Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ CUỘC CHIẾN NGA - UCRAINA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở VIỆT NAM


          Nga đã phát động cuộc chiến với danh nghĩa phòng thủ từ xa , ngăn không cho Ucraina gia nhập Nato phi quân sự hoá và chống phát xít hoá Ucraina như lời Tổng Thống Nga Putin.

          Từ cuộc chiến tranh này có thể rút ra nhiều vấn đề về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của chúng ta .

          Ucraina là một nước nhỏ bên cạnh nước láng giềng bà con gần gũi là Nga ( gần tương tự về mặt địa lý như nước ta với Trung Quốc ) vốn được khôi phục và ra đời từ cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga. Là một trong những nước Cộng hoà đầu tiên tham gia hình thành Liên bang Xô viết ( có truyền thống gắn bó với dân tộc Nga ). Sau khi Liên Xô tan rã Ucraina cùng Nga và 10 nước thuộc Liên Xô đã tuyên bố độc lập. Sau nhiều lần nghiêng ngã lúc thân Nga lúc thân phương Tây qua các nhiệm kỳ bầu cử, đã làm cho Ucraina ngày càng thụt lùi về kinh tế xã hội, từ một trong những nước phát triển nhất của Liên Xô nhưng sau cuộc “ Cách mạng Màu “đất nước chia cắt bị Nga thu hồi Crưm và hình thành hai vùng ly khai đòi độc lập Donnhetxke và Luganxke, nền kinh tế Ucraina ngày càng sa sút và trở thành nước nghèo nhất châu Âu như hiện nay. Đã thế vì sức ép của Mỹ Tổng thống Zelenxki không chịu thực hiện thỏa thuận Noocmandi tìm biện pháp hoà bình thống nhất đất nước mà đẩy mạnh xây dựng quân đội, phát triển quân sự với ý định gia nhập Nato dựa vào Mỹ để thu hồi các vùng đã mất và ly khai, đối đầu chống Nga, cùng Mỹ bao vây kiềm chế làm suy yếu nước Nga. Một chính quyền chấp nhận phụ thuộc Mỹ đã đẩy Ucraina đến hoàn cảnh như hiện nay.

          Với Nga hay bất cứ nước nào như Nga cũng không thể chấp nhận một nước láng giềng gần gũi cùng chung biên giới quay lưng cùng các nước khác chống mình , đặc biệt Nga càng không thể bị nhiều lần phản bội nên họ cần có biện pháp ngăn chặn xoá bỏ nguy cơ đưa chiến tranh đến với nước mình .

          Từ nguy cơ trên Nga đã phát động chiến dịch Quân sự đặc biệt nhằm chống quân sự hóa và phát xít hoá ở Ucraina, với mục tiêu này ngày 24/2 Nga đã tiến công Ucraina như chúng ta đã biết.

          Từ tình hình trên ta có thể nhận định Mỹ - Nato sẽ không vì Ucraina mà trực tiếp đối đầu cuộc chiến với Nga, họ sẽ vì họ mà xúi giục Ucraina chống Nga đến người Ucraina cuối cùng . Một chính quyền phụ thuộc ngoại bang thì tất yếu quân đội của nó dù có trang bị vũ khí hiện đại đến đâu cũng không có sức mạnh chiến đấu đủ sức đương đầu với Quân đội Nga hiện nay, sớm muộn Ucraina trước nguy cơ thất bại hoàn toàn sẽ phải đề nghị Nga ngừng bắn và chấp nhận những điều kiện của Nga như đã từng xảy ra ở Gruzia .

          Qua cuộc chiến này bài học đầu tiên với nước ta là về đối ngoại phải hết sức khôn khéo giữ vững độc lập tự chủ nhưng luôn mềm dẻo về sách lược để gìn giữ môi trường hoà bình ổn định để phát triển.

          Thứ hai là phải cân bằng các mối quan hệ với các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Mỹ, luôn thể hiện Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước “vượt qua khác biệt, bất đồng; phát huy tương đồng; hướng tới tương lai “ chung tay gìn giữ hoà bình ổn định khu vực và thế giới.

          Thứ ba là đẩy mạnh phát triển kinh tế, chăm lo củng cố quốc phòng an ninh; tạo nên sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc và khả năng răn đe chiến tranh (để bất cứ thế lực thù địch nào khi nghĩ đến xâm lược nước ta phải nghĩ đến sức mạnh Quốc phòng của Việt Nam).

          Thứ tư là phải giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội của đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, xoá đói giảm nghèo đi đến xoá nghèo, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh , hiện đại .

          Từ những bài học trên ta càng thấy đường lối phát triển của đất nước ta do Đại hội Đảng XIII xác định là hoàn toàn đúng đắn nhất là đường lối đối ngoại Độc lập, tự chủ, hội nhập và phát triển, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước và các tổ chức quốc tế, kiên trì đấu tranh giữ vững hoà bình ổn định trong khu vực, không tham gia liên minh Quân sự, không để nước ngoài xây dựng căn cứ Quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, không dựa vào nước này để chống nước khác và không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế ; từ đó chúng ta bác bỏ những quan điểm, tư tưởng núp dưới danh nghĩa yêu nước đòi phải dựa vào nước này, nước khác để bảo vệ Tổ quốc là sai trái cần phải đấu tranh loại bỏ.

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG CHIẾN SỰ NGA – UKRAINE ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM


          Những ngay qua liên quan chiến sự giữa Nga – Ukraine được người dân trên cả thế giới đặc biệt quan tâm, trong đó cũng có nhiều cộng đoàn, tín hữu Người Công giáo trên toàn thế giới cũng đã tổ chức cầu nguyện cho sự bình an, cho giải pháp hòa bình để không để xảy ra cuộc chiến đẫm máu của những dân chúng của các quốc gia. Ở Việt Nam, liên quan đến chiến sự giữa Nga – Ukraine cũng đã được người dân, cộng đồng mạng xã hội và các tờ báo chính thống cập nhật, đăng tải với tốc độ chóng mặt để giúp truyền tải những thông điệp, những thông tin cập nhật nhất đến với độc giả và người dân trên mọi miền Tổ quốc. Vậy nhưng lợi dụng chiến sự giữa Nga – Ukraine đang là tâm điểm của thế giới và đang trong thời điểm “nóng” nhất này, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí lại cố tình thực hiện chiêu trò "thọc gậy bánh xe” lợi dụng chiến sự này để xuyên tạc, chống phá Việt Nam, vu cáo, kích động về đường lối đối ngoại của Việt Nam về vấn đề này.

          Điển hình như trên facebook cá nhân của anh Lê Công Định, được biết đến là nhân danh là luật sư, đã từng bị xử lý về các hoạt động tuyên truyền chống phá Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đăng tải thông tin cho rằng “Vì sao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, nhưng lại ngần ngại lên án cuộc xâm lược phi pháp của Nga vào Ukraine? Tiêu chuẩn kép chăng?” hay trang “Việt Tân”- một tổ chức được Bộ Công an đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố cũng đã đăng tải bài viết “lãnh đạo xứ ta làm nhục đất nước ta” kèm theo hình ảnh để xuyên tạc về quan điểm của Việt Nam về chiến sự Nga – Ukraine. Thậm chí nhiều kẻ lại đi so sánh cuộc chiến Nga-Ukraine và áp đặt vào Trung Quốc và Việt Nam. Đó là những luận điệu hoàn toàn xuyên tạc, vu cáo về quan điểm, đường lối đối ngoại của Việt Nam.

          Đối với chiến sự về vấn đề xung đột tại Ukraine, như thông tin đã được truyền thông, báo chí của Nhà nước đã đăng tải, ngày 25/2/2022, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thu Hằng đã kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc, không sử dụng vũ lực, tiếp tục đối thoại tìm kiếm giải pháp hoà bình, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên toàn thế giới. Thực tế trong quá trình dựng nước, giữ nước, Việt Nam đã kiên định con đường độc lập, tự chủ, không liên minh, liên kết với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào để chống lại quốc gia nào và không có một quốc gia nào có thể điều khiển dược ý chí của dân tộc Việt Nam theo hướng hay ý đồ của họ. Lợi ích quốc gia, dân tộc là mãi mãi.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, chính nhờ dựa vào sức mình là chính, kết thành sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta đã đánh bại những đế quốc, thực dân sừng sỏ nhất thế giới để bảo vệ hòa bình, độc lập cho dân tộc Việt Nam. Bây giờ, nhìn vào Ukraine khi lãnh đạo đất nước đã ảo tưởng đi cầu vọng các nước ngoại bang để chống Nga, đã biến từ một nước xinh đẹp trở nên tan hoang, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Người. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã từng nói rằng; “Đừng tưởng lờ Cuba đi mà người Mỹ sẽ tốt với chúng ta. Đừng tưởng căng với Trung Quốc sẽ lấy được lòng người Mỹ. Cũng đừng tưởng đóng cửa với Mỹ thì Trung Quốc sẽ nhẹ giọng với mình.”

          Việt Nam không theo Trung Quốc để chống Mỹ, không theo Mỹ chống Trung Quốc. Chơi được với cả Nga, Trung, Ấn, Mỹ, châu Âu và đặc biệt chúng ta là một trong những quốc gia hiếm hoi có mối quan hệ thân thiết với cả Triều Tiên - Hàn Quốc và Nhật Bản... Việt Nam - Trung Quốc có lịch sử riêng biệt, cả cương vực, lãnh thổ và nguồn gốc khác nhau. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đơn thuần là quan hệ láng giềng nhưng phân biệt rạch ròi kiểu "sông núi nước Nam, Vua Nam ở" và ngược lại. Vậy nên đừng có lấy Nga, Ukraine để ứng với mối quan hệ Việt - Trung. Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, miễn là tôn trọng độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ, tôn"Việt Tân" hay anh Lê Công Định cũng đừng chơ trò "thọc gậy bánh xe" nữa.

 

VIỆT TÂN: CỐ ĐẤM ĂN XÔI ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO CHÂU VĂN KHẢM

 

      Thời gian gần đây, tổ chức phản động Việt Tân tại Úc liên tục kêu gọi người biểu tình tại một số địa điểm công cộng đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm. Thậm chí số này còn đưa ra những yêu sách đối với một số dân biểu, quan chức ở Úc gây áp lực để Việt Nam phóng thích vô điều kiện cho Khảm trở về Úc.

        Dù biểu tình liên tục nhưng thật nực cười khi chúng lấy lý do đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm vô căn cứ và hoàn toàn không thuyết phục chút nào rằng: Khảm bị bắt vì tìm hiểu vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hay Khảm bị bắt vì “yêu quê hương”… Thực tế sẽ chẳng có ai bị bắt vì những lý do như vậy, rõ ràng những người này đang tìm cách phớt lờ “bản chất” việc Khảm vi phạm pháp luật, bị bắt và xét xử ở Việt Nam.

        Châu Văn Khảm là thành viên của tổ chức phản động Việt Tân nên tổ chức này luôn ráo riết, tìm mọi cách để “đánh tráo” bản chất hành vi phạm tội của Khảm để gây sức ép đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm - công dân của Úc. Tuy nhiên, dù bao biện cho hành vi của Châu Văn Khảm và vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhưng tội trạng của Châu Văn Khảm vốn không thể thay đổi.

        Mục đích của Châu Văn Khảm khi vào Việt Nam đã thể hiện ngay từ khi Khảm tìm cách nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua biên giới Campuchia – Việt Nam bằng giấy tờ giả. Tại Việt Nam, Châu Văn Khảm đã lôi kéo, kết nạp một số người vào tổ chức phản động Việt Tân và đã đưa tiền, huấn luyện, giao nhiệm vụ cho những người này hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân.

          Châu Văn Khảm không phải là thành viên đầu tiên của Việt Tân tìm cách xâm nhập vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Và rõ ràng với những hành vi vi phạm pháp luật như vậy thì không thể bao biện, lấp liếm cho đó là vì dân chủ, nhân quyền. Và chắc chắn một điều rằng, những hành vi vi phạm pháp luật, móc nối lôi kéo chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thì sẽ bị nghiêm trị và không thể dung thứ.

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁU VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, có vai trò quyết định thành công của cách mạng

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc... để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta cần đoàn kết để xây dựng nước nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc muốn mở rộng và phát triển thì cần phải có một hình thức tổ chức, đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đoàn kết mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nam nữ, lứa tuổi… nhưng không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi đó là một nguyên tắc có ý nghĩa như là một quy luật để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin mới đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

3. Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; đồng thời quan tâm đến quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - thực hiện đại đoàn kết trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động. Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc thì lợi ích tối thượng chung là giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nếu không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam; giữa cải thiện đời sống của nhân dân lao động với việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và cải tạo đối với giai cấp tư sản dân tộc. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp lúc đó, để khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, mặt trận dân tộc thống nhất phải được mở rộng, Đảng đã nêu nguyên tắc tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ, giàu mạnh, coi đó là mẫu số chung để thực hiện đoàn kết dân tộc.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu đó cũng chính là đích đến quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho thấy sự hòa quyện giữa Ý Đảng - Lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

4. Phát huy vai trò, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu.

HAIVAN

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA MỌI THÀNH CÔNG

 

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn.

Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.

Chỉ thị số 17-CT/TW của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Mặt trận, đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, có ý nghĩa thiết thực đối với việc tạo ra sức mạnh nội sinh để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; tạo điều kiện, tiền đề để phá bỏ bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội kịp thời có chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với mọi lực lượng nhân dân tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần động viên Nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế, thắt chặt mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới, cao hơn, sâu sắc hơn.

Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Những thành tựu này đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN VÀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là “nền gốc” của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo cuả Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: (1) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; (2) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”. Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

PHÁT HUY TINH THẦN YÊU NƯỚC CỦA THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TRONG TÁC ĐỘNG DỊCH COVID-19 HIỆN NAY

 

          Thanh niên Quân đội là lực lượng đông đảo, là lớp kế cận trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới nói chung và nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 nói riêng. Phát huy tinh thần yêu nước của thanh niên quân đội trong tác động dịch Covid-19 hiện nay là một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụ quan trong, cấp bách.

          Thời gian qua, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống xã hội nước ta. Nhưng nhờ sự ưu việt của chế độ XHCN, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chúng ta đã từng bước kiểm soát thành công đại dịch Covid-19; từng bước phục hồi sản xuất - kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội; ổn định đời sống Nhân dân. Những kết quả đó đã góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, khẳng định bản lĩnh, ý chí, truyền thống tốt đẹp của Nhân dân ta, dân tộc ta. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng cũng đã hoàn thiện quan điểm về động lực phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đó là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” .

          Tinh thần yêu nước là một giá trị truyền thống cao quý của dân tộc Việt Nam, là thành tố rất quan trọng, có vai trò quyết định sức mạnh dựng nước và giữ nước của Nhân dân ta. Cùng với các lực lượng khác, thanh niên quân đội (TNQĐ) là lực lượng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trong lịch sử các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, các thế hệ TNQĐ đã anh dũng chiến đấu, cùng toàn Dân, toàn quân lập nên những chiến công oanh liệt, góp phần làm rạng rỡ hình ảnh bộ đội Cụ Hồ. Ngày nay, trong “trận chiến” với đại dịch Covid-19, TNQĐ tiếp tục là lực lượng xung kích, nòng cốt trong mọi hoạt động của Quân đội: xây dựng tinh thần yêu nước, phát huy chủ nghĩa yêu nước, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác dân vận, lao động sản xuất, giúp dân phòng chống thiên tai, dịch bệnh...

          Tuy nhiên, hoạt động phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: nhận thức, trách nhiệm của một số chủ thể về phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 có lúc chưa đầy đủ, chưa thường xuyên, liên tục; nội dung, hình thức, phương pháp phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ ở một số thời điểm chưa gắn với đặc điểm, nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị và từng đối tượng; tính tích cực, tự giác của một số TNQĐ trong phát huy tinh thần yêu nước có lúc còn chưa cao… Những hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Vì vậy, để phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay, cần tập trung thực hiện một số biện pháp cơ bản sau:

          Tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay

          Đối với các cấp ủy, tổ chức đảng: Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất mọi hoạt động phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ thông qua các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn... của cấp ủy. Ban hành các nghị quyết chuyên đề và tổ chức quán triệt thực hiện nghị quyết để các chủ thể nhận thức đầy đủ về việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

          Đối với hệ thống chỉ huy: Chỉ huy các cấp là trung tâm quản lý, chỉ đạo, điều hành sự phối hợp giữa các chủ thể về việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay. Cần xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động chặt chẽ, thống nhất giữa các chủ thể để tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch đã đề ra. Kế hoạch cần xác định rõ nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp phát huy; quy định phạm vi, chức năng, nhiệm vụ và cách thức, biện pháp phối hợp giữa các chủ thể; xác định rõ quyền lợi gắn với thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của từng chủ thể. Tổ chức hội nghị quán triệt, giao nhiệm vụ và triển khai kế hoạch cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân thực hiện một cách thống nhất, khoa học và hiệu quả. Tổ chức hội nghị sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể, kịp thời bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế phối hợp trong việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

          Đối với cơ quan chính trị: Cơ quan chính trị là cơ quan tham mưu cho cấp uỷ, chỉ huy các cấp và đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị của các đơn vị trong toàn quân. Hoạt động của cơ quan chính trị ở các cấp góp phần rất quan trọng để phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay. Vì vậy, muốn quá trình phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ đạt hiệu quả thì cơ quan chính trị phải bám sát chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ và kế hoạch của chỉ huy các cấp để lập kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị. Tăng cường công tác chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị cấp trên của đơn vị, đoàn thể, kịp thời uốn nắn, nhắc nhở việc nhận thức, tư tưởng hành động và kết quả tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của người quân nhân cách mạng, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19.

          Đối với tổ chức đoàn thanh niên: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh được xem là trường học XHCN, là tổ chức quần chúng ở đơn vị, nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi hoạt động của đơn vị, rèn luyện và nâng cao kỹ năng sống cho TNQĐ. Vì vậy tổ chức đoàn cần chú trọng giáo dục truyền thống, mục tiêu, lý tưởng, ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, bồi dưỡng lòng yêu nước và thái độ trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ cho đoàn viên, thanh niên. Giáo dục chính trị phải gắn liền với giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật và kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; chú trọng đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong TNQĐ. Tăng cường công tác giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; bồi dưỡng, xây dựng nhân cách, lối sống lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật, gương mẫu; cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; nhận rõ đối tượng và đối tác… Thông qua đó sẽ nâng cao nhận thức, trách nhiệm phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

          Đối với TNQĐ: Cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và sự cần thiết phải phát huy tinh thần yêu nước của mình trong tác động dịch Covid-19 hiện nay. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, luôn đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải tiến hành thường xuyên, liên tục, thiết thực, hiệu quả. Thông qua giáo dục nhằm xây dựng cho TNQĐ ở các đơn vị giàu lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và lối sống đẹp; có ước mơ, hoài bão, khát vọng xây dựng quân đội, xây dựng đất nước; nâng cao nhận thức của TNQĐ về mối quan hệ giữa phát huy tinh thần yêu nước với thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19.

 

VUN ĐẮP TÌNH ĐOÀN KẾT, YÊU THƯƠNG ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI


          Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) nhấn mạnh một đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đó là: Chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt...

          Hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta chứng kiến biết bao câu chuyện cảm động về tình đồng chí, đồng đội. Sự đoàn kết, yêu thương ấy được hình thành dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, gắn bó chặt chẽ “lúc thường cũng như lúc ra trận”; giữa những con người, tuy không cùng quê quán, khác xa nhau về tập quán, vùng, miền nhưng cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng-một nhiệm vụ hết sức nặng nề, rất đỗi vinh quang và cao quý: Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Do đó, những người chiến sĩ coi nhau như ruột thịt, cùng sẻ chia cho nhau bao hiểm nguy, gian khó, thậm chí hy sinh cả mạng sống để bảo vệ nhau. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hiện nay, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, đã xuất hiện một vài tập thể, cá nhân trong quân đội vì lý do nào đó đã xem nhẹ tình đồng chí, đồng đội. Từ những vụ việc mang tính cá biệt, có người bi quan cho rằng: Trong hòa bình, giữa những người quân nhân cách mạng không còn tình đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội như trước nữa. Và họ lý giải, chỉ trong sự khốc liệt của chiến tranh mới có tình đồng chí.

          Trước hết, phải khẳng định rằng, trong hoàn cảnh đấu tranh cách mạng gian khổ trước đây, những người chiến sĩ dễ có điều kiện biểu lộ tình thương yêu đồng chí, đồng đội một cách sâu sắc, chân thành hơn. Và đúng là trong thời gian gần đây như Nghị quyết 847 nhận định: Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

          Chúng ta cần nghiêm khắc phê phán và kiên quyết đấu tranh chống những hiện tượng không lành mạnh đó, nhằm phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, với thành tựu của hơn 35 năm đổi mới, "đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", trách nhiệm thiêng liêng của những người quân nhân cách mạng là phải giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

          Để giữ gìn, vun đắp tình đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội trong mỗi cơ quan, đơn vị, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải có những biện pháp tích cực, phù hợp, hiệu quả trong giáo dục, bồi đắp lý tưởng cách mạng, lý tưởng sống cho cán bộ, chiến sĩ thông qua giáo dục truyền thống kết hợp với tập trung xây dựng môi trường sống nhân văn, lành mạnh, có tính kỷ luật cao trong đơn vị.

          Với mỗi quân nhân dù là cán bộ, đảng viên hay quần chúng cũng phải luôn luôn thương yêu, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ, với một tình cảm trong sáng, chân thành, tôn trọng, quan tâm, thông cảm lẫn nhau, khiêm tốn, nhường nhịn nhau. Dẫu biết rằng mỗi cán bộ, đảng viên đều có cương vị, nhiệm vụ công tác riêng, có gia đình và phải quan tâm đến gia đình, nhưng không phải vì thế mà không quan tâm đến các đồng chí của mình. Truyền thống của dân tộc Việt Nam là "thương người như thể thương thân", “lá lành đùm lá rách", đối xử với nhau có nghĩa, có tình, "mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Những quân nhân yêu thương nhân dân, gắn bó với nhân dân đồng thời càng yêu thương, gắn bó với đồng chí, đồng đội; lấy niềm vui, hạnh phúc của đồng chí làm hạnh phúc của mình.

          Thương yêu đồng chí, đồng đội không đồng nhất với việc bao che, tha thứ lỗi lầm, khuyết điểm của đồng đội mình; trái lại, phải thường xuyên giúp đỡ đồng chí, đồng đội giữ vững phẩm chất cách mạng và nâng cao không ngừng trình độ hiểu biết và năng lực công tác. Với vũ khí tự phê bình và phê bình, người quân nhân cách mạng bình tĩnh soi xét kỹ mình, đồng thời thật sự chân thành chỉ ra cho đồng chí, đồng đội những khuyết điểm, thiếu sót với tình thương yêu thật sự, để giúp đồng đội sửa chữa và tiến bộ, không đao to búa lớn, trù dập nhau, nhưng cũng không dung túng, bao che khuyết điểm của đồng đội. Nếu nể nang, né tránh, hoặc vì lý do nào đó mà không nghiêm khắc với khuyết điểm của đồng đội là làm hại đồng đội, đẩy đồng đội vào sự sa ngã tội lỗi; như thế không phải là thương yêu đồng chí, đồng đội một cách đúng đắn, không phải là một người quân nhân cách mạng chân chính.

          Đối với cán bộ các cấp, đặc biệt là cán bộ chủ trì ở từng cơ quan, đơn vị, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực sự là hạt nhân đoàn kết; phải thực sự là tấm gương trong phát huy truyền thống, sống có tình thương, giữ vững kỷ cương, đề cao trách nhiệm để xây dựng tình đồng chí, đồng đội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ phải làm gương cho chiến sĩ, không loại trừ ở cấp chức nào. Người chỉ rõ: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.

          Song song với đó, cần giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng quyền và nghĩa vụ của quân nhân; chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quy chụp, áp đặt ý kiến cá nhân, thành kiến, trù dập hoặc ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”, đặc biệt với những nhận thức và hành động sai trái không chỉ trong sinh hoạt đảng, đoàn và các tổ chức quần chúng khác mà cả trong đời sống thường nhật. Cấp ủy, tổ chức đảng; cơ quan, đơn vị các cấp không ngừng tăng cường các biện pháp dự báo, phân tích, đánh giá, giải quyết để quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng của bộ đội; thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, nhạy bén phát hiện các biểu hiện mất đoàn kết, cục bộ, bè cánh; kịp thời báo cáo theo phân cấp, xử lý thỏa đáng, triệt để những nảy sinh trong mỗi cơ quan, đơn vị.

          Để xây dựng, vun đắp tình đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội-mối tình cảm thiêng liêng ngày càng keo sơn, mỗi người quân nhân cách mạng cần xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mình để ứng xử, giải quyết các mối quan hệ cho thấu đáo, có lý, hợp tình, vun đắp tình đoàn kết, yêu thương như anh em ruột thịt; cùng nhau vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Qua đó, tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội, các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; quân đội vững mạnh về chính trị; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

 

BỌN PHẢN ĐỘNG MUỐM CHIẾM TRUYỀN THÔNG NHẤT LÀ ĐÀI TRUYỀN HÌNH VTV NHỮNG SAI SÓT ĐỘC HẠI CỦA ĐÀI VTV THUỘC VỀ AI!

         Muốn lật đổ được chế độ thì việc làm nhanh nhất là phải chiếm được truyền thông việc cần thiết nhất là chiếm được đài truyền hình. Vậy Việt Nam thì sao. Bọn phản động chúng đã chui cao leo sâu vào truyền thông nhất là vtv. Chúng đưa hình ảnh con điếm thổi trần Lệ Xuân lên làm nét đẹp tà áo dài Việt Nam. Con điếm thổi trần Lệ Xuân là đại diện cho chế độ độc tài tay sai bán nước ngô đình diêm chúng lê máy chém với khẩu hiệu (giết nhầm còn hơn bỏ sót).

  Đầu xuân đưa ca nhạc mặc áo dài màu vàng 3///. Màu vàng 3/// là lá cờ độc ác tàn bạo đưa của chế độ ngụy tay sai bán nước do Mỹ dựng lên. Vtv đưa hoàng duy hùng một tên chóng cộng cực đoan được tay thanh sơn lang sê. Đưa thằng trần siêu vừa ngu vừa dốt ủng hộ cho bộ sử bỏ chữ ngụy hay vừa rồi đưa con hồng thái hoàng một con phản động có hạng . Việt Nam rất nhiều gương người tốt việc tốt sao không đưa lên lại đưa những thành phần bất hảo vô đạo đức chống phá nhà nước. Rồi chúng còn đưa những người dân đấu tranh với bọn lật sử gạch chéo mặt cụ thể như trần ngơ Bùi Tiến Lợi. Đại tá Nguyễn văn minh nhà báo còn chửi người dân yêu nước là tâm thần là đàn cún...   

Truyền hình vtv từ ngày xưa chúng tôi yêu quí và trân trọng nhưng đến bây giờ đã mất niềm tin của người dân. Đài truyền hình hình là của một đất nước nhà nước phải quản lý độc quyền không được cổ phần hóa làm lợi cho lợi ích nhóm và làm hại đến đất nước đến quốc gia. Chúng tôi khẩn cầu đề nghị Nhà nước lắng nghe ý kiến người dân khi chưa muốm. Đảng cộng sản Việt Nam lấy Liên Xô làm bài học kinh nghiệm xương máu. Bọn phản động đang áp dụng sự sụp đổ của Liên Xô vào Việt Nam. Trong thời gian vừa qua ngành truyền thông mất uy tín với nhân dân nhất là những cái sai của vtv ai chịu trách nhiệm./.


Môi Trường ST.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

 

          Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

          Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

          Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

          Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

          Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

          Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 – 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

          Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

          Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.