến thành hành động thực tế, nói không đi đôi với làm.

Cần tiếp tục thực hiện tốt các quy định trong sinh hoạt đảng, như sinh hoạt hai chiều, lấy phiếu tín nhiệm, điều tra, thăm dò dư luận xã hội trong nhân dân - đó chính là những yếu tố cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng Đảng hiện nay. Dựa vào dân, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân cũng là nền tảng giúp Đảng tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ngày càng trong sạch, vững mạnh. Khi dân chủ trong Đảng thực sự được phát huy thì đó cũng là nền tảng để “Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”, như văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra.

Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

 


Muốn để “dân biết”, điều cốt yếu đầu tiên là phải cung cấp thông tin cho nhân dân; việc cung cấp thông tin phải chân thực, kịp thời và công khai. Có công khai thì mới có dân chủ, vì công khai là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hành dân chủ. Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, nên công khai là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, là một biểu hiện quan trọng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dân bàn” là xu hướng tất yếu sau khi nhân dân đã được cung cấp thông tin đầy đủ, công khai. Với tinh thần “lấy dân làm gốc”, các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp phải biết lắng nghe các ý kiến của quần chúng nhân dân, nắm bắt dư luận xã hội trong nhân dân một cách nghiêm túc, phân tích nội dung các ý kiến của nhân dân một cách khoa học để nắm bắt chính xác, kịp thời tâm trạng, tình cảm, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Muốn thực hiện tốt phương châm “dân bàn”, phải tạo các điều kiện thuận lợi (phương tiện, diễn đàn, cơ chế) để nhân dân có thể nói lên suy nghĩ thật của mình, được bày tỏ quan điểm, chính kiến về những vấn đề mà mình đang quan tâm, vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ và vì sự phát triển chung của mỗi địa phương, của đất nước. Chính quyền các cấp không được phép thờ ơ trước những sáng kiến của quần chúng nhân dân để tránh tình trạng sáng kiến của người dân trong chế độ dân chủ trở thành đặc quyền của một thiểu số người với mục tiêu vụ lợi.

Dân làm” cần được hiểu chủ yếu theo nghĩa của sự chuyển hóa từ nhận thức thành những hành động, việc làm cụ thể của nhân dân. Từ chỗ được cung cấp thông tin một cách công khai, trung thực, kịp thời, thông qua bàn bạc, trao đổi ý kiến để tìm ra tiếng nói chung, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thực hành các quyền dân chủ theo quy định của pháp luật.

Để “dân kiểm tra”, Nhà nước phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được trao những quyền hạn nhất định để quản lý, điều hành một số công việc của Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế “dân kiểm tra” đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách phù hợp để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với các mặt hoạt động của chính quyền cấp xã ở tất cả các địa phương, của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã; chất vấn những cán bộ, công chức có thẩm quyền về những vấn đề người dân quan tâm và quyền nghe trả lời những chất vấn đó, đặc biệt là những vấn đề về đất đai, xây dựng, quy hoạch và quản lý đô thị, nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng,...



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.112

Đại hội X của Đảng tiếp tục phát huy chính sách dân tộc trong thời kỳ mới

 


Các quan điểm và những nhiệm vụ cấp bách, cơ bản trên tiếp tục được khẳng định và làm rõ thêm tại Đại hội lần thứ X của Đảng. Văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc’’12. Đại hội X của Đảng đã đề ra những vấn đề cơ bản nhất về chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta. Để triển khai những vấn đề quan trọng trên đây, trong những năm qua, Chính phủ đã triển khai và ban hành hàng loạt các chương trình dự án nhằm tạo nên sự chuyển biến cơ bản, toàn diện vùng các dân tộc thiểu số. Gần đây, trên cơ sở những thành tựu của Chương trình 135 giai đoạn I, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng như hàng loạt các chính sách, biện pháp về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.

Những vấn đề cấp bách trong công tác dân tộc mà nghị quyết trung ương 7 khóa IX của Đảng đề ra

 


 Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo vệ an ninh, quốc phòng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc, đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ người dân tộc thiểu số.Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc... Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những điểm “nóng’’ về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.

Tiếp tục phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa.

Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới.

Một số quan điểm cơ bản được Đảng ta xác định cùng với việc khẳng định vị trí của vấn đề dân tộc

 


 Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

 Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

 Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

 Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

 

Đại hội IX, dấu son về chính sách dân tộc của Đảng

 

 


Trên cơ sở đạt được, Đại hội lần thứ IX của Đảng cụ thể hóa và đưa ra những chủ trương định hướng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhất quán về nguyên tắc và những luận điểm của các đại hội Đảng đã đề ra trước đó, Đảng ta tiếp tục chủ trương đối với các dân tộc thiểu số cần phải: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí..., thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc và địa phương. Chống kỳ thị chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc’’. Văn kiện cũng đề ra chủ trương: nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

 Tư tưởng công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi là một trong những định hướng rất quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng ta cùng với những nội dung khá toàn diện khác liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đào tạo cán bộ...

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã đề ra một số quan điểm cơ bản và xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2010, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cũng như các giải pháp cụ thể về công tác dân tộc trong thời kỳ mới.

Đại hội VIII, tiếp tục cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đảng

 


Cùng với tiến trình đổi mới, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta tiếp tục được Đảng ta bổ sung và cụ thể hóa. Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định: “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân... Xây dựng Luật dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nay (tức năm 1996 - T.G) đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững mạnh’’.

Chính sách dân tộc trong giai đoạn này đặc biệt chú trọng vào việc xác định mục tiêu phát triển và định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc thiểu số với những trọng tâm rất quan trọng về đời sống và dân trí. Chính vì thế, chủ trương xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai khá rộng khắp ở nước ta tại vùng các dân tộc thiểu số. Cùng với chương trình xóa đói, giảm nghèo, Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa được triển khai đã mang lại những chuyển biến to lớn ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi và không phải ngẫu nhiên sự thành công của chính sách này đã được thế giới đánh giá là tiêu điểm trong sự phát triển kinh tế - xã hội vì con người và mục tiêu thiên niên kỷ của nhân loại.

Đại hội VII phát triển chính sách dân tộc của Đảng

 


Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người’’.

Lần đầu tiên chính sách phát triển kinh tế hàng hóa vùng dân tộc thiểu số đã được đề cập trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ. Trong các văn kiện của Đại hội cũng đã đề cập về chính sách đối với người Hoa và người Khơme nhằm tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Cùng với việc xác định công tác dân tộc ở một số dân tộc cụ thể, Đảng và Nhà nước ta còn đưa ra các chính sách đối với các vùng dân tộc như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên trên cơ sở xem xét tính đặc thù của từng vùng và yêu cầu phát triển đối với khu vực và quốc gia.

Đổi mới chính sách dân tộc ở Đại hội VI của Đảng

 


Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng định: “Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc. Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn’’ và những biểu hiện của dân tộc hẹp hòi’’10.

Để triển khai những định hướng cơ bản đó, ngày 27-11-1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tiếp sau đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-2-1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là hai văn kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc và chính sách dân tộc11.

 

Phát triển kinh tế,xã hội nâng cao đời sống ở miền núi trong những năm qua

 

 


 Chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện chính sách dân tộc trong hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số. Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế... nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, để trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa.

Những vấn đề cơ bản của chính sách dân tộc

 


Trên cơ sở những nguyên tắc trên, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã đề ra những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới của cách mạng. Có thể nói, đây là thời kỳ có không ít tác động đối với các dân tộc thiểu số. Đó là tác động của cơ chế thị trường, của nền kinh tế nhiều thành phần và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đấy là chưa nói đến quá trình toàn cầu hóa và tác động từ bối cảnh chung của tình hình quốc tế phức tạp. Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề dân tộc phải có các chính sách hệ thống, toàn diện đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, phù hợp với quá trình phát triển của đất nước.

CẢM HỨNG CHO KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP

 

Có thể nói chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam, mà thực sự mang tầm vóc lịch sử quốc tế, bởi như lời Tổng Bí thư PT Alberto Anaya Guitiérrez, sau sự kiện ngày 7/5/1954, chiến thắng Điện Biên Phủ cùng khẩu hiệu “Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ” đã vang trên khắp 5 châu, trở thành nguồn cảm hứng cho phong trào giành độc lập của các dân tộc trên thế giới. Nói cách khác, “Điện Biên Phủ” là một tấm gương, một mô hình mà nhiều quốc gia noi theo trên con đường giải phóng dân tộc.

Nhà báo Argentina Gaston Fiorda gọi chiến thắng Điện Biên Phủ là hình mẫu cho công cuộc giải phóng dân tộc tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, góp phần đặt dấu chấm hết cho quá trình thuộc địa hóa - một trong những trang lịch sử đau thương nhất nhân loại đã trải qua. Đây cũng là ý kiến của Tiến sĩ Anatoly Sokolov thuộc Viện Hàn lâm khoa học LB Nga. Là thắng lợi đầu tiên của phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đánh bại một cường quốc thực dân, chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành tấm gương sáng và thiết thực cho nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới, phá tan ách thống trị của thực dân Pháp, buộc các nước thực dân phải tôn trọng quyền của các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Chuyên gia Nga khẳng định chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm thay đổi lịch sử, làm đứt gãy chế độ thực dân và là khởi nguồn của các cuộc cách mạng trên thế giới. Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia luật quốc tế, Giáo sư Joni Asi thuộc Đại học Nablus (Israel) nhận xét: "Chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo ra tác động to lớn tới cuộc đấu tranh tại các nước Nam bán cầu chống lại chủ nghĩa đế quốc và thực dân để giành độc lập và công lý".

Học giả người Anh Kyril Whittaker nhận định chiến thắng Ðiện Biên Phủ mang tính đột phá không chỉ đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do từ tay chủ nghĩa thực dân và đế quốc mà còn đối với các phong trào giải phóng ở Ðông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung. Trước hết, chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của 3 nước Đông Dương. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết. Đại tướng Chansamone Chanyalath, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lào đánh giá chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, của các nước trên Bán đảo Đông Dương nói riêng, mà còn là chiến thắng và niềm tự hào của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới nói chung. Trong khi đó, theo học giả Uch Leang, nhà nghiên cứu tại Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia (RAC), chiến thắng Điện Biên Phủ như một hình mẫu tiêu biểu của tinh thần đoàn kết giữa Việt Nam, Lào và Campuchia, dẫn tới thắng lợi chung trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ. Cả ba nước có cùng nhận thức vì vận mệnh chung, trở thành động lực mạnh mẽ, hình thành khối đoàn kết giữa quân đội và nhân dân 3 nước. Học giả Thái Lan Songrit Pongern cũng khẳng định chiến thắng Điện Biên Phủ đã khơi dậy và khích lệ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới, với mô hình cụ thể từ sự đoàn kết giữa Việt Nam, Lào và Campuchia để có thể giành được thắng lợi chung trước các siêu cường như Pháp và Mỹ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng được xem là sự khởi đầu cho nền độc lập của phần lớn các nước ở châu Phi, là điểm xuất phát của các phong trào giải phóng dân tộc châu Phi thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, Anh, Đức như Tunisia vào năm 1956, Algeria năm 1962. Chủ tịch Hội hữu nghị Algeria - Việt Nam Cherfaoui Tayeb, một cựu quân nhân, khẳng định "Việt Nam là tấm gương cách mạng đối với chúng tôi". Ông hồi tưởng: “Ở miền Bắc Algeria năm 1956, nhiều sinh viên ở độ tuổi 18-20 đã rời trường học, tạm gác giấc mơ trở thành bác sĩ hay kỹ sư để gia nhập đội quân Maquis đi chiến đấu bởi vì họ đã nhận ra rằng chế độ thực dân chỉ là tạm thời và có thể bị đánh bại". Chiến dịch Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến của Việt Nam đã tạo động lực để người Algeria có thể hy vọng, có thể làm cách mạng giành lại đất nước, lấy lại tự tôn dân tộc, kinh tế và cuộc sống của mình. Ông Mourad Lamoudi, quan chức đảng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria thì nhớ lại ba chữ "Điện Biên Phủ" thời kỳ đó “như là một khẩu hiệu hành động, có chất xúc tác”. Người ta sử dụng khẩu hiệu "Điện Biên Phủ" để nhắc nhở rằng mình có thể chiến thắng.

Nêu bật ý nghĩa quốc tế của chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà sử học Pháp Alain Ruscio cho biết, vào thời điểm đó, ở các thuộc địa của Pháp như Madagascar, Algeria, Tunisia, Maroc..., cuộc đấu tranh ở Việt Nam được theo dõi rất chặt chẽ. Theo ông, việc quân Pháp bị thất trận ở Điện Biên Phủ không chỉ được coi là chiến thắng của riêng Việt Nam mà còn là chiến thắng của toàn thể các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức.

 

Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc

 


 Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội là một đặc điểm lớn. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc. Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vô sản. Để thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan trọng. Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ. Có thể coi đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

Bình đẳng là cơ sở để đoàn kết, đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực hiện bình đẳng và đoàn kết. Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta.

Đoàn kết dân tộc là nguyên tắc cơ bản của cách mạng Việt Nam

 


Đoàn kết dân tộc là một nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc mà Đảng ta xác định. Phát triển nguyên tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của Lênin, trên nền tảng truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Hồ Chí Minh đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công’’. Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc. Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng.

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc nhất quán của cách mạng Việt Nam

 


Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc nhất quán của cách mạng Việt Nam, là một nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và các Hiến pháp ở nước ta. Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo’’9. Các Hiến pháp tiếp theo đã thể hiện rõ nguyên tắc quan trọng này. Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Bình đẳng còn thể hiện trong quyền phát triển, được đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác. Để thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải làm giảm, tiến tới từng bước xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc do các điều kiện lịch sử quy định trên thực tế mang lại ấm no hạnh phúc của nhân dân.

Quy định mới về xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu

 

Nghị định số 35/2024/NĐ-CP ngày 2/4/2024 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu "Nhà giáo nhân dân", "Nhà giáo ưu tú" có hiệu lực từ ngày 25/5/2024.

Cụ thể, đối tượng áp dụng là nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục bao gồm: Nhà giáo và cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (gọi chung là nuôi dạy), giảng dạy trong cơ sở giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục; cán bộ quản lý làm nhiệm vụ quản lý tại các cơ quan quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật (gọi chung là cán bộ quản lý tại cơ quan quản lý giáo dục); cán bộ nghiên cứu giáo dục làm nhiệm vụ nghiên cứu về khoa học giáo dục và đào tạo, giáo dục nghề nghiệp.

Cùng với đó là nhà giáo, cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý tại cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục đã nghỉ hưu theo chế độ bảo hiểm xã hội giữa hai lần xét tặng liền kề với năm xét tặng; nhà giáo, cán bộ quản lý tại cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý tại cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục đã nghỉ hưu theo chế độ bảo hiểm xã hội tiếp tục là giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý cơ hữu tại các cơ sở giáo dục dân lập và tư thục.

 

Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc

 


Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm. Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc thě từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này đã được xác định là“Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI), “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X)8

Vấn đề dân tộc là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta

 


Sự tồn tại lâu dài của vấn đề dân tộc nhất là trong điều kiện quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa là đặc điểm lớn ở nước ta, làđặc trưng diện mạo lịch sử, văn hóa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam (Điều 5).

Khi xác định vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Điều này tiếp tục được khẳng định trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước trong những năm đổi mới, đặt nền tảng quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, giải quyết thành công vấn đề dân tộc.

Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ đại diện hiện nay

 

 


Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thực hiện quyền dân chủ thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội - tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, đại diện cho nhân dân. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Đại hội XII của Đảng khẳng định: Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phải luôn đặt trong mối liên hệ và gắn liền với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội.

Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp hiện nay

 


Dân chủ trực tiếp là hình thức mọi công dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách bình đẳng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo... Đây là hình thức để phát huy dân chủ một cách có hiệu quả nhất, bảo đảm cho nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước, có khả năng tham gia một cách tích cực và chủ động vào các hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng các phương thức: chế độ bầu, bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; chế độ gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân; quyền công dân tham gia thảo luận các vấn đề chung, quan trọng của đất nước và của địa phương; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Thể chế hoá và nâng cao chất lượng dân chủ hiện nay

 


Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Thể chế hoá và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải đảm bảo phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hoá xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sang tạo của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; quy định về việc MTTQ, các tổ chức CT-XH và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác nhau.  Phát huy dân chủ đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

 


Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sang kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật lien quan trực tiếp đến quyền làm chgủ của nhân dân

Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng ngày càng sâu sắc hơn

 


Nhận thức về tầm quan trọng và vai trò của xây dựng và phát huy dân chủ. Khẳng định, dân chủ là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới.  Về tính tất yếu khách quan phải đẩy mạnh các hình thức và phương thức thực hiện dân chủ, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp. Về phát huy dân chủ đồng thời với tăng cường kỷ cương, pháp luật. Về vai trò quyết định của dân chủ trong Đảng đối với phát triển dân chủ trong hệ thống chính trị và toàn bộ đời sống xã hội. Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Quyền dân chủ không ngừng được mở rộng từ trong Đảng ra phạm vi toàn xã hội. Quyền và lợi ích của nhân dân được tôn trọng, bảo vệ; các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân đã được xem xét và xử lý nghiêm khắc theo pháp luật.

 Vừa qua, trên trang “VOA Tiếng Việt” đã cho công bố bản “Báo cáo tự do tôn giáo 2024” của USCIRF (Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ); đáng chú ý,  nội dung báo cáo lại tiếp tục kêu gọi phía Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Quốc gia Cần quan tâm Đặc Biệt”. Bởi lý do “chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”.


Trong báo cáo của mình, USCIRF đã cho rằng: “Nhà chức trách Việt Nam tiếp tục bách hại những cộng đồng tôn giáo độc lập không tuân thủ sự kiểm soát của nhà nước, các nhóm tôn giáo sắc tộc như người Thượng và người Hmong theo đạo Tin Lành, các Phật tử Khmer Krom, và những người Hmong theo đạo Dương Văn Mình”; “Giới chức chính quyền hạn chế các hoạt động tự do tôn giáo của người Thượng theo đạo Tin Lành, bắt họ phải từ bỏ đạo, bắt giam và kết án họ”. Đây hoàn toàn là những nhận định sai lệnh và không có cơ sở về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Cần phải khẳng định rằng: Những luận điệu vu cáo xuyên tạc các chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là v.ô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, các tôn giáo luôn được hoạt động bình thường trong khuôn khổ Hiến pháp, Pháp luật. Vì vậy không thể nói ở Việt Nam “không có tự do về tôn giáo”.

Theo thống kê, hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến năm 2023, Việt Nam đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ (khoảng hơn 28% dân số cả). Mỗi năm, ở Việt Nam có khoảng  8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng từ cấp quốc gia đến địa phương được tổ chức. Thực tế đó là những minh chứng sinh động, rõ nét nhất nhằm bác bỏ tất cả những luận điệu xuyên tạc, vu cáo về tình hình ở Việt Nam hiện nay.

Những nội dung của USCIRF đưa ra hoàn toàn là những nội dung sai lệch, không có căn cứ nhằm xuyên tạc tình hình t.ự d.o tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đây chính xác là một báo cáo bịa đặt được các thế lực thù địch xào đi, nhai lại một cách thường xuyên.