Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2025

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: “ỐI GIỒI ÔI! ĐÁNH NHAU LO GIỮ GÁO, AI NGHĨ ĐƯỢC ANH HÙNG”!

     ... “Ối giồi ôi! Sáng sớm 17/2/1979, tao đang gác ca cuối thì thấy đỏ rực phía xa và phá.o nổ đì đẹt. Tao vào giường gọi đại đội trưởng: “Đại trưởng ôi, dậy đi đán.h nhau thôi. Trung Quốc nó đán.h mình rồi”. Ông ấy đạ.p tao ra, bảo: “Nói năng linh tinh”. Tao lại sang gọi chính viên (chính trị viên), ông này tiện buồn đá.i nên tao dắt được ra sân, chỉ về hướng Mường Khương xem phá.o bắ.n, thế mới tin.

Ối giồi ôi! Ngày 17/2 Trung Quốc nó mới sang thì tao đang làm lính. 3 ngày sau, cán bộ chết hết, tao thì lại bắn được nhiều thằng Trung Quốc, nên đại trưởng cho làm tiểu trưởng, chỉ huy mấy thằng toàn thương bệnh binh giữ chốt 391, 393, đán.h nhau đì đẹt.

Mấy ngày sau, đơn vị rút, quên không báo, để mỗi mình tao đì đọp bắn nhau với bọn Trung Quốc. May mà bọn đơn vị khác lên thay, thấy tiếng súng tìm đến, tao mới biết là mình bị bỏ quên. Lúc về hậu cứ, tao gặp đại trưởng, giận quá nên bảo: "Đại trưởng sống không bằng co.n ch.ó con ngựa", cán bộ tiểu đoàn phải can mãi.
Ối giồi ôi! Đán.h nhau xong, tao phải về sở chỉ huy ở tỉnh báo cáo. Mấy ông Liên Xô tóc xanh mũi lõ cứ xì xồ bắt tao tường thuật, hướng này hướng kia. Tao hồi ấy biết chữ éo đâu, nên nói thẳng: “Các ông muốn biết thì đi mà đán.h nhau. Để cho tôi về đơn vị ăn cơm”, mấy ông ấy cười ha ha. Ông phiên dịch ghé tai tao bảo: “Họ thấy cậu bực, cứ tưởng hạ quyết tâm chiến đấu đấy. Cậu cứ bực đi, để tớ cũng nhanh xong việc, còn về ăn cơm. Sáng giờ, đói bỏ mẹ”...
Ối giồi ôi! Phong tao làm Anh hùng rồi bắt tao đi học. 5 thầy cô giáo với 5 thằng vệ binh suốt ngày canh bắt tao học. Tao sợ quá, tao bảo: “Tao trả Anh hùng đấy. Cho tao về đơn vị làm lính thôi. Đán.h nhau lo giữ gáo, é.o ai nghĩ đán.h nhau để làm anh hùng mà phải học nhiều”... mà cấp trên không cho, bắt tao học 1 năm mấy lớp để tốt nghiệp được cấp 3, bắt đi nói chuyện với các nước. Ối giồi ôi! 

Ông Tòng Văn Chô (năm nay 67 tuổi, hiện đang sống trên 1 quả đồi giữa lòng hồ thủy điện Bản Chát, Than Uyên, Lai Châu), được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang khi mới 24 tuổi, sau trận chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc - đánh trả quân Trung Quốc xâm lược, tháng 2.1979, tại mặt trận Lào Cai. 

Đó là những lời kể hóm hỉnh, hài hước và mộc mạc của chú đã phần nào tái hiện lại cuộc chiến tranh một cách rất chân thực nhất, câu chuyện dường như đã chạm đến trái tim của nhiều người, đã khiến chúng ta nhận ra một điều vô cùng đáng quý trong con người chú cũng như những người lính chiến đấu anh dũng thời đó rằng: Những người lính chiến đấu vì nước nhà, vì độc lập tự do chứ đâu phải vì danh xưng này kia./.

SƯU TẦM!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ÔNG LÊ TIẾN CHÂU ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH TIẾP TỤC GIỮ CHỨC BÍ THƯ THÀNH ỦY HẢI PHÒNG!

     Ông Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, được Bộ Chính trị chỉ định tiếp tục giữ chức Bí thư Thành ủy Hải Phòng nhiệm kỳ 2025-2030.

Quyết định được ông Nguyễn Quang Dương, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng công bố tại phiên khai mạc Đại hội Đảng bộ Thành phố Hải Phòng sáng 27/9.

Bộ Chính trị cũng chỉ định các ông Đỗ Mạnh Hiến, Lê Ngọc Châu (Chủ tịch UBND TP Hải Phòng), Lê Văn Hiệu (Chủ tịch HĐND TP Hải Phòng), Phạm Văn Lập (Chủ tịch MTTQ Việt Nam TP Hải Phòng) giữ chức Phó bí thư Thành ủy.

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố gồm 78 người và Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng gồm 20 người. 

Bí thư Thành ủy Lê Tiến Châu 56 tuổi, quê tỉnh Tây Ninh, trình độ tiến sĩ luật. Ông từng công tác tại Đại học Luật TP HCM, làm chuyên viên rồi Vụ trưởng, Trưởng cơ quan đại diện, Cục trưởng Công tác phía Nam của Bộ Tư pháp tại TP HCM, kiêm Hiệu trưởng trường Trung cấp Luật Vị Thanh.

Từ tháng 9/2014 đến 1/2016, ông làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Vụ trưởng Tổ chức cán bộ, Bộ Tư pháp. Đến tháng 1/2016, ông làm Hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội và tháng 6/2016 làm Thứ trưởng Tư pháp kiêm Hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội.

Tháng 3/2018, Ban Bí thư chỉ định ông Châu tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang. Ngày 17/4/2018, HĐND tỉnh Hậu Giang bầu ông Châu giữ chức Chủ tịch tỉnh. Tháng 8/2020, ông được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang. 

Tháng 5/2021, ông là Phó bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sau đó giữ chức Phó chủ tịch, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2019-2024.

Tháng 1/2023, ông được Bộ Chính trị phân công làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng, nhiệm kỳ 2020-2025. Sau khi TP Hải Phòng hợp nhất với Hải Dương, ông được chỉ định làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng mới.

Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025-2030 có 445 đại biểu chính thức đại diện cho 243.544 đảng viên toàn Đảng bộ dự đại hội.

Trong nhiệm kỳ 2020-2025, dù trải qua đại dịch Covid-19, bão Yagi, Hải Phòng vẫn là địa phương duy nhất duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số trong 10 năm liên tiếp. Trong khi đó, tỉnh Hải Dương duy trì ở mức tăng trưởng cao, vượt mục tiêu đề ra, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Sau hợp nhất, TP Hải Phòng mới có diện tích trên 3.190 km2, quy mô dân số hơn 4,6 triệu người (đứng thứ tư cả nước) và là nền kinh tế đứng thứ ba toàn quốc./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG "HẢI PHÒNG PHẢI ĐÓNG GÓP NHIỀU HƠN CHO ĐẤT NƯỚC"!

     Thủ tướng yêu cầu TP Hải Phòng phải đóng góp nhiều hơn, mạnh hơn cho sự phát triển của đất nước vì đang được Đảng và nhà nước quan tâm, đầu tư lớn.

Sáng 27/9, dự Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hải Phòng lần thứ nhất nhiệm kỳ 2025-2030, Thủ tướng Phạm Minh Chính biểu dương nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Phòng trong nhiệm kỳ 2020-2025. Dù đối mặt nhiều khó khăn, thành phố vẫn duy trì tăng trưởng bình quân 11,39%/năm, trở thành địa phương duy nhất cả nước đạt mức tăng trưởng hai con số trong 10 năm liên tiếp. Hải Phòng liên tục 4 năm thu ngân sách vượt mốc 100.000 tỷ đồng, hạ tầng được đầu tư đồng bộ, diện mạo đô thị và đời sống nhân dân được nâng cao.

Thủ tướng nhấn mạnh ba bài học then chốt để đạt được thành công là đoàn kết toàn diện; lấy nhân dân làm trung tâm, không để ai bị bỏ lại phía sau; kết hợp hài hòa nội lực và ngoại lực. Đồng thời, ông nêu hai vấn đề Hải Phòng cần đặc biệt quan tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị để chuyển từ "giải quyết thủ tục hành chính" sang "kiến tạo phát triển", có cơ chế, chính sách đột phá khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế để phát triển nhanh và bền vững.

Trong giai đoạn tới, Thủ tướng đề nghị Hải Phòng "nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn", tiếp tục đổi mới tư duy, nâng tầm nhận thức, quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, giữ vững vai trò đầu tàu, động lực phát triển của vùng và cả nước. "TP Hải Phòng phải đóng góp nhiều hơn, mạnh hơn cho sự phát triển của đất nước vì đang được Đảng và nhà nước quan tâm, đầu tư lớn", ông nói.

Thành phố cần tập trung xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, phát triển nhanh, xanh, bền vững, lấy con người làm trung tâm, khoa học công nghệ làm nền tảng; chủ động quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng.

"Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi thì chỉ bàn làm, không bàn lùi", Thủ tướng nhấn mạnh, đồng thời bày tỏ tin tưởng Hải Phòng sẽ sớm trở thành thành phố xã hội chủ nghĩa "hài hòa, sáng, xanh, sạch, đẹp, đáng sống".

Trước khi sáp nhập với Hải Dương, TP Hải Phòng đã duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong 10 năm liên tiếp, cơ bản đạt các chỉ tiêu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khẳng định vai trò trung tâm công nghiệp, cảng biển, logistics hàng đầu phía Bắc. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn TP Hải Phòng cũ tăng trưởng liên tục 4 năm liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng, giai đoạn 2021-2025 đạt 543.600,86 tỷ đồng, bình quân tăng 7,06%/năm; thu nội địa tăng 9,27%/năm.

Trong khi đó, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2021-2025 đạt 125.994 tỷ đồng, bình quân tăng 13,3%/năm; thu nội địa tăng 13,9%/năm.

Giai đoạn 2021-2025, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn Hải Phòng đạt 20,2 tỷ USD, gấp 1,89 lần giai đoạn trước; trung bình mỗi năm có 3.384 doanh nghiệp thành lập mới, kinh tế tư nhân chiếm 86,3% vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn. Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn Hải Dương đạt 3,85 tỷ USD; số doanh nghiệp mới thành lập tăng bình quân 6,5%/năm; kinh tế tư nhân chiếm 85,1% vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn.

Sau sáp nhập, TP Hải Phòng có quy mô kinh tế lớn thứ ba cả nước, từng bước hình thành các trục liên kết vùng, phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, công nghiệp, đô thị và dịch vụ, khai mở nhiều động lực tăng trưởng chiến lược, tạo nền tảng quan trọng để thành phố bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn tới./.
Ảnh: Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tạo Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025-2030.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC BÁC BỎ NGHỊ QUYẾT TRÌ HOÃN TRỪNG PHẠT IRAN!

     Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ngày 26/9 đã bỏ phiếu bác bỏ đề xuất của Nga và Trung Quốc về việc gia hạn thêm sáu tháng trước khi tái áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Iran liên quan đến chương trình hạt nhân.

Trong cuộc bỏ phiếu, với bốn phiếu thuận, chín phiếu chống và hai phiếu trắng, các biện pháp trừng phạt sẽ chính thức được khôi phục vào lúc 1 giờ GMT ngày 27/9 (tức 8h sáng ngày Chủ Nhật tại Việt Nam). Các biện pháp bao gồm đóng băng tài sản của Iran ở nước ngoài, ngừng các thương vụ vũ khí với Tehran và trừng phạt mọi hoạt động phát triển tên lửa đạn đạo, qua đó càng siết chặt nền kinh tế vốn đang gặp khó khăn của nước này.

Đề xuất trên do Nga và Trung Quốc đưa ra nhằm tạo điều kiện cho hoạt động ngoại giao tiếp tục. Tuy nhiên, nhóm ba nước châu Âu gồm Anh, Đức và Pháp, còn gọi là bộ ba E3, cho rằng Iran không tuân thủ thỏa thuận và nhiều tuần đàm phán vừa qua không mang lại kết quả cụ thể.

Trước đó, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã kêu gọi Hội đồng Bảo an cho thêm thời gian và không gian để ngoại giao phát huy tác dụng, song bị các nước châu Âu bác bỏ.

Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cho biết, các thanh sát viên vẫn đang có mặt tại Iran để kiểm tra các cơ sở hạt nhân chưa bị hư hại, đồng thời giám sát việc thay nhiên liệu tại Nhà máy điện hạt nhân Bushehr. Tuy nhiên, các nước châu Âu nhấn mạnh rằng, các động thái này không đủ để ngăn chặn loạt trừng phạt sẽ tự động tái áp đặt vào cuối tuần này.

Giới phân tích nhận định, việc Hội đồng Bảo an bác bỏ nghị quyết sẽ làm căng thẳng giữa Iran và phương Tây thêm trầm trọng. Trước đó, Iran từng cảnh báo có thể rút khỏi Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), theo bước Triều Tiên, quốc gia đã rời khỏi hiệp ước năm 2003 và phát triển vũ khí hạt nhân./.

Môi trường ST.

ANH EM “DÂN CHỦ”, CON CHÁU BA QUE, BA “DÒNG KẺ” CỨ VIỆT NAM “LÀM LÀ C.HỬI”!

     Nhiều lần tôi đã tự hỏi rằng, liệu mấy anh em chị em chống phá đất nước này có thực sự có một trí tuệ bình thường không? Có biết dùng não để suy nghĩ không? Hay cứ đất nước làm cái gì là phải chê bai hạ thấp?

Đại sứ quán Việt Nam tại Đan Mạch có mở một quán phở để bán cho kiều bào, khách nước ngoài. Đây là một dự án nằm trong đề án quảng bá văn hoá nước ngoài tại nhiều đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng qua nhiều lời của anh chị em chống phá đất nước này, thì là “nhục quốc thể”, quê mùa, bày trò, cơ quan ngoại giao mà lại đi buôn bán, kiếm tiền của nhân dân… 

Đọc những luận điểm này là tôi cảm thấy bực, không phải chỉ bực vì tư duy của bọn này, mà còn vì rất nhiều người dân thiếu kiến thức tin, nghe theo và chửi bới. 

Tại Hà Nội, Đại sứ quán Ý có Trung tâm văn hoá Ý, trong đó có bán cà phê, pizza, đồ thể thao của nhiều CLB bóng đá Ý… Đại sứ quán Đức cũng quản lý Viện Goethe Hà Nội, với mục đích bày bán, quảng bá đồ ẩm thực nước Đức, quảng bá văn hoá Đức. Đại sứ quán Indonesia có Trung tâm văn hoá Umah Indo, chuyên phục vụ các món ăn cổ truyền Indonesia, giao lưu âm nhạc, tổ chức sự kiện… 

Đại sứ quán các nước chính là nơi để kết nối văn hoá với thế giới, là nơi đại diện cho ngoại giao của một quốc gia. Việc bán đồ ăn của mỗi quốc gia là một hoạt động vô cùng bình thường, mục đích không phải là kiếm tiền mà để quảng bá văn hoá, ẩm thực, giao lưu và tương tác.  

Đại sứ quán nước bạn bày bán đồ ăn nước bạn thì được còn Đại sứ quán Việt Nam bày bán đồ ăn Việt Nam thì lên án, chửi bới?
 Khuyết danh ST.

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: “THI GÌ MÀ LẮM THẾ?”

     “Thi gì lắm thế!”, phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Đảng bộ Quốc hội đã chạm thẳng vào căn bệnh "mãn tính" của giáo dục Việt Nam: thi cử tràn lan, hình thức, gây áp lực khủng khiếp cho học sinh và phụ huynh nhưng lại không đem lại giá trị thực.

Chỉ cần nhìn ngay tại Thủ đô, phụ huynh mô tả cảnh con cái phải đi học từ 6 giờ 45 sáng đến 7 giờ 30 tối mới về, sống như cái bóng trong guồng máy ôn luyện. Áp lực lớn nhất không nằm ở kỳ thi tốt nghiệp mà ở kỳ thi chuyển cấp, đặc biệt là vào lớp 10. Năm học 2025–2026, Hà Nội có hơn 103 nghìn nguyện vọng 1, trong khi chỉ tiêu công lập không chuyên chỉ khoảng 75.670. Sự chênh lệch cung cầu ấy khiến hàng chục nghìn gia đình rơi vào căng thẳng tột độ, chỉ vài điểm thi có thể quyết định cả con đường học tập, buộc nhiều người phải vay mượn để cho con học trường tư. Điều đó cho thấy khi chưa phổ cập được giáo dục cấp 3, kỳ thi lớp 10 trở thành “cửa ải sinh tử”, tạo ra áp lực cho toàn xã hội.

Bức tranh đại học cũng không sáng sủa hơn. Năm 2025 có 773.200 thí sinh trúng tuyển, nhưng gần 147 nghìn em từ chối nhập học. Con số này cho thấy thế hệ trẻ ngày càng ít tin rằng đại học là con đường duy nhất để đi tới tương lai. Họ tìm đến trường nghề, xuất khẩu lao động, du học, những lựa chọn gắn liền với việc làm và thu nhập thực tế. Việt Nam đang mắc kẹt trong nghịch lý thừa cử nhân nhưng thiếu nhân lực có kỹ năng. Trong khi đó ở Đức hay các nước Bắc Âu, giáo dục nghề nghiệp được đầu tư ngang hàng với đào tạo hàn lâm, sinh viên vừa học lý thuyết vừa thực tập, ra trường có thể làm việc ngay. Ở ta, trường nghề vẫn bị coi là lựa chọn hạng hai, còn đại học thì mở tràn lan nhưng xa rời nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai việc sáp nhập và sắp xếp 140 trường công lập, loại bỏ những cơ sở yếu kém. Nhưng đó mới chỉ là bước phẫu thuật bề mặt. Căn bệnh gốc nằm ở chỗ hệ thống chưa phổ cập được THPT, dẫn đến kỳ thi chuyển cấp căng thẳng, và xã hội thì vẫn nặng nề với tâm lý sính bằng. Học sinh bị buộc phải học vì điểm số thay vì vì năng lực. 

Trong bối cảnh ấy, phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm “thi gì lắm thế” vang lên như nhát chém thẳng vào căn bệnh mãn tính của giáo dục. Đó không phải một lời than thở, mà là cảnh tỉnh rằng đã đến lúc phải cắt bỏ những kỳ thi vô nghĩa, phải lo đủ trường, đủ lớp, đủ thầy để phổ cập cấp 3, và phải tái cấu trúc toàn bộ hệ thống để trọng tâm không còn là bằng cấp mà là kỹ năng. Khi xã hội đánh giá con người bằng năng lực thay vì tấm bằng, khi phổ cập THPT trở thành hiện thực chứ không còn là mục tiêu xa vời, lúc đó giáo dục mới thật sự thoát khỏi vòng luẩn quẩn./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGUYÊN PHÓ CHÁNH ÁN TÒA CẤP CAO PHẠM TẤN HOÀNG BỊ KHAI TRỪ ĐẢNG!

     Ông Phạm Tấn Hoàng, nguyên Chánh án TAND tỉnh Phú Yên, nguyên Phó chánh án TAND cấp cao tại Đà Nẵng, vừa bị Ban Bí thư quyết định khai trừ Đảng.

Theo thông cáo của Văn phòng Trung ương Đảng trưa 26/9, quyết định kỷ luật được Ban Bí thư đưa ra tại cuộc họp sáng cùng ngày sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Ban Bí thư kết luận ông Hoàng đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ; vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương. Những vi phạm này bị đánh giá "gây hậu quả rất nghiêm trọng", gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng "rất xấu" đến uy tín tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị nơi ông công tác. Ban Bí thư cũng đề nghị cơ quan chức năng áp dụng hình thức kỷ luật hành chính đồng bộ với kỷ luật Đảng.

Ngày 24/7, Cơ quan điều tra VKSND Tối cao đã khởi tố ông Hoàng, 59 tuổi, về tội Nhận hối lộ. Trước đó, ông Hoàng đến đầu thú, khai nhận đã nhận 140 triệu đồng để giúp bị cáo Trần Hoàng Đan, phạm tội G*ết người, được giảm 18 tháng tù trong một phiên tòa phúc thẩm. Ông sau đó tự nguyện nộp lại số tiền đã nhận.

Ngoài hành vi này, cơ quan tố tụng xác định ông Hoàng còn nhận hối lộ để tác động xét xử giám đốc thẩm có lợi cho đương sự trong một vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc tại Quảng Trị.

Ông Hoàng giữ chức Phó chánh án TAND cấp cao tại Đà Nẵng từ cuối năm 2021, trước đó là Chánh án TAND tỉnh Phú Yên.

Vụ việc liên quan ông Hoàng nằm trong quá trình mở rộng điều tra đường dây đưa, nhận và môi giới hối lộ do Cơ quan điều tra VKSND Tối cao thụ lý, với nhiều bị can là cán bộ các cơ quan tố tụng./.
Theo VnExpress
Môi trường ST 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ CHÍNH TRỊ ĐỀ NGHỊ KỶ LUẬT NGUYÊN BÍ THƯ TỈNH ỦY THANH HÓA ĐỖ TRỌNG HƯNG DO CÓ VI PHẠM GÂY HẬU QUẢ RẤT NGHIÊM TRỌNG!

     Ngày 26/9, sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc thi hành kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy:

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa nhiệm kỳ 2020 - 2025 (từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 9/2024) đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, quy chế làm việc. 

Ông Đỗ Trọng Hưng trong thời gian giữ chức Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa đã vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. 

Vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận bức xúc, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức Đảng và chính quyền địa phương.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật Cảnh cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa nhiệm kỳ 2020 - 2025; đề nghị Ban Chấp hành TW Đảng xem xét, thi hành kỷ luật ông Đỗ Trọng Hưng theo thẩm quyền.

Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật Khai trừ ra khỏi Đảng đối với các cá nhân: Nguyễn Văn Thi, Lê Anh Xuân, Trần Anh Chung, Trần Văn Thức, Phạm Quốc Nam, Bùi Quốc Nam, Phạm Tấn Hoàng; Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với ông Đỗ Minh Tuấn./.
Môi trường ST.

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

 

CẦN COI TRỌNG SỨC MẠNH MỀM TRONG THỜI KỲ MỚI


Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng trở thành xu thế tất yếu của mọi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song vẫn đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, nhất là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng; nhiều vấn đề toàn cầu đang diễn biến phức tạp, nhất là bảo vệ hòa bình, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang diễn ra mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, có cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam. Để tranh thủ được những nhân tố thuận lợi, khắc phục những tác động bất lợi, chúng ta cần xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó đặc biệt coi trọng “sức mạnh mềm”. Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của lực lượng sản xuất, phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Bên cạnh những nguồn lực, sức mạnh truyền thống, nguồn lực, sức mạnh mềm ngày càng cho thấy vai trò của nó không thể xem nhẹ, thậm chí ngày càng chiếm vị trí quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế./.

SỨC MẠNH MỀM TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỜI KỲ MỚI
 Đối với Việt Nam, "sức mạnh mềm” là một trong những yếu tố quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khơi dậy và phát huy “sức mạnh mềm”, kết hợp linh hoạt giữa “sức mạnh mềm” với “sức mạnh cứng” tạo thành sức mạnh tổng hợp. “Sức mạnh mềm” của Việt Nam được tạo dựng trên các yếu tố truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đặc biệt là các giá trị cốt lõi như truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; thể chế chính trị; đường lối đối ngoại linh hoạt… Vận dụng, phát huy sức mạnh mềm là một trong những nét đặc trưng, “nghệ thuật” dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và BVTQ hiện nay, khơi dậy và phát huy “sức mạnh mềm” là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./. 

 

GIẢI PHÁP CHỐNG THAM NHŨNG ĐỘC ĐÁO CỦA ANBANI

Trong bối cảnh toàn cầu đang không ngừng tìm kiếm những phương thức mới để nâng cao hiệu quả quản trị và đẩy lùi tham nhũng, Albania đã trở thành quốc gia tiên phong khi tuyên bố bổ nhiệm một chatbot trí tuệ nhân tạo (AI) mang tên Diella làm "bộ trưởng ảo" phụ trách lĩnh vực mua sắm công. Đây là một động thái táo bạo không chỉ thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế mà còn làm dấy lên nhiều tranh luận về tiềm năng, giới hạn và hệ quả của việc tích hợp công nghệ AI vào các vị trí trọng yếu trong bộ máy nhà nước.
Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo như một giải pháp nhằm giải quyết tình trạng tham nhũng ăn sâu trong các hoạt động đấu thầu công của Albania thể hiện một tư duy cải cách mang tính đột phá. Tuy nhiên, nó cũng gây ra một sự tranh cãi.
Luồng ý kiến ủng hộ kỳ vọng AI sẽ đem lại sự minh bạch, công bằng và hiệu quả cao hơn trong quá trình ra quyết định. Không giống như con người, AI không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cảm tính, lợi ích cá nhân hay áp lực từ bên ngoài. Chính vì thế, Diella, với vai trò là một “quan chức kỹ thuật số không thể hối lộ”, có thể góp phần loại bỏ những yếu tố chủ quan dẫn đến hành vi tham nhũng trong quá trình phân bổ hợp đồng nhà nước. Hơn nữa, việc vận hành hệ thống AI cho phép lưu trữ và phân tích khối lượng lớn dữ liệu một cách nhất quán và khách quan, từ đó dễ dàng phát hiện ra những dấu hiệu bất thường hoặc sai lệch trong các hoạt động mua sắm công mà một hệ thống do con người điều hành có thể bỏ sót.
Tuy nhiên, phe hoài nghi cũng có nhiều lý lẽ riêng để lo ngại. Trước hết, trí tuệ nhân tạo, dù thông minh đến đâu, vẫn là sản phẩm của con người và chịu sự kiểm soát bởi những người lập trình và vận hành nó. Điều này có nghĩa là nếu hệ thống không được thiết kế minh bạch hoặc bị điều chỉnh có chủ đích, AI hoàn toàn có thể trở thành công cụ hợp thức hóa những quyết định sai trái dưới vỏ bọc công nghệ. Ngoài ra, AI thiếu khả năng thấu hiểu các yếu tố xã hội, chính trị và bối cảnh cụ thể, những yếu tố rất quan trọng trong quản lý nhà nước, đặc biệt ở các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi như Albania. Việc trao quyền lực cho một thực thể không có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý cũng là một vấn đề lớn. Trong trường hợp có sự cố hoặc thất thoát xảy ra, rất khó để xác định ai sẽ là người chịu trách nhiệm chính trị – điều vốn dĩ là cốt lõi của một nền dân chủ và quản trị minh bạch.
Một rủi ro khác nằm ở khả năng "tô vẽ cải cách" thông qua công nghệ. Việc đưa AI vào bộ máy chính phủ có thể được sử dụng như một công cụ truyền thông để tạo dựng hình ảnh hiện đại và minh bạch, nhưng nếu thiếu đi các cải cách thể chế song hành, như tăng cường pháp quyền, đảm bảo sự độc lập của tư pháp và truyền thông, hay cải thiện cơ chế giám sát xã hội, thì bản thân AI cũng không thể giải quyết tận gốc nạn tham nhũng. Cuối cùng, những lo ngại về an ninh mạng và bảo mật dữ liệu cũng không thể bỏ qua, đặc biệt khi hệ thống AI nắm giữ thông tin nhạy cảm liên quan đến ngân sách quốc gia và các nhà thầu.
Nói gì thì nói, việc Albania sử dụng trí tuệ nhân tạo như một công cụ chống tham nhũng là một bước đi can đảm và đáng chú ý trong kỷ nguyên số. Giải pháp này thể hiện khát vọng hiện đại hóa nền hành chính công và cắt đứt những mắt xích lâu đời của tham nhũng trong lĩnh vực mua sắm công. Tuy nhiên, AI không thể là một giải pháp độc lập mà phải được đặt trong một hệ sinh thái cải cách toàn diện và minh bạch. Công nghệ chỉ có thể phát huy tác dụng khi được vận hành trong một môi trường có trách nhiệm, có kiểm soát và có ý chí chính trị thực sự. Nếu không, Diella, dù là "mặt trời" theo nghĩa đen trong tiếng Albania, cũng khó có thể soi sáng được những góc tối đã tồn tại quá lâu trong hệ thống công quyền.
Tôi thì cho rằng trong mọi thời đại, sự giám sát của con người là quan trọng nhất trong chống tham nhũng. Công nghệ càng hiện đại mà biết ứng dụng giúp cho việc giám sát hiệu quả hơn, chứ không thể thay thế con người../
 

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁM SÁT NHIỆM VỤ, THI ĐUA HIỆU QUẢ!

     Nhiều điển hình về dự Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI đã cùng rút ra một kinh nghiệm quý: Phong trào thi đua ở cơ quan, đơn vị đạt được kết quả nổi bật, có sức sống bền lâu là bởi thi đua luôn bám sát nhiệm vụ chính trị được giao.

Nhìn rộng ra, từ Phong trào Thi đua Quyết thắng của Quân đội đến các phong trào thi đua yêu nước trên phạm vi toàn quốc, càng thấy rõ tính đúng đắn ấy. Khi mỗi phong trào gắn chặt với nhiệm vụ chính trị của từng ngành, từng địa phương, thì thi đua mới đi vào chiều sâu, trở thành động lực cho đổi mới và phát triển. Ngược lại, nếu xa rời nhiệm vụ trọng tâm, thi đua dễ sa vào hình thức, chạy theo bề nổi, thậm chí trở thành gánh nặng.

Thực tiễn hôm nay đang đặt ra nhiều nhiệm vụ rất lớn và ý nghĩa: Xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia... Những nhiệm vụ ấy vừa là “thước đo” vừa là “đích ngắm” để phong trào thi đua hướng tới, tạo ra sự lan tỏa và bứt phá.

Để thi đua luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phải quán triệt sâu sắc tư tưởng của Đảng và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Mỗi kế hoạch, chương trình thi đua cần xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, gắn trực tiếp với chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống nhân dân. Có như vậy, thi đua mới trở thành động lực khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo và cống hiến của mỗi tập thể, cá nhân.

Bám sát nhiệm vụ để thi đua không chỉ là phương châm hành động mà còn là bảo đảm cho thi đua thực chất, hiệu quả./.
Yêu nước ST.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC LÀ TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA ĐẢNG TA!

     Trong thời gian qua, trên trang mạng Chantroimoimedia có phán tán bài viết “Đoàn kết không thể để chính trị độc quyền lạm dụng” của Cát Thảo Ly nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc với luận điệu xuyên tạc: Đây là mưu đồ chống phá chủ trương của Đảng về củng cố, phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân cần phải đấu tranh bác bỏ.

      Xuyên tạc, phá hoại về truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, Cát Thảo Ly cho rằng “củng cố độc quyền, Đảng đã biến đoàn kết thành bình phong, tạo ra loại “giả chân đoàn kết” để lừa mị”. Đây là luận điệu xảo trá, quy chụp vô căn cứ. Thực tiễn cho thấy, đoàn kết là một truyền thống vô cùng quý báu, được hình thành, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đảng ta luôn luôn khẳng định: Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng; là cội nguồn sức mạnh, là giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân tập hợp đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tiếp đó là giành thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Nhiều phong trào thi đua yêu nước được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo; đặc biệt phong trào “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19”, hay Chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam vừa tổ chức phát động (13/8/2025). Chương trình nhằm huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi các tầng lớp nhân dân Việt Nam ủng hộ vật chất và tinh thần hướng về nhân dân Cuba. Sau hơn 1 ngày kêu gọi chương trình ủng hộ nhân dân đã có hơn 134.500 lượt ủng hộ với số tiền lên tới hơn 30 tỷ đồng, đến nay số tiền ủng hộ đã lên tới gần 400 tỷ đồng. Đây là những minh chứng sinh động cho sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, không thế lực thù địch nào có thể chia rẽ được khối đại đoàn kết của chúng ta.

      Trong bài viết, Cát Thảo Ly cũng cho rằng “Đoàn kết phải thuộc về và nằm trong xã hội dân sự”. Rõ ràng y đang cố tình cổ súy cho cái gọi là “xã hội dân sự”, hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng với khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chỉ khi có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới được khơi dậy đầy đủ, phát huy mạnh mẽ và chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn, làm nên những thắng lợi của dân tộc ta. Những thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong 95 năm qua là minh chứng rõ nét khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Trong kỷ nguyên mới, với ưu tiên hàng đầu là khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước. Chính vì vậy, củng cố và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân là là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyến định.

      Như vậy, luận điệu xuyên tạc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Cát Thảo Ly không thể đánh lừa được nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Không ngừng củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới và cuộc sống bình yên của nhân dân ta./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM NHẤT QUÁN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ QUYỀN LỢI HỢP PHÁP CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ!

       Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, sức mạnh đoàn kết luôn là nhân tố quyết định để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập và xây dựng Tổ quốc. Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta càng nhất quán khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu. Thực tiễn đã chứng minh, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chăm lo cho đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ là lời cam kết trên giấy, mà đã trở thành hành động cụ thể, gắn liền với đời sống hằng ngày của nhân dân.

Trước hết, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Từ nguyên tắc này, hệ thống pháp luật đã được xây dựng đồng bộ, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 là minh chứng sinh động, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo chân chính. Hiện nay, Đến nay, cả nước có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng và sôi nổi với hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo. 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với trên 27,7 triệu tín đồ. Hàng chục nghìn cơ sở thờ tự được xây dựng, sửa chữa, nâng cấp; hàng trăm lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo lớn nhỏ được tổ chức thường xuyên, đông đảo tín đồ tham gia trong không khí trang trọng, an toàn. Những con số đó bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc rằng Việt Nam “hạn chế” hay “đàn áp” tôn giáo.

Song song với chính sách tôn giáo, Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác dân tộc có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Đảng ta khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Điều này không chỉ thể hiện trong cương lĩnh, nghị quyết, mà còn được cụ thể hóa bằng hàng loạt chương trình, chính sách lớn như: Chương trình 135 hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn; Nghị quyết 30a về giảm nghèo nhanh và bền vững ở 62 huyện nghèo; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, với tổng vốn đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng. Nhờ đó, diện mạo nông thôn miền núi đổi thay rõ rệt, kết cấu hạ tầng được đầu tư, trường học, bệnh viện, đường giao thông, điện, nước sạch ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, trình độ dân trí được nâng lên, phong tục, tập quán tốt đẹp được bảo tồn và phát huy. Nhà nước quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền tham gia quản lý xã hội, thực hiện bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào. Những chính sách này không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, mà còn tăng cường niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền lợi hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số còn được thể hiện rõ qua sự tham gia tích cực của các tổ chức tôn giáo, cộng đồng dân tộc trong các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, xóa đói giảm nghèo. Nhiều chức sắc, tín đồ, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng đã trở thành cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí ở nước ngoài vẫn cố tình bóp méo sự thật, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số”. Đây chỉ là chiêu trò chính trị quen thuộc, nhằm gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Thực tiễn sinh động trong nước đã và đang bác bỏ những luận điệu sai trái đó. Nhân dân các dân tộc, đồng bào có đạo và không có đạo đang ngày càng gắn bó, đoàn kết, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền lợi hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam không chỉ là quan điểm nhất quán mà còn là thực tiễn sinh động, đã và đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với truyền thống lịch sử, với yêu cầu phát triển bền vững, và cũng là minh chứng cho cam kết của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có sự hòa hợp giữa các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không có đạo chính là sức mạnh nội sinh to lớn nhất để Việt Nam vượt qua khó khăn, thách thức, kiên định con đường đổi mới, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 25 THÁNG 9 NĂM 1958!

“ĐOÀN KẾT ĐOÀN KẾT ĐẠI ĐOÀN KẾT, THÀNH CÔNG THÀNH CÔNG ĐẠI THÀNH CÔNG”!
     Là lời dạy của Bác Hồ trong buổi nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, ngày 25 tháng 9 năm 1958, Báo Yên Bái đăng số 240, ngày 10 tháng 10 năm 1958. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất cán bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh Yên Bái được đón Bác Hồ về thăm và nói chuyện. Đây là giai đoạn Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững chắc của cả nước. Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khi đề cập đến vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân. Để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi là chưa đủ, cách mạng muốn thành công và “thành công đến nơi”, phải tập hợp tất cả các lực lượng, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đoàn kết.

Thấu triệt quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Đảng ta xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến hoạt động thực tiễn. Đại hội XII chỉ rõ: Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. 

Học tập và làm theo lời Bác dạy, quán triệt và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, nghĩa đồng đội và trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân nhân, trở thành sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ dân, giúp đỡ dân, được dân tin, dân yêu và trìu mến trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - một biểu tượng cao đẹp của người quân nhân cách mạng, một nét độc đáo, đặc sắc của Quân đội nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh./.
Môi trường ST.

BÁC BỎ MỌI XUYÊN TẠC CỦA BLOG TIẾNG DÂN NEWS VỀ NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM!

     Với mưu đồ xuyên tạc tình hình đất nước, chế độ, một số người có cái nhìn thiếu khách quan, toàn diện, nhất là họ lợi dụng những yếu kém, khuyết điểm của ngành Giáo dục trong thời gian gần đây để xuyên tạc, phủ nhận thành tựu to lớn của nền giáo dục nước ta. Từ đó, đưa ra những luận điệu: “nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục dối trá từ trên xuống dưới”, “công cuộc cải cách giáo dục đã hoàn toàn thất bại”,... Đây là những luận điệu sai trái nhằm xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của nền giáo dục nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhìn lại nền giáo dục trước năm 1945, dưới chế độ thực dân, phong kiến, 95% dân số nước ta rơi vào tình cảnh mù chữ, đại đa số con em gia đình nông dân, nhân dân lao động không được đến trường. Trung bình mỗi tỉnh chỉ có từ 02 đến 04 trường tiểu học, mỗi trường có từ 100 đến vài trăm học sinh. Bậc Trung học chỉ có ở một số đô thị lớn, như: Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Mỗi trường cũng chỉ có khoảng 100 đến 200 học sinh. Đến năm 1945, toàn Đông Dương chỉ có Viện Đại học Đông Dương, gồm 10 trường Cao đẳng thành viên, với 1.575 sinh viên so với tổng số dân Việt Nam lúc đó là 23 triệu người.

Từ thực trạng nêu trên, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”1, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo; coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Trong từng thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền giáo dục của Việt Nam có sự cải cách, đổi mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới.

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề “diệt giặc dốt”, là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của nước nhà lúc bấy giờ. Người đã ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ. Tiếp đến, tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống nạn thất học. Chỉ sau một năm phát động phong trào “diệt giặc dốt”, cả nước đã có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ và đến năm 1948 đã có 6 triệu người thoát nạn mù chữ.

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc cải cách giáo dục. Năm 1950, trong hoàn cảnh nước nhà còn muôn vàn khó khăn, nhưng cuộc cải cách giáo dục lần đầu tiên nhằm mục tiêu xây dựng một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Đến năm 1956, cải cách giáo dục lần thứ hai hướng tới đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những công dân tốt, có đức, có tài. Năm 1981, cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba toàn diện hơn, đồng bộ hơn nhằm tạo bước chuyển biến mới về hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Đến những năm cuối của thế kỷ XX, nước ta đã có hơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành phố và 90% quận, huyện đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở, giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực.

Hiện nay, chúng ta đang tích cực tiến hành một “cuộc cách mạng” về giáo dục với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), bảo đảm cho giáo dục Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo lộ trình, bắt đầu từ năm học 2020 - 2021, ngành Giáo dục chính thức triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới ở bậc tiểu học.

Một trong những thành tựu trong gần 35 năm đổi mới được cộng đồng quốc tế ghi nhận là nền giáo dục Việt Nam có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Chúng ta đã hoàn thành mục tiêu đưa trẻ em đúng độ tuổi được đến trường, cơ bản hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Đến nay, Việt Nam đã có 700 trường đại học, học viện và trường cao đẳng với gần 73.000 giảng viên, hơn 16.500 tiến sĩ, 500 chương trình đào tạo, phối hợp với nhiều trường đại học trên thế giới và nhiều chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến theo chuẩn quốc tế.

Theo báo cáo được Ngân hàng Thế giới công bố ngày 15/3/2018, có 07 trong số 10 hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới đang nằm ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Trong đó, sự phát triển thực sự ấn tượng thuộc về hệ thống giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 6/2018, tổ chức Quacquarelli Symonds (QS) - Vương quốc Anh - đã công bố kết quả xếp hạng trường tốt nhất thế giới năm 20192. Theo đó, lần đầu tiên Việt Nam có trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trong top 1.000 trường đại học hàng đầu thế giới.

Bước sang thiên niên kỷ mới, Việt Nam cũng trở thành một trong những điểm sáng trên bản đồ giáo dục thế giới khi đăng cai và tổ chức thành công nhiều kỳ thi quốc tế, như: Olympic Toán học quốc tế 2007, Olympic Vật lý quốc tế 2008, Olympic Sinh học quốc tế 2016. Đặc biệt, thành tích của các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế cũng rất nổi bật. Trong 3 năm gần đây, 2017 đến 2019 đội tuyển Olympic quốc tế các môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học của Việt Nam đều đạt thứ hạng cao.

Đối với nhà giáo, từ lâu dân tộc Việt Nam đã có truyền thống tôn sư trọng đạo, mọi người, mọi nhà luôn trân trọng những người làm nghề dạy học. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách hợp lý, để bảo đảm cho đội ngũ nhà giáo yên tâm gắn bó với sự nghiệp “trồng người”, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nước nhà phát triển. Hầu hết các thầy, cô giáo đều yêu nghề, yêu người, không ngừng rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt sứ mệnh cao cả của mình, xứng đáng với lòng tin yêu, kính trọng của toàn xã hội.

Những kết quả đã đạt được là minh chứng sinh động về thành tựu to lớn của nền giáo dục Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù trong thời gian qua, với nhiều nguyên nhân khác nhau, nền giáo dục nước ta còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, song không vì thế mà xuyên tạc, phủ định nền giáo dục Việt Nam.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nói chung và ngành Giáo dục nói riêng đã và đang nỗ lực loại bỏ những tiêu cực, khắc phục những hạn chế, bất cập nhằm tiếp tục phát triển nền giáo dục nước ta ngang tầm khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nâng cao dân trí, bồi dưỡng, phát triển nhân tài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Khuyết danh ST.

CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT, TÔN GIÁO VÀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM KHÔNG THỂ BỊ BÔI NHỌ!

     Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí lại tiếp tục phát tán những luận điệu sai trái, vu cáo Nhà nước Việt Nam “đàn áp người Khmer Krom”, “giam giữ tùy tiện”, “tra tấn, ngược đãi”... nhằm bôi nhọ chính sách dân tộc, tôn giáo và nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta. Đây không chỉ là sự xuyên tạc trắng trợn thực tế tình hình trong nước mà còn là một thủ đoạn thâm độc, có hệ thống nhằm kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Các luận điệu sai trái này thường được dựng lên một cách có chủ đích, thông qua việc cắt xén, gán ghép hình ảnh, thổi phồng số liệu, trích dẫn các “nhân chứng” không xác thực hoặc sử dụng các nguồn tin từ các tổ chức thiếu trung lập, có hoạt động chống phá Việt Nam. Họ cố tình khoác lên các đối tượng vi phạm pháp luật lớp áo “nhà hoạt động nhân quyền”, rồi xuyên tạc việc cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật là hành vi “đàn áp tôn giáo”, “kỳ thị sắc tộc”. Thực chất, đây là chiêu bài lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ, gây rối loạn chính trị - xã hội, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc và phá hoại sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống hòa thuận, đoàn kết, gắn bó keo sơn trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong đó, đồng bào Khmer Krom là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định rõ: các dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Khmer, luôn được Nhà nước bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, chính sách và bằng hành động cụ thể.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hàng nghìn ngôi chùa của đồng bào Khmer được xây dựng, tu bổ và hoạt động bình thường; các lễ hội tôn giáo, phong tục tập quán như Lễ hội Chol Chnam Thmay, Lễ dâng y Kathina... đều được tổ chức công khai, trang trọng, với sự tham gia hỗ trợ của chính quyền các cấp. Bên cạnh đó, tiếng Khmer được giảng dạy tại nhiều trường học ở khu vực có đông đồng bào Khmer sinh sống. Các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được quan tâm đẩy mạnh. Những thành tựu đó là minh chứng sống động, bác bỏ mọi cáo buộc vô căn cứ về việc “phân biệt đối xử” hay “đàn áp” đối với người Khmer Krom.

Cần khẳng định rõ rằng, không có bất kỳ cá nhân nào ở Việt Nam bị bắt giữ, xét xử chỉ vì thực hành tín ngưỡng, tham gia hoạt động tôn giáo hay thuộc một dân tộc thiểu số nào. Việc xử lý theo pháp luật chỉ được áp dụng đối với những đối tượng lợi dụng tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, kích động chia rẽ, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, cần được xử lý nghiêm minh để bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc và sự ổn định của xã hội.

Các thế lực thù địch cố tình đánh tráo bản chất giữa xử lý vi phạm pháp luật với đàn áp tôn giáo, giữa bảo vệ an ninh quốc gia với vi phạm nhân quyền. Chúng sử dụng chiêu bài “nhân quyền” như một công cụ chính trị để chống phá, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, gây mất niềm tin trong quần chúng Nhân dân. Đây là âm mưu lâu dài, được thực hiện bằng nhiều phương thức, từ truyền thông quốc tế, mạng xã hội cho đến các tổ chức phi chính phủ trá hình.

Trước những thủ đoạn thâm độc đó, chúng ta cần tỉnh táo, kiên quyết đấu tranh, vạch trần bản chất sai trái, phản động của các luận điệu xuyên tạc. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách dân tộc, tôn giáo và nhân quyền đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, làm cho Nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế hiểu rõ sự thật, củng cố niềm tin vào con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn.

Việt Nam kiên định mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo đảm tốt hơn các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật. Chúng ta sẵn sàng đối thoại, hợp tác quốc tế về nhân quyền trên tinh thần thiện chí, xây dựng và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời kiên quyết bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp nội bộ, phá hoại đoàn kết dân tộc và sự ổn định của đất nước.

Sự thật lịch sử và thực tiễn phát triển của Việt Nam là câu trả lời đanh thép nhất trước mọi sự vu khống, xuyên tạc. Chính sách dân tộc, tôn giáo, nhân quyền của Việt Nam là vì con người, vì sự phát triển bền vững và hạnh phúc của toàn thể cộng đồng các dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S thân yêu này./.
Khuyết danh ST.

ƯU ĐÃI NGÀNH MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CHIẾN LƯỢC, KHÔNG PHẢI “THIÊN VỊ” HAY “CHÀO MỜI”!

     Thời gian gần đây, một số trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra những luận điệu sai trái, cho rằng việc Nhà nước miễn học phí cho sinh viên theo học ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là biểu hiện của sự “thiên vị”, là một cách “chào mời” sinh viên vào một ngành học mà họ gọi là “khô khan, ít người lựa chọn”. Thực chất, đây là sự quy chụp, bóp méo, nhằm phủ nhận tính chính đáng và nhân văn của một chính sách quan trọng, đồng thời hạ thấp vai trò nền tảng tư tưởng của Đảng và công tác đào tạo cán bộ lý luận chính trị ở nước ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, chính sách miễn, giảm học phí hoặc hỗ trợ chi phí học tập không phải là điều xa lạ hay bất thường trong nền giáo dục Việt Nam. Nhiều năm qua, Nhà nước ta đã có các chính sách ưu đãi đối với sinh viên ngành sư phạm, y khoa, nông – lâm nghiệp, an ninh, quốc phòng… Lý do rất rõ ràng: đây là những ngành đặc thù, gắn với nhu cầu chiến lược của xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Vậy thì, tại sao việc miễn học phí cho ngành Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh lại bị gán ghép là “thiên vị”? Sự thật là, cũng như các ngành sư phạm hay y tế, đây là lĩnh vực cần được Nhà nước bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng, bởi nó trực tiếp phục vụ lợi ích chính trị - xã hội lâu dài.

Chính sách miễn học phí với sinh viên ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ yêu cầu khách quan. Đây là ngành khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu, giảng dạy, phát triển lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các thế lực thù địch không ngừng chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận chính trị lại càng trở nên cấp thiết. Đầu tư cho ngành học này chính là đầu tư cho sự vững mạnh của hệ thống chính trị, cho sự ổn định và phát triển của đất nước.

Luận điệu cho rằng ưu đãi học phí là “chào mời” sinh viên càng bộc lộ rõ sự ngụy biện. Học phí có thể là một yếu tố giảm bớt gánh nặng tài chính, nhưng không thể quyết định toàn bộ lựa chọn nghề nghiệp, con đường tương lai của một sinh viên. Nhiều bạn trẻ theo học ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải vì miễn phí, mà bởi đam mê nghiên cứu khoa học xã hội, bởi khát vọng cống hiến trong lĩnh vực giảng dạy, tuyên truyền, nghiên cứu lý luận chính trị. Chính sách miễn học phí ở đây chỉ đóng vai trò khuyến khích, động viên, tạo điều kiện thuận lợi, chứ tuyệt nhiên không phải là một “chiêu trò lôi kéo” như những luận điệu xuyên tạc rêu rao.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh không hề “khô khan” như những gì các thế lực thù địch cố tình gán ghép. Đây là ngành học nghiên cứu trực tiếp các quy luật phát triển của xã hội, của cách mạng Việt Nam, là cơ sở lý luận cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Sinh viên, giảng viên ngành này không chỉ tiếp cận tri thức lý luận mà còn gắn bó chặt chẽ với thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Sau khi tốt nghiệp, họ trở thành giảng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội. Đây là lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, có vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố niềm tin xã hội, định hướng dư luận.

Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng có chính sách tương tự để bảo đảm nguồn nhân lực cho những ngành học đặc thù. Ở một số nước phát triển, Nhà nước miễn hoặc giảm học phí đối với sinh viên ngành sư phạm, y khoa, khoa học cơ bản là những lĩnh vực ít người theo học nhưng có vai trò nền tảng với xã hội. Việt Nam cũng đang thực hiện theo logic này, phù hợp với điều kiện thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước. Chính sách miễn học phí cho ngành Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không có gì gọi là “thiên vị”, mà là một lựa chọn đúng đắn, khoa học, có tính chiến lược.

Việc cố tình xuyên tạc rằng ưu đãi này là “thiên vị”, “chào mời” sinh viên đã phơi bày rõ âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Họ không thực sự quan tâm đến công bằng trong chính sách học phí, mà chỉ muốn lợi dụng để công kích, hạ thấp nền tảng tư tưởng của Đảng, gieo rắc hoài nghi, làm lung lạc niềm tin của một bộ phận sinh viên và xã hội. Đây là chiêu bài quen thuộc: biến những chính sách đúng đắn thành “vấn đề gây tranh cãi”, từ đó kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Thực tế đã chứng minh, chính sách miễn học phí cho sinh viên ngành Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa kép: vừa nhân văn, vừa chiến lược. Nó giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho sinh viên, đồng thời bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cho mặt trận tư tưởng - lý luận. Chính sách này không hề thiên vị, mà tương tự như ưu đãi đối với các ngành sư phạm, y khoa, an ninh, quốc phòng. Đó là những chính sách cần thiết để bảo đảm cân đối nguồn nhân lực, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc./.
Khuyết danh ST.

ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY!

     Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội luôn giữ vai trò trung tâm trong thể chế hóa đường lối của Đảng, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và kiến tạo nền tảng pháp lý cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội là nhiệm vụ cấp thiết, yếu tố quyết định để phát huy trí tuệ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

1. Đổi mới và phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ trương chiến lược của Đảng, đòi hỏi tất yếu của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, như Nghị quyết số 27NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đã khẳng định(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quốc hội ta là Quốc hội của toàn dân, được bầu ra theo luật tuyển cử rất dân chủ: tự do, phổ thông, bỏ phiếu kín ... Vì vậy, Quốc hội ta là tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết của toàn dân, cho chí khí quật cường của dân tộc, cho quyết tâm độc lập, thống nhất của toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam”(2). Ngày nay với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, dân chủ và pháp quyền; kiến tạo nền tảng pháp lý cho toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của hệ thống pháp luật; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội không chỉ là yêu cầu khách quan của tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, mà còn là yếu tố then chốt bảo đảm cho sự phát triển bền vững, thực hiện tốt mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2- Trong thành tựu chung của đất nước ta qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, có sự đóng góp rất quan trọng của Quốc hội. Quốc hội phát huy rõ vai trò cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Kết quả cụ thể như sau:

Thứ nhất, về hoạt động lập pháp: Hoạt động lập pháp của Quốc hội không ngừng được đổi mới, nâng cao chất lượng, chủ động, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, bám sát yêu cầu của thực tiễn, phản ánh chân thực ý chí, nguyện vọng của cử tri và nhân dân; đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật, ban hành nhiều luật, pháp lệnh, nghị quyết quan trọng, tạo hành lang pháp lý đồng bộ và vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Các luật được ban hành ngày càng chất lượng, phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển chung. Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện ở hầu hết lĩnh vực trọng yếu, như về kinh tế có Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Luật Đất đai..., về xã hội có Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội..., về quốc phòng - an ninh có Luật Quốc phòng, Luật An ninh mạng..., về tư pháp có Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân..., về hành chính, đối ngoại có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Các dự án luật, pháp lệnh được chuẩn bị công phu, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của chuyên gia, nhà khoa học, cử tri và nhân dân. Quy trình xây dựng pháp luật được thực hiện ngày càng chặt chẽ, khoa học, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, khả thi. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội chú trọng, bảo đảm đồng bộ, thống nhất và minh bạch, qua đó giúp cử tri dễ dàng tiếp cận và giám sát. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được xây dựng, sửa đổi phù hợp thực tiễn Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. 

Thứ hai, chất lượng hoạt động giám sát tối cao, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực chất, thẳng thắn, tính xây dựng cao, nhiều vấn đề “nóng”, cử tri quan tâm được đưa ra nghị trường để các thành viên của Chính phủ, trưởng ngành giải trình và kịp thời đề ra giải pháp thực hiện. Sau giám sát, các nghị quyết được ban hành với yêu cầu cụ thể, có tính ràng buộc trách nhiệm cao. Chất lượng các kỳ họp Quốc hội được nâng cao; quy trình làm luật, thảo luận và biểu quyết dân chủ. Việc tổ chức và điều hành kỳ họp Quốc hội được tổ chức khoa học, linh hoạt. Các phiên thảo luận tổ và hội trường diễn ra sôi nổi, thẳng thắn, phát huy cao trí tuệ tập thể. Đại biểu Quốc hội không né tránh các vấn đề khó, phức tạp, thể hiện chính kiến rõ ràng và tranh luận để làm rõ các vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số là nguyên tắc hoạt động của Quốc hội, nhưng những ý kiến khác vẫn được lắng nghe, ghi nhận và cân nhắc thấu đáo trong quá trình hoàn thiện dự án luật, nghị quyết. Việc biểu quyết bằng hệ thống điện tử bảo đảm tính chính xác, minh bạch, công bố công khai, giúp cử tri giám sát được hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Thứ ba, về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước: Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng, tạo tiền đề để đất nước vươn mình trong thời gian tới. Nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, tạo đột phá để hoàn thiện hạ tầng, phát huy tối đa nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới, Quốc hội đã thảo luận và thông qua với tỷ lệ tán thành cao các nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam và các dự án trọng điểm của quốc gia; điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, bỏ cấp huyện, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp... Quốc hội đã thảo luận, thông qua nhiều cơ chế, chính sách khơi thông các “điểm nghẽn”, giải quyết kịp thời các vấn đề quốc kế dân sinh, tháo gỡ nhanh nhất khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, giải phóng nguồn lực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Thứ tư, về ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số: Thay đổi lớn trong phương thức hoạt động của Quốc hội là đẩy mạnh chuyển đổi số, thực hiện vai trò đại diện của nhân dân trên nền tảng số; đổi mới quy trình nghiệp vụ dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Hạ tầng công nghệ thông tin của Văn phòng Quốc hội đã phát huy hiệu quả phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã đi vào nền nếp. Các kho thông tin dữ liệu được xây dựng, thường xuyên cập nhật, bổ sung thông tin, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật. Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin được khai thác, sử dụng rộng rãi, hiệu quả, như phần mềm quản lý hồ sơ đại biểu Quốc hội; phần mềm quản lý hồ sơ cán bộ, công chức; hệ thống quản lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo; hệ thống quản lý công văn; cổng thông tin điện tử Quốc hội; hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến; trang thông tin trung tâm báo chí; trang thông tin bồi dưỡng đại biểu dân cử; trang bầu cử đại biểu Quốc hội; trang thông tin điện tử lấy ý kiến nhân dân; hệ thống thư viện số; ứng dụng cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội trên thiết bị di động... 

Thứ năm, việc lấy ý kiến nhân dân, đối tượng chịu sự tác động của luật ngày càng được coi trọng và thực hiện với nhiều hình thức thiết thực. Các dự án luật quan trọng được đưa ra thảo luận rộng rãi, tiếp thu ý kiến từ chuyên gia, nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân. Dự thảo luật, báo cáo thẩm tra, ý kiến của đại biểu Quốc hội và tài liệu liên quan được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức quan tâm theo dõi, giám sát. 

Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai hoạt động của Quốc hội vẫn còn một số khó khăn, hạn chế: 1- Trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật có mặt chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; một số quy định chưa thực sự đồng bộ, còn chồng chéo, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực; 2- Một số điều luật còn chung chung, dẫn đến cách diễn giải khác nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng và thi hành; 3- Tính dự báo chưa cao, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội dẫn đến có quy định trong một số văn bản luật vừa ban hành đã không còn phù hợp; 4- Việc tham vấn ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp, nhất là ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp có khi còn hình thức. Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, cơ quan liên quan chưa có sự phối hợp chặt chẽ, dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo hoặc gây khoảng trống pháp lý; 5- Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; tỷ lệ đại biểu chuyên trách chưa bảo đảm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của công tác lập pháp, như tính chủ động trong việc nêu ý kiến tại phiên họp, thời gian dành cho tiếp xúc cử tri; 6- Cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu để triển khai quy định mới, đặc biệt liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin; 7- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự hiệu quả, người dân, doanh nghiệp và ngay cả một bộ phận cán bộ thi hành công vụ chưa nắm vững, áp dụng nhuần nhuyễn quy định của luật mới. Điều này dẫn đến việc e ngại khi áp dụng, thậm chí thực hiện không đầy đủ; 8- Một số cơ quan, địa phương chưa chủ động, sáng tạo, thiếu quyết liệt trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thi hành luật; 9- Công tác kiểm tra, giám sát thi hành chưa thường xuyên, chưa đủ mạnh, việc phát hiện và xử lý vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành luật còn chậm. Hành vi vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời... Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của thực tiễn, nhất là trong những năm gần đây là một áp lực đối với quá trình điều chỉnh của pháp luật.

Những hạn chế nêu trên cần đề ra các giải pháp, không để cản trở phát triển, gây lãng phí, lỡ thời cơ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trọng trách rất lớn thuộc Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và của Chính phủ(3). Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần đề ra các giải pháp đồng bộ từ khâu xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, ban hành luật đến tổ chức thi hành, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật.

3- Đất nước ta đang chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, với tinh thần mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đòi hỏi cấp thiết, Quốc hội cần chú trọng thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Một là, tiếp tục quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; phát biểu định hướng của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên Khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV về đổi mới công tác lập pháp, thực hiện tốt hơn nữa đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội.

Hai là, đổi mới tư duy và cách tiếp cận trong hoạt động lập pháp. Cần chuyển từ tư duy ban hành pháp luật theo nhiệm kỳ sang tư duy lập pháp dài hạn, ổn định, gắn với chiến lược phát triển đất nước, hoàn thiện quy trình lập pháp đa chiều, mở rộng đối tượng tham vấn, lấy ý kiến từ nhiều tầng lớp xã hội trước khi thông qua; đồng thời nâng cao vai trò phản biện xã hội và góp ý của chuyên gia đối với dự thảo luật.

Ba là, đổi mới phương thức giám sát tối cao, thiết lập cơ chế giám sát liên tục, chuyên sâu, gia tăng hậu kiểm, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kết quả giám sát và thực hiện nghị quyết của Quốc hội; tăng cường giám sát đối với việc thực thi pháp luật và trách nhiệm người đứng đầu; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, hiện đại; đổi mới quy trình xây dựng pháp luật thông qua quá trình tăng cường tham vấn chuyên gia, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và quần chúng nhân dân; tăng cường tính phản biện và tranh luận tại nghị trường; xây dựng cơ chế giám sát có tính ràng buộc và hậu kiểm rõ ràng, bảo đảm sau giám sát phải có kiến nghị cụ thể, phân công trách nhiệm, kiểm tra kết quả thực hiện, tăng cường hình thức giám sát chuyên đề, giám sát trực tiếp tại địa phương, cơ sở, sử dụng hệ thống dữ liệu điện tử để kiểm tra hiệu quả việc thực hiện luật và chính sách; phát huy rõ hơn vai trò đại biểu chuyên trách, tham vấn chuyên gia, nhà khoa học.

Bốn là, đổi mới hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; nâng cao năng lực phân tích, đánh giá, dự báo của các cơ quan giúp việc của Quốc hội; thiết lập cơ chế đánh giá tác động chính sách trước và sau khi quyết định chủ trương lớn của đất nước; tăng cường tính minh bạch trong thảo luận, biểu quyết các vấn đề lớn như ngân sách, đầu tư công, điều ước quốc tế; phát huy vai trò các Ủy ban của Quốc hội, bảo đảm mỗi vấn đề đưa ra Quốc hội đều được thảo luận, tranh luận và thẩm tra kỹ lưỡng từ nhiều chiều.

Năm là, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách để bảo đảm chuyên môn hóa cao. Bên cạnh đó cần đào tạo bài bản, cập nhật kiến thức pháp lý, đối ngoại của Quốc hội, tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghị trường; đặc biệt với đại biểu lần đầu trúng cử, cần có chương trình tập huấn chuyên sâu; đổi mới công tác tiếp xúc cử tri, tiếp nhận và phản ánh ý kiến cử tri... nâng cao tính chuyên nghiệp, sâu sắc trong nghiên cứu, xây dựng pháp luật và giám sát.

Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động Quốc hội, như xây dựng và phát triển Quốc hội số, số hóa quy trình lập pháp, giám sát tối cao, tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong xây dựng, giám sát chính sách, tăng cường tương tác với người dân, cử tri thông qua nền tảng trực tuyến, mạng xã hội, diễn đàn nghị trường mở, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong điều hành, lập pháp, giám sát, xây dựng kỳ họp chuyên đề, có cơ chế thông tin để cử tri giám sát./.
-------------------------
(1) Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết số 27NQ/TW, ngày 9-11-2022 là: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045”
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 464
(3) Xem: “Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên Khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV”, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-taiphien-khai-mac-ky-hop-thu-8-quoc-hoi-khoa-xv119241021113227895.htm./.
Ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thăm Trung tâm phục vụ hành chính công xã Vị Thuỷ, thành phố Cần Thơ sau khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
Yêu nước ST.