Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

NHỮNG BƯỚC TIẾN VƯỢT BẬC VỀ ĐỐI NGOẠI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 NHỮNG BƯỚC TIẾN VƯỢT BẬC VỀ ĐỐI NGOẠI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Từ khi ra đời ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cũng trong 95 năm qua, đối ngoại và ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đổi mới và phát triển, đạt nhiều thành tựu vĩ đại, lịch sử.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đối ngoại và ngoại giao góp phần đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước (1930-1975):
Tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền tảng lý luận cho ngoại giao Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Ngay từ những văn kiện đầu tiên như Chính cương và sách lược vắn tắt (02/1930), Luận cương chính trị (10/1930), Đảng đã xác định tầm nhìn chiến lược khi xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, với nhiệm vụ “liên kết những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới”. Từ nhận thức này, Đảng đã đề ra sách lược tập hợp lực lượng cả trong nước và quốc tế, đặt nền móng cho tư tưởng đoàn kết quốc tế trong ngoại giao Việt Nam.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, tư tưởng chỉ đạo này được phát triển toàn diện và có hệ thống trong Thông cáo về chính sách đối ngoại (3/10/1945). Văn bản không chỉ tuyên bố với quốc tế về mục tiêu kép của ngoại giao Việt Nam - vừa bảo đảm “sự độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” của dân tộc, vừa đóng góp vào việc “cùng các nước Đồng minh xây dựng nền hòa bình thế giới”, mà còn xác định rõ phương châm “lấy nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương làm nền tảng” và triển khai linh hoạt “bằng mọi phương pháp êm dịu hay cương quyết”.
Trong giai đoạn 1945-1946, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng ngoại giao Việt Nam càng được hoàn thiện và phát triển sâu sắc. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược, đúc kết trong câu nói mang tầm triết lý sâu sắc: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Trong đó, yếu tố “bất biến” chính là sự kiên định với mục tiêu tối thượng bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc; còn “vạn biến” là phương pháp chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong triển khai để đạt được mục tiêu đó trong mọi hoàn cảnh. Những tư tưởng chỉ đạo này không chỉ tạo nền móng vững chắc cho việc hoạch định đường lối đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, mà còn tiếp tục là kim chỉ nam cho hoạt động ngoại giao Việt Nam trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước sau này.
Trong hai cuộc kháng chiến, Đảng đã vận dụng sáng tạo phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Chiến lược này phát triển từ quan điểm “đánh - đàm” riêng biệt thành phương châm “vừa đánh vừa đàm” toàn diện, thể hiện tư duy chiến lược linh hoạt nhằm tận dụng mọi con đường để đạt mục tiêu độc lập dân tộc và hòa bình. Trong kháng chiến chống Pháp, chiến lược này đã đưa đến những thành công ngoại giao quan trọng như việc ký kết Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946), tạo điều kiện cho ta củng cố lực lượng. Đỉnh cao là Hiệp định Geneva (20/7/1954), đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sự công nhận quốc tế về độc lập, chủ quyền của Việt Nam.
Bước sang kháng chiến chống Mỹ, vai trò của ngoại giao được nâng tầm chiến lược. Từ chỗ “ngoại giao tâm công” được phát huy để xây dựng và mở rộng mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam và “tiến công địch về ngoại giao” với “vai trò quan trọng, tích cực, chủ động. Đến Nghị quyết của Bộ Chính trị (4/1969), lần đầu tiên ngoại giao đã được nâng tầm thành “một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược” với đỉnh cao là Hiệp định Paris (1973), tạo bước ngoặt quan trọng dẫn tới Đại thắng mùa Xuân 1975. Thành công này minh chứng cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thắng lợi quân sự trên chiến trường với đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán, góp phần quyết định vào việc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Đối ngoại, ngoại giao phục vụ quá trình Đổi mới, phá thế bao vây cấm vận, từng bước mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế (1975-1995):
Giai đoạn này, Đảng đã có bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại: từ “đấu tranh bảo vệ Tổ quốc” sang định hướng “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi” để phục vụ công cuộc đổi mới và nâng cao vị thế đất nước. Sự chuyển đổi này phản ánh tầm nhìn chiến lược mới của Đảng trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển. Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) là bước ngoặt trong quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại khi khẳng định “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”. Nghị quyết đề ra yêu cầu “chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại, cần có quan điểm mới về an ninh và phát triển, ưu tiên tập trung cho sự nghiệp giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế. Từ chủ trương “thêm bạn, bớt thù”, Đảng đã phát triển thành hệ thống quan điểm chỉ đạo xuyên suốt về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.
Trên cơ sở đó, Việt Nam đã tích cực triển khai nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng: nỗ lực xử lý vấn đề Campuchia tạo cơ sở bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; thúc đẩy tiến trình bình thường hóa với Mỹ; đồng thời từng bước tạo dựng vị thế trên các diễn đàn đa phương, đặc biệt là trong Phong trào Không liên kết (1976) và Liên hợp quốc (1977). Tháng 7/1995 đánh dấu bước đột phá trong việc phá vỡ thế bị bao vây cấm vận với ba sự kiện mang tính cộng hưởng: thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, ký Hiệp định khung hợp tác với Liên minh châu Âu và gia nhập ASEAN, mở ra giai đoạn hội nhập quốc tế và phát triển mới của đất nước.
Mở rộng và đưa quan hệ đi vào chiều sâu, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và thể hiện vai trò thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm (1996-nay):
Đảng ta đã phát triển mạnh mẽ tư duy hội nhập quốc tế từ mở rộng quan hệ song phương, đa phương đến chủ động hội nhập toàn diện, sâu rộng và là thành viên có chủ động, tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Quá trình này đánh dấu bước chuyển căn bản từ tư duy tiếp cận, tham gia sang chủ động đóng góp, từ đơn lĩnh vực sang đa lĩnh vực, từ thụ động thích nghi sang chủ động, tích cực tham gia và vươn lên đóng vai trò nòng cốt dẫn dắt. Từ chỗ xác định “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực” tại Đại hội IX (2001) [8], tư duy này được phát triển một bước tại Đại hội X (2006) thành “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”. Đó là tiền đề quan trọng để dẫn đến bước chuyển quan trọng, thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” tại Đại hội XI (2011), sau đó được cụ thể hóa qua Nghị quyết 22-NQ/TW (2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực và nâng tầm thành “chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng, toàn diện” tại Đại hội XIII (2021). Riêng về ngoại giao đa phương, Chỉ thị 25-CT/TW (2018) của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 lần đầu tiên xác định ngoại giao đa phương là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và đặt ra yêu cầu “nỗ lực vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt hoặc hòa giải tại các tổ chức đa phương có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể của nước ta”.
Thành tựu nổi bật của giai đoạn này là Việt Nam đã vượt qua thế bị bao vây, cấm vận thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia, đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngoại giao kinh tế trở thành một trụ cột cho phát triển với việc ký kết và thực thi hiệu quả gần 20 Hiệp định thương mại tự do, đưa kim ngạch thương mại đạt mức kỷ lục gần 800 tỷ USD, đồng thời mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo... Trên các diễn đàn đa phương như ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, G20, BRICS, Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò tích cực và có trách nhiệm. Đặc biệt, năm 2024 ta đã lần đầu tiên khởi xướng và tổ chức thành công Diễn đàn tương lai ASEAN, thể hiện đóng góp của Việt Nam trong định hình tương lai của Cộng đồng ASEAN.
Thành tựu nổi bật của giai đoạn từ năm 1996 đến nay là Việt Nam đã vượt qua thế bị bao vây, cấm vận thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia, đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Năm 2025 là năm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt, là năm kỷ niệm 80 năm thành lập nước và của ngành ngoại giao. Phát huy những thành tựu đã đạt được, đối ngoại và ngoại giao Việt Nam cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong” và nhiệm vụ “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại” mà Đại hội XIII đã đặt ra. Đồng thời, cần không ngừng nỗ lực thể hiện vai trò trọng yếu thường xuyên trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, định vị Việt Nam vào vị trí tối ưu trong các xu hướng và trào lưu phát triển, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc../.
Có thể là hình ảnh về 10 người
Tất cả cảm xúc:
3

THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY VÔ CÙNG THÂM ĐỘC

 THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY VÔ CÙNG THÂM ĐỘC

Có lẽ nhiều người Việt Nam biết vì sao Triều Tiên vẫn đang bị chia đôi và có lẽ không bao giờ thống nhất được nếu Hoa Kỳ còn là bố đẻ của Nam Hàn!
Câu chuyện rất dài nhưng gần đây, tình báo quốc tế tiết lộ rằng, vụ bắt Tổng thống Yoon không phải lý do phần nhiều vì ông ra lệnh "Thiết quân luật" mà là một tội ác được "thế lực bên ngoài" chỉ đạo tổng thống tiến hành một kịch bản có tính phe phái (phe ủng hộ thống nhất Triều Tiên và phe thân Mỹ) để nhằm quy kết cho chính phủ Triều Tiên tham gia đảo chính như vu cáo Iraq bằng lọ bột thủy tinh vào năm 2002, làm căn cứ để Mỹ vu cáo Triều Tiên can thiệp vào nội bộ Hàn Quốc, hòng tạo đà cho Mỹ thực hiện các bước tấn công Chính quyèn Triều Tiên để một mặt, phá thế Triều Tiên đang ủng hộ Nga trong cuộc xung đột Ucraina, mặt khác nhằm lật đổ nhà nước Triều Tiên mà hơn 70 năm nay họ chưa làm được
Dù thông tin này chưa kiểm chứng rõ ràng nhưng thế giới vẫn thừa biết Mỹ đã giật dây Tổng thống Yoon trong vụ việc này để gây bất ổn chién lược trên bán đảo Triều Tiên. Mặt khác, nhiều chuyên gua quân sự vẫn đặt câu hỏi: ông Yoon là Tổng thống, tại sao khi bị bắt người dân lại cầm cờ Mỹ chống lại pháp luật Hàn Quốc như một biểu tượng thiên đình và hạ giới như vậy??? Và câu trả lời không khó với những người hiểu biết, rằng tự nhiên muốn đánh một thằng nào hoặc xúi thằng này đánh thằng kia thì chả phải anh phải tìm cách chỉ cho đối phương cà khịa người ta! Chính phủ Hàn Quốc là chư hầu của Mỹ. Khi một chính quyền bị ngoại quốc "xâu mũi" thì Tổ quốc, Nhân dân đều là nạn nhân của súng đạn là không tránh khỏi. Ucraina, Hàn quốc, hay bất cứ quốc gia nào phụ thuộc vào Mỹ, có thể sẽ giàu nhanh nhưng cũng không loại trừ "đốn cửi 3 năm thiêu một giờ"
Rất may cho Hàn Quốc là Quốc hội đã đủ uy lực pháp quyền để thực hiện lệnh bát ông Yoon và mọi chuyện sau đó không xẩy ra tồi tệ. Hàn quốc đã ổn định trở lại và không xẩy ra kết quả của kịch bản " vu khống" và tấn công của Mỹ và phương Tây vào Triều Tiên. Mới đây văn phòng công tố viên Hàn Quốc đã ra tuyên bố sẽ tiếp tục giam Tổng thống Yoon để điều tra chi tiết vụ việc. Nếu nó xẩy ra thì Bà Vanga sống lại cũng không đoán được kết cục thế nào.
Chúng ta đừng nghĩ người dân Hàn Quốc biểu tình chống lại Quốc hội Hàn quốc là vui nhé. Đó là một chiêu trò, thủ đoạn vô cùng thâm độc của Mỹ và phương Tây, nó tương tự như sự kiện Vịnh Bắc Bộ 1964, hòng đưa máy bay ném bom miền Bắc Việt Nam, hay gần đây nhất là lõ bột thủy tinh màu trắng của Mỹ tại LHQ năm 2002 để hủy diệt đất nước Iraq !
Vì thế ta cứ hiểu, về mặt ngà nước, các quốc gia chơi với "bọn lái súng" cũng tương tự như người dân ta chơi với đám giang hồ, xã hôin đen, vay nặng lãi. Tránh nó ra cũng khó, mà chơi với nó, nếu không khôn khéo thì vào vòng kim cô của chúng lúc nào không biết đâu!
Có thể là hình ảnh về 1 người, đám đông và văn bản
Tất cả cảm xúc:
5

75 NĂM NGÀY THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO (30/1/1950 - 30/1/2025): QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA

 75 NĂM NGÀY THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO (30/1/1950 - 30/1/2025): QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA

75 năm trước, ngày 30/1/1950, Liên Xô trước đây (Liên bang Nga ngày nay) là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước sau này. Trải qua 75 năm, tình hữu nghị Việt Nam-Liên bang Nga luôn được lãnh đạo và nhân dân hai nước coi trọng, gìn giữ và không ngừng củng cố, đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ngày càng sâu sắc hơn.
Có thể là hình ảnh về bản đồ và văn bản
Tất cả cảm xúc:
2

NHỮNG TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 NHỮNG TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng nên nhiều truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp. Những truyền thống quý báu của Đảng ta là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế trên một tầm cao mới của thời đại; là sức mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng; là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh xương máu, phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, đảng viên. Trên con đường phát triển, Đảng ta đã không ngừng đưa ra những quyết sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu lịch sử, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
1

ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG VƯƠN MÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CÙNG XUÂN

 ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG VƯƠN MÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CÙNG XUÂN

Mùa xuân năm 1911, ở vào tuổi xuân Nguyễn Tất Thành quyết định lên tàu Amiran Latusơ Tơrevin để xuất dương tìm đường cứu nước. Bôn ba khắp năm châu, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tìm được con đường đó và vận dụng vào cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng đi lên Chủ nghĩa Cộng sản”. Để lãnh đạo cách mạng, vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do Người thành lập ra đời. Từ mùa Xuân đó như có linh ứng giữa lòng người và đất trời mà cùng với những chồi xanh, lộc biếc của Xuân, dân tộc Việt Nam có được một tổ chức cách mạng đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo toàn dân đứng lên để “tự giải phóng mình”. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khơi dậy được sức mạnh của dân tộc làm bừng lên, nở rộ thành những phong trào rồi thành cao trào đưa cách mạng Việt Nam vượt qua bao nhiêu gian nan thử thách để giành được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác làm vẻ vang lịch sử, rạng rỡ non sông. Việt Nam từ đất nước bị nô lệ hàng nghìn năm đã vươn mình “sánh vai cùng với các cường quốc năm châu”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành được độc lập, nhưng Việt Nam lại phải đương đầu và đã đánh thắng “hai đế quốc to” với những chiến công hiển hách đi cùng xuân. Đó là vào mùa Xuân năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu, buộc thực dân Pháp phải rút quân khỏi Việt Nam sau gần 100 năm đô hộ, mở ra kỷ nguyên mới không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn là ngọn cờ vẫy gọi các dân tộc bị nô lệ vùng lên giải phóng. Rồi đến mùa Xuân năm 1973, sau những chiến công giòn giã, đặc biệt là chiến dịch tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam và chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 ở miền Bắc, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari rút quân xâm lược về nước. Mùa Xuân năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giang sơn thu về một mối; nước Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, tiến lên xây dựng CNXH, cũng từ mùa Xuân này, “Mùa Xuân theo én về” báo hiệu sự suy vong của chế độ thực dân mới trên toàn cầu.
Nhưng sau chiến công rực rỡ, lại phải đương đầu với bao khó khăn đó là hậu quả của chiến tranh, lại bị cấm vận, bị đánh phá ở hai đầu biên giới, rồi Liên Xô và phe XHCN tan rã, nhưng đất nước đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, sáng tạo tìm ra con đường đổi mới vượt qua nghèo nàn, lạc hậu và trì trệ. Đó là, cũng vào mùa Xuân, ngày 24 tháng 2 năm 1986 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 31-NQ/TW ghi đậm dấu ấn lịch sử với việc hình thành tư tưởng đổi mới. Từ đó làm cơ sở, để Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới với tư duy: “Phải nhìn thẳng vào sự thật”; “Dám thay đổi lối mòn tìm ra cái mới”, từng bước thực hiện cơ chế thị trường thay cho cơ chế quan liêu bao cấp không còn phù hợp.
Khơi nguồn từ mùa Xuân 1986, gần 40 xuân thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở tốp đầu và hiện có quy mô kinh tế ở tốp 35 thế giới; GDP từ chỗ ở cuối bảng đã tăng lên hơn 40 lần, để vươn lên tốp 5 các nước Đông Nam Á; kim ngạch xuất khẩu tăng gần 300 lần và có giá trị đứng ở tốp 10. Có 143 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (FDI) với số vốn tăng hơn 22 lần. Hộ nghèo giảm từ 58% xuống 1,9%. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; là đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 32 nước. Thành viên của 16 Hiệp ước quốc tế và thương mại tự do.
Như là duyên nợ với đất trời, Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh cứ đến mùa Xuân là ghi thêm một mốc son chói lọi, đất nước nẩy lộc, đâm chồi, đơm hoa, kết trái không ngừng nghỉ với thời gian. Vững bước trên con đường đã chọn luôn được sáng tạo, bổ sung và hoàn thiện, với những cơ chế, chính sách ứng phó linh hoạt phù hợp với tình hình, vượt qua mọi khó khăn thử thách để phát triển.
Xuân năm nay, đón chào những ngày lễ lớn, kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc…, đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với hành trang truyền thống vẻ vang và những thành tựu toàn diện của công cuộc đổi mới. Tiếp tục thực hiện ba mũi đột phá do Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, cùng với tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, phấn đấu: “Hết năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại vượt qua thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Để làm được điều đó cần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, khát vọng vươn lên giàu mạnh của dân tộc, ra sức chỉnh đốn và xây dựng Đảng, thực hiện có hiệu quả cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức và bộ máy nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng. Tiếp tục hoàn thiện sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vươn mình cùng thời đại với ý chí và quyết tâm phấn đấu những năm tới đạt mức tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra.
Cùng với cả nước, trong những năm qua Hà Giang đã có bước phát triển nhanh, từ thành thị đến những vùng quê hẻo lánh đã có sự “thay da đổi thịt” thật sự. Bước vào năm mới, đồng bào các dân tộc Hà Giang quyết tâm vươn mình cùng cả nước tập trung giảm nghèo nhanh và bền vững, cải thiện sinh kế và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi nhà. Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Xây dựng Hà Giang là tỉnh phát triển về du lịch cộng đồng với những sản phẩm đặc trưng vùng; văn hóa đa dạng, phong phú với những sắc màu của các dân tộc, gìn giữ biên giới hòa bình, hữu nghị, đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự xã hội ổn định. Phấn đấu năm 2025 đạt được 30 chỉ tiêu trên các lĩnh vực mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra; đến năm 2030 là tỉnh khá trong vùng các tỉnh miền núi ở phía Bắc.
Thật là đáng vui, bước vào năm mới dẫu thế giới đang nổi lên những xung đột, diễn biến phức tạp thì đất nước ta vẫn bình yên, chính trị - xã hội ổn định, đời sống tinh thần, vật chất của người dân được nâng lên rõ rệt, dân tộc bước vào kỷ nguyên mới tiếp tục phát triển và hội nhập, kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH, thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.
Có thể là hình minh họa về 1 người
Tất cả cảm xúc:
1