Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẦN CÓ TÁC PHONG CÔNG TÁC KHOA HỌC

 


Trong tình hình hiện nay, để xây dựng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị có phẩm chất năng lực, có phương pháp tác phong công tác khoa học, cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát, dân chủ, Cần thực hiện tốt một số biện pháp sau đây:

Phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của đảng đối với quân đội. Đây là biện pháp hàng đầu, có ý nghĩa pháp lý và nguyên tắc về xây dựng và phát huy vai trò người cán bộ chính trị, bảo đảm cho đảng lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Những vấn để cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo hiện nay là phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn nữa chức năng, chức trách phạm vi, quyền hạn của tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy và bộ máy công tác đảng, công tác chính trị cần phải cụ thề hoá hơn nữa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là trong công tác cán bộ, trong các quyết định về kinh tế, tài chính, trong quản lý hành chính.

Cơ chế lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc, chế độ quy định hoạt động của hệ thống ấy để thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mội mặt của đảng đối với quân đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống.

Đổi mới hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội thực chất là tiến hành những bổ sung, điều chỉnh, thay đổi cần thiết, hợp quy luật để tối ưu hoá việc tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trên cơ sở nhận thức đầy đủ, đúng đắn các quy luật khách quan và thực tiễn của hoạt động lãnh đạo.

 Phát hiện ra và khắc phục cho được những bất cập nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện sự lãnh đạo để giữ vững và tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tránh chủ quan, bảo thủ, chống ách tắc, trì chệ dẫn đến làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo.

 

 

 

TIÊU CHUẨN VỀ CÁN BỘ CÁCH MẠNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Tiêu chuẩn chung của cán bộ trong thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng, trước hết là, phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Các tiêu chuẩn có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc.

Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ. Có kiến thức về khoa học lãnh đạo quản lý. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể cần học tập có hệ thống ở các trường của Đảng; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả.

Đảng ta chủ trương quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý phải thể hiện được sự kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp, kiện toàn cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hai mặt này gắn bó khăng khít với nhau. Có tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt của cán bộ thì mới có thể sắp xếp, kiện toàn cán bộ đủ sức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức.

Trước những nhiệm vụ cách mạng nặng nề, công tác quản lý cán bộ ngày nay đã trở nên vô cùng rộng lớn về quy mô, phong phú về nội dung. Đảng đã vạch rõ nhiệm vụ, phương hướng của công tác cán bộ, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn mới. Nội dung công tác cán bộ được cụ thể hóa trong những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đang tạo ra động lực to lớn trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

 

 

CẦN NHÌN NHẬN ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN CỦA CƠ QUAN NGOẠI GIAO NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

 


 

Ngày 18/2, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin.

        Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, được triển khai thực hiện trong thực tế và được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam trong thời gian qua. Phạm Thị Đoan Trang bị bắt giữ và xét xử do có những hành động vi phạm pháp luật nhiều lần, nghiêm trọng, liên hệ với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm trái phép có nội dung tuyên truyền, hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam” – bà Phạm Thu Hằng nêu rõ. Liên quan việc Phạm Thị Đoan Trang bị xét xử theo pháp luật Việt Nam, hôm 14/12/2021, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price cũng ra “tuyên bố báo chí”, lên án và kêu gọi trả tự do cho Phạm Thị Đoan Trang. Trong tuyên bố còn cho rằng, hành vi phạm pháp của Trang thể hiện “nỗ lực thúc đẩy nhân quyền và quản trị tốt ở Việt Nam”.  Trong khi đó, một số tổ chức lấy mác “quốc tế” cũng đưa ra các “giải thưởng nhân quyền” và nhắm vào Phạm Thị Đoan Trang để tô vẽ hình tượng, trao giải.

Ngày 19/1/2022, tại Genève, Thụy Sĩ, giải thưởng nhân quyền có tên Martin Ennals cũng ra thông cáo “xướng tên nhà báo Phạm Thị Đoan Trang – nhà báo, nhà hoạt động xã hội người Việt Nam, vừa bị kết án 9 năm tù hồi tháng 12/2021”! Trong thông cáo báo chí, tổ chức này mô tả: “Đoan Trang được vinh danh vì các nỗ lực từ hơn 10 năm nay trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân. Ban tổ chức giải thưởng nhấn mạnh các sáng kiến của cô, bao gồm việc lập ra trang mạng thông tin nhân quyền và luật pháp Luật Khoa tạp chí, Nhà xuất bản Tự Do”. Thực chất, dù tổ chức trao giải khác nhau nhưng đều có mẫu số chung khi cùng copy từ một khuôn mẫu như những gì mà Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) hay Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ) đưa ra. Trước đó, các tổ chức này đưa ra các thông cáo báo chí vu cáo Việt Nam là một trong những nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới. Thông cáo của CPJ cho rằng, Việt Nam vi phạm tự do báo chí nghiêm trọng và nêu yêu sách đòi Việt Nam phải “trả tự do cho các nhà báo”! Những cái tên được CPJ xướng lên làm “ví dụ điển hình” cho các nhà báo bị giam giữ như Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang, Trương Duy Nhất… Thực ra đây là luận điệu tái lặp của CPJ, RSF… khi có những quy kết không đúng về tình hình nhân quyền của Việt Nam nói chung cũng như tự do báo chí nói riêng. Như thông cáo trên, chỉ cần nhìn vào những cái tên trên đủ để thấy rằng CPJ xuyên tạc, bóp méo vấn đề quyền con người ở Việt Nam như thế nào. Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang… dù trước đây từng có giai đoạn hoạt động tại một số cơ quan báo chí, song do vi phạm pháp luật, họ đã bị kỷ luật, thay đổi công việc, ở thời điểm bắt giữ thì họ không còn là những nhà báo hay phóngviên như CPJ công bố. Trái lại, đó đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị bắt giữ và xét xử theo các quy định của pháp luật Việt Nam. 

        Như vậy, chúng ta thấy dù giải thưởng và thông cáo báo chí được đưa ra với danh nghĩa của cơ quan Nhà nước là Bộ Ngoại giao nhưng nội dung trong nhìn nhận, đánh giá cũng sai lệch, tương tự với sự “tôn vinh giải thưởng” và thông cáo báo chí mà các tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đưa ra. Dễ nhận thấy, sự đánh giá về hành vi của Phạm Thị Đoan Trang với danh nghĩa nhà báo với vấn đề nhân quyền, sự chỉ trích phiên toà hay “nền dân chủ” trong các thông cáo này dường như vẫn là các bản copy của nhau. Đây là điều không nên. Bởi lẽ, những tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đã được nhận diện rõ về động cơ, mục đích thù địch, chống phá Việt Nam, thường xuyên lấy các vụ việc phạm pháp ở Việt Nam để chụp mũ dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, làm nguyên cớ để kích động chống phá. Dư luận không lạ gì những thủ đoạn đánh lận, nguỵ biện mà các tổ chức này đưa ra, ngay việc sử dụng các giải thưởng lấy tên nhân quyền cũng chỉ là cái cớ để thu hút và đánh lừa dư luận. Thế nhưng, với cơ quan Nhà nước, ngoại giao hay tổ chức quốc tế chính danh, khi đánh giá về một vấn đề, sự việc ở quốc gia khác mà dựa vào “phiên bản” như của RSF, CPJ hay HRW là điều không nên. Với sự trùng lặp nội dung và đánh giá như vậy, người ta có quyền nghi ngại những cá nhân của chính các tổ chức này can thiệp hay đứng sau các bản báo cáo, đánh giá của cơ quan ngoại giao nhà nước, làm ảnh hưởng đến tính khách quan, chính xác của báo cáo. Trong quan hệ quốc tế, đây là điều mà các cơ quan ngoại giao luôn cẩn trọng, bởi những đánh giá của họ với một quốc gia khác cần phải thể hiện được tính khách quan, đúng đắn, thể hiện bằng việc nhìn nhận toàn diện chứ không nên “theo ý” bởi một cá nhân hay tổ chức nào khác, vì động cơ nào khác. Bởi lẽ đó, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam”. 

       Ngày 14/12/2021, TAND Thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo quy định tại Điều 88, khoản 1, điểm a, b, c – Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước. Ngoài ra, bị cáo còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Viện Kiểm sát xác định, các tài liệu có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. HĐXX xác định hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn quyết liệt thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Khi quyết định hình phạt, hội đồng xét sử đánh giá bị cáo khai báo không thành khẩn, phạm tội nhiều lần nên quyết định áp dụng hình phạt tù với thời hạn trên để giáo dục và phòng ngừa chung. Đây là bản án rất thích đáng đối với kẻ chống chính quyền nhiều lần

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


 

          Những ngày qua, đất nước phấn khởi chào đón mùa xuân mới, cũng là dịp kỷ niệm 92 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:

Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

         Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác – Lênin là một “lý thuyết suông” về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm đất nước nghèo nàn, lạc hậu .Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác – Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá.

Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.

         Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

          Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Lịch sử diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. 

Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng… để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.

           Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị. Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” mà Đảng lựa chọn.

 

SỰ CAY CÚ KHI BÀN VỀ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN VÀ VIỆC NHẬN ĐỊNH TƯƠNG LAI VIỆT NAM

 


Đầu năm, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham gia Lễ hội Tịch điền khai trương mùa sản xuất và cùng thời điểm đó chuyên gia kinh tế của Ngân hàng thế giới đưa ra nhiều dự báo lạc quan cho Việt Nam. Móc nối các sự kiện với nhau, các đối tượng cay cú xuyên tạc, hình ảnh Chủ tịch nước đi cày là biểu tượng của việc Nhà nước thuê dệt “áo choàng hoang tưởng”, hay ý kiến của chuyên gia chỉ là lời “tâng bốc đặt hàng”.

Trang web của Ngân hàng thế giới dành những lời giới thiệu hết sức trang trọng dành cho ông Jacques Morisset. Người đàn ông này có bằng Tiến sĩ kinh tế tại Đại học Geneva và đã đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau tại Ngân hàng Thế giới và IFC, đồng thời cộng tác với Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Ông đã lãnh đạo hoặc đồng lãnh đạo các hoạt động cho vay trị giá hơn 2 tỷ đô la Mỹ và tư vấn cho các chính phủ về nhiều lĩnh vực kinh tế từ thị trường tài chính, xúc tiến đầu tư, chính sách tài khóa và thuế đến thị trường lao động. Jacques đã có nhiều bài báo được đăng trên các tạp chí học thuật, bao gồm Tạp chí Kinh tế của Ngân hàng Thế giới, Tạp chí Kinh tế Phát triển và Phát triển Thế giới. Ông từng là thành viên của Hội đồng Đánh giá Kinh tế của Ngân hàng Thế giới. Đầu tháng 2, chuyên gia đã có bài trả lời phỏng vấn với những dự báo triển vọng cho Việt Nam. Ông nói: “Việt Nam sẽ một lần nữa vươn lên thành con hổ châu Á” thể hiện qua những tín hiệu tăng trưởng tích cực từ cuối năm 2021 khi các nỗ lực của cả hệ thống chính trị đã mang lại hiệu quả. Ông cũng nhận thấy những dấu hiệu tích cực qua chương trình họp Quốc hội vào đầu tháng 1/2022 và đánh giá cao nhiều cải cách hoặc tư duy về cải cách trong các lĩnh vực như quản lý đầu tư công, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu. Cần biết việc đánh giá này sẽ có ảnh hưởng lớn đến việc hợp tác đầu tư của các tổ chức quốc tế và Ngân hàng thế giới với Việt Nam. Thế nhưng, việc đánh giá của ông đã bị Chân Trời Mới Media cho là “xã giao tâng bốc”, “phát biểu đặt hàng”. Trong bài viết của mình, chuyên gia không rõ chuyên ngành của Chân Trời Mới Media có tên là “Tân Phong” phản bác mạnh mẽ các phát biểu của Jacques Morisset. Tân Phong tuyên bố “đã viết 2 bài phân tích về toàn bộ cơ cấu tăng trưởng” của Việt Nam để chỉ ra rằng thể chế chính trị “chắc chắn sẽ không thể nào tận dụng được những ưu thế hiện có và không thể mang đến sự phát triển bền vững.” Thiết nghĩ, một chuyên gia đã có nhiều kinh nghiệm, được quốc tế công nhận hay một chuyên gia chỉ biết ném đá trên mạng, thì đủ hiểu dư luận sẽ đặt niềm tin vào ai.

Thực ra, bản chất xuyên tạc của Chân Trời Mới Media được sinh ra từ lối tư duy bất chấp sự thật. Một câu chuyện khác được họ săm soi là hình ảnh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đi cày trong Lễ hội Tịch điền đầu xuân. Chú trâu được sơn mình, vốn là phong tục của lễ hội. Theo đó, trước khi diễn ra lễ tịch điền thì các chú trâu được tranh tài ở hạng mục trang trí, trâu nào vẽ đẹp nhất sẽ được đưa vào lễ hội đi cày. Chuyện chỉ có vậy, thế mà “chuyên gia” Tân Phong cho đó là buồn cười, là biểu tượng của việc Nhà nước “khoác áo choàng hoang tưởng cho dân”. Việc “bình loạn không có căn cứ” về phát biểu của chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới hay hình ảnh đi cày của Chủ tịch nước cho thấy, việc cố đấm ăn xôi của các đối tượng sống bằng “nghề” chống phá và xuyên tạc Việt Nam. Họ có thể dùng những sự kiện mập mờ, thiếu thông tin, cắt xén để đưa ra mổ xẻ, săm soi, nhưng sẽ tự “lột trần” mình khi đụng vào sự thật.

 

UNWGAD TRẮNG TRỢN CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM

 


         Một “phán quyết” được cho là của Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện của Liên Hợp Quốc (UNWGAD) liên quan đến trường hợp Phạm Thị Đoan Trang xuất hiện trên BBC, VOA tiếng Việt và một vài cơ quan truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam trong mấy ngày gần đây.Theo đó, Nhóm này cho rằng việc Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “tùy tiện”. Thêm nữa họ khoác cho Phạm Thị Đoan Trang cái áo “nhà báo tự do”, “nhà báo độc lập” rồi vu cáo rằng “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn” và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho đối tượng ngay lập tức và vô điều kiện. Hành động của UNWGAD là vô lối, trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

         Phạm Thị Đoan Trang sinh ra và lớn lên trong một gia đình có nền nếp. Mặc dù được học hành đến nơi, đến chốn, nhưng do sống buông thả, vô tổ chức, thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thêm vào đó lại bị một số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong móc nối, tiêm nhiễm tư tưởng phản động, chống đối nên Phạm Thị Đoan Trang đã trượt dài trên con đường tội lỗi. Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) TP Hà Nội, hành vi phạm tội của Phạm Thị Đoan Trang là không thể chối cãi. Từ tháng 11/2017 đến tháng 12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung bóp méo, xuyên tạc sai sự thật nhằm chống phá  Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phạm Thị Đoan Trang đã nhiều lần trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài có nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam. Cụ thể hơn, Phạm Thị Đoan Trang cùng một số người đã lập ra trang tin điện tử “luatkhoa…”. Trang tin “luatkhoa…” đăng công khai trên mạng là bản tiếng Việt, trong đó chứa đựng nhiều nội dung thông tin bóp méo, xuyên tạc nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam. Kết quả điều tra của cơ quan an ninh cũng xác định rõ Phạm Thị Đoan Trang có 13 bài trả lời phỏng vấn có âm thanh, hình ảnh; 3 bài gồm ảnh chụp hoặc bài viết xuất bản trên các trang báo nước ngoài, với nhiều nội dung lệch lạc, bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các sự việc, vấn đề ở Việt Nam. Trước cơ quan chức năng, Phạm Thị Đoan Trang đã xác nhận mình là tác giả của “Báo cáo – nghiên cứu: Đánh giá luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và tình hình thực hiện quyền tín ngưỡng tôn giáo”. Phạm Thị Đoan Trang khai nhận “báo cáo” ấy do mình và một nhóm tác giả viết bằng tiếng Anh vào tháng 10/2017. Sau đó, Phạm Thị Đoan Trang dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang “luatkhoa…” vào tháng 11/2017. Ngoài ra, Phạm Thị Đoan Trang còn tàng trữ các tài liệu như: “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”;… Kết luận của Viện KSND cho thấy, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền “luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Phạm Thị Đoan Trang còn có mối liên hệ mật thiết với nhiều tổ chức phản động lưu vong, đáng lưu ý như “Việt Tân”, “VOICE”…Trước những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật rất rõ ràng của đối tượng, Cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam Phạm Thị Đoan Trang về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999 và tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015. Viện KSND TP. Hà Nội cũng đã ra Quyết định phê chuẩn các Quyết định của Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội đối với bị can Phạm Thị Đoan Trang và tiếp tục thực hiện các bước tố tụng để đưa ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật.Đối tượng Phạm Đoan Trang nghe đọc lệnh bắt giữ.

     Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, nhằm điều chỉnh mọi hoạt động tự do ngôn luận, tự do báo chí, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật cơ bản đầy đủ và đồng bộ. Trong quy trình xây dựng luật nói chung, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng… nói riêng, Việt Nam đều nghiên cứu kỹ, nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; tổ chức thảo luận và lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân. Hai yêu cầu cơ bản mà hệ thống pháp luật của Việt Nam, trong đó có các văn bản luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí,… luôn đáp ứng đó là: Phù hợp với thực tế lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc và tương thích với luật quốc tế. Nhìn tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng đã đi vào cuộc sống góp phần rất quan trọng bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, giữ cho môi trường báo chí, không gian mạng của Việt Nam ngày càng an toàn, lành mạnh và hữu ích.

Mặt khác, cần phải hiểu và thống nhất nhận thức rằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet… phải nằm trong khuôn khổ pháp luật chứ không phải tự do vô tổ chức, vô hạn độ. Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều thiết lập hệ thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet…phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Hệ thống pháp luật của Việt Nam có sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Pháp luật Việt Nam không cho phép bất cứ công dân nào lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, gây phương hại đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia.

        Kết quả điều tra của cơ quan chức năng cho thấy hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Thị Đoan Trang là rất rõ ràng. Việc Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội ra Quyết định phê chuẩn các Quyết định của Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội đối với Phạm Thị Đoan Trang là đúng pháp luật. Là công dân vi phạm pháp luật, Phạm Thị Đoan Trang phải chịu các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật là lẽ đương nhiên. Điều ấy không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tiến hành để giữ gìn kỷ cương, phép nước. Việt Nam không bao giờ tùy tiện áp dụng các biện pháp xử lý với công dân khi chưa có đủ cơ sở pháp lý về hành vi vi phạm pháp luật. UNWGAD nói rằng Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang một cách “tùy tiện” là hồ đồ, vô căn cứ.Tổ chức “Phóng viên không biên giới” tô vẽ Phạm Thị Đoan Trang như là nhà báo độc lập, đấu tranh với tiêu cực để từ đó quy kết Việt Nam không có tự do báo chí. Trước khi có các hành vi vi phạm pháp luật, Phạm Thị Đoan Trang là cộng tác viên, phóng viên của một số cơ quan báo chí nhưng đã bị xử lý kỷ luật và buộc thôi việc. Phạm Thị Đoan Trang không phải là nhà báo như UNWGAD nghĩ. Theo quy định của pháp luật, tại Việt Nam chỉ có phóng viên, nhà báo công tác tại các cơ quan báo chí, truyền thông và sinh hoạt trong Hội Nhà báo Việt Nam. Ở Việt Nam không có “nhà báo tự do”, “nhà báo độc lập” hay “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” như một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động thường rêu rao. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi công dân dù là ai, làm nghề gì, ở vị trí nào nếu vi phạm pháp luật thì đều phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội. Trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mỗi người dân phải đặt lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, thể hiện rõ tinh thần “Thượng tôn pháp luật”, vì sự trong sạch của môi trường báo chí, môi trường Internet và mạng xã hội; vì sự bình yên của xã hội và sự phát triển của đất nước. Việt Nam kiên quyết xử lý mọi hành vi đi ngược tinh thần đó, vi phạm các quy định của pháp luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội. Tại Việt Nam không có bất kỳ công dân nào bị xử lý khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội theo đúng pháp luật. Việc UNWGAD và một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại lu loa rằng, Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “tùy tiện”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận một cách trắng trợn”… thực chất là chiêu trò “lập lờ đánh lận con đen” để lấp liếm, bao che cho kẻ vi phạm pháp luật, chống phá Việt Nam. Hành vi kêu gọi chính quyền trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Phạm Thị Đoan Trang của UNWGAD và một số cơ quan truyền thông thiếu thiện chí ở hải ngoại là vô lối, trắng trợn can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ; trái với Công ước quốc tế và vi phạm pháp luật Việt Nam./.

 

CHĂM LO BỒI ĐẮP, PHÁT TRIỂN KIỂU MẪU NHÂN CÁCH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Hình ảnh và tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng.
“Bộ đội Cụ Hồ” là cách gọi rất Việt Nam, thật gần gũi. “Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là tên gọi trìu mến nhân dân dành cho quân đội mà còn là một danh hiệu, một vinh dự lớn đối với những chiến sĩ của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.
Nhân dân ta gọi “Bộ đội Cụ Hồ”, vì Cụ Hồ-tên gọi trìu mến của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh-là người tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân ta, là hiện thân của niềm tin sức mạnh, là hình ảnh tiêu biểu cho tất cả những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Nhân dân ta gọi Quân đội của mình là bộ đội của Cụ Hồ, vì cảm nhận một cách sâu sắc quan hệ đặc biệt hiếm có giữa Bác và Quân đội, Bác và những người chiến sĩ. Nét đặc sắc trong đạo đức và tình cảm của Bác là vô cùng gần gũi, yêu thương bộ đội, tin tưởng ở tinh thần dũng cảm và sáng tạo của bộ đội, hiểu thấu và thông cảm những gian khổ, khó khăn, hy sinh của người chiến sĩ.
Có thể đi tìm nguồn gốc sâu xa của kiểu mẫu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” từ các nhân tố mang ý nghĩa chính trị, văn hóa và lịch sử rất sâu sắc.
Nếu xét ở góc độ truyền thống dân tộc và truyền thống văn hóa dân tộc, kiểu mẫu “Bộ đội Cụ Hồ” còn có nguồn gốc sâu xa hơn, bởi vì nó không chỉ là sản phẩm của hơn 77 năm mà còn bắt nguồn, nối tiếp và phát triển của kiểu mẫu những nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân của cả nghìn năm lịch sử dân tộc Việt Nam.
Di sản quý báu nhất có từ trong khói lửa của các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta để lại cho thế hệ hôm nay là truyền thống bất khuất, ý chí quật cường của cha ông. Di sản, truyền thống ấy còn là tư tưởng quân sự “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “Lấy chí nhân thay cường bạo” và tinh thần “Phụ tử chi binh” của thời Trần, “Huynh đệ chi binh” của thời Lê, thời Tây Sơn. Tinh thần đó làm cơ sở để sau này chúng ta xây dựng quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ.
Như vậy, kiểu mẫu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Nó có sức sống bền vững, có khả năng củng cố, phát triển suốt chiều dài lịch sử.
Những đặc trưng cơ bản của danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” được đúc kết trong lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/1964): “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” chứa đựng một cách đầy đủ và tập trung nhất những phẩm chất tốt đẹp của Quân đội mà mỗi chiến sĩ đã thực hiện đúng những lời dạy của Người.
Trước hết họ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ khi mới thành lập, họ đã được nhân dân coi như con em. Họ luôn luôn gắn bó với dân, được dân tin, dân phục, dân yêu vì dám xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Nói Quân đội ta “hiếu với dân” là do vậy.
“Bộ đội Cụ Hồ” là những chiến sĩ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trung thành với Đảng cũng là trung thành với Tổ quốc Việt Nam, bởi Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của dân tộc, lợi ích của Đảng là lợi ích của dân tộc. Trung với nước, trung với Đảng được biểu hiện ở lòng yêu Tổ quốc thiết tha, căm ghét mọi kẻ thù xâm lược và các thế lực không tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự nghiệp cách mạng của chúng ta, là tinh thần quyết chiến, quyết thắng, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Lòng trung thành của “Bộ đội Cụ Hồ” với Tổ quốc là sự kế thừa truyền thống “dẫu trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm” của những người lính thời Trần.
Vì chung một lý tưởng, đều là con em nhân dân nên “Bộ đội Cụ Hồ” có phẩm chất rất đặc biệt, đó là sâu thẳm tình đồng đội. Đồng đội đồng thời cũng là đồng chí. Đây là nét rất đặc thù của quân đội cách mạng. Nếu như những người lính trước đây coi nhau như “huynh đệ” (anh em) thì đến giữa thế kỷ 20, những chiến sĩ trong QĐND Việt Nam đã nâng lên thành tinh thần đồng đội, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận. “Nghĩa tình đồng đội”, “tình bạn chiến đấu”, “đi tìm đồng đội”, “tâm tình đồng đội”... từ lâu đã trở thành những nét đẹp trong đời sống quân đội và trong cộng đồng người Việt Nam.
“Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là những người cầm súng thuần túy. Từ khi mới ra đời, Quân đội ta đã được xác định nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Trong thời chiến, lúc hòa bình, 3 chức năng chiến đấu, công tác và sản xuất đều được coi trọng. Gan dạ và dũng cảm, mưu trí và sáng tạo, tự lực tự cường, kiên nhẫn và nhiệt tình luôn luôn là những truyền thống tốt đẹp của người chiến sĩ QĐND Việt Nam. Truyền thống này có nguồn gốc từ thời Lý-Trần với chính sách “ngụ binh ư nông”.
Một nét đặc trưng tiêu biểu khác của “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là tinh thần kỷ luật, tự giác cao. Trước đây, trong lịch sử, những người lính Việt Nam đã có truyền thống “quân lệnh như sơn”; thời nay, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được rèn luyện bằng “12 điều kỷ luật”, bằng việc chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mệnh lệnh của cấp chỉ huy.
“Bộ đội Cụ Hồ” còn là những người lính có tinh thần quốc tế cao cả. Từ truyền thống nhân ái của dân tộc “tắt lửa tối đèn có nhau”, “thương người như thể thương thân”, mấy mươi năm qua, với tinh thần “cứu bạn là tự cứu mình” đầy nhân văn, nhân ái, nhiều thế hệ chiến sĩ QĐND Việt Nam đã trở thành người chiến sĩ quốc tế, những “tình nguyện quân”, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ và nhân dân Lào, Campuchia trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, các cuộc chiến đấu chống lại các thế lực tay sai, phản động. Tinh thần quốc tế cao cả, vô tư của “Bộ đội Cụ Hồ” là một nét rất mới trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam.
Sự xuất hiện của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc gần 80 năm, thời gian đó so với lịch sử dân tộc là không dài, nhưng chỉ bằng thời gian đó, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, đời sống đất nước, cộng đồng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn và trở thành một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của thời đại mới. Và cũng từ đó, “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành nhân vật trung tâm của văn hóa, văn nghệ cách mạng.
Trong các quan hệ ấy, lịch sử gần tám thập niên qua đã xây đắp nên một quan hệ cực kỳ đặc biệt, đó là người mẹ và người chiến sĩ. Với các mẹ, thì chưa có nơi nào, thời nào, người lính lại được sống trong tình thương yêu lớn lao như thế, “mẹ chiến sĩ”, “mẹ bộ đội”, “mẹ anh hùng”, “mẹ Việt Nam”... là những hình tượng đã đi vào lịch sử, vào đời sống, đi vào thơ, nhạc, những ca khúc và những áng thơ văn bất hủ.
Những người mẹ Việt Nam tin tưởng quân đội là trường học lớn, ở đó, những người con của các mẹ không chỉ được học về kỹ thuật, chiến thuật để chiến đấu mà còn được giáo dục, rèn luyện về văn hóa, nếp sống, về lòng quả cảm, đức hy sinh và lòng nhân ái, vị tha. Ở đó, quân đội là “gia đình lớn” vì những người chiến sĩ coi nhau như anh em một nhà, bất kể quê hương, dân tộc, tôn giáo. Trong gia đình ấy, chỉ có tình thương và chữ “đồng”: Đồng chí, đồng đội, đồng hương. Chưa thời nào, chưa thấy ở đâu, tình thương yêu lại sâu nặng, gắn bó như tình đồng đội của “Bộ đội Cụ Hồ”.
“Bộ đội Cụ Hồ” với những biểu hiện đẹp đẽ đó đã là biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, đã được nhân dân ca tụng là “con người đẹp nhất”, được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ.
Nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, tất nhiên, nó không phải là sản phẩm tự phát, mà đó là quá trình rèn luyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Bởi vậy, việc tiếp tục nuôi dưỡng, tô thắm, xây dựng, phát triển kiểu mẫu nhân cách đó lúc này và trong tương lai là nhiệm vụ cực kỳ to lớn.
Để có thể làm tốt nhiệm vụ đó, điều cần thiết là phân tích đặc trưng nhân cách này, tìm ra những giá trị cốt lõi, bền vững, những giá trị mang tính đặc thù của một giai đoạn lịch sử; đồng thời phân tích sự tác động phức tạp của đời sống đương đại hiện nay đối với các giá trị đó, từ đó vừa củng cố các giá trị truyền thống, vừa bổ sung những giá trị mới cần có của nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ cách mạng mới.
Nếu như đặc trưng lịch sử và văn hóa của “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một sức mạnh to lớn, sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhân dân và các thế hệ thanh thiếu niên trong 30 năm kháng chiến đã qua, thì hiện nay, nó đang bị thử thách một cách quyết liệt, từ cả hai góc độ: Thực tế và tâm lý. Nếu tạo ra trong cảm nhận của con người hôm nay, rằng kiểu mẫu ấy chỉ là sản phẩm đẹp của quá khứ, sẽ dẫn tới xuất hiện hai dạng tâm lý: Tâm lý chỉ có thể ngưỡng mộ (kính nhi viễn chi) hoặc tâm lý thất vọng và như vậy sẽ không thể tiếp tục phát triển được kiểu mẫu nhân cách đó trong hiện tại và tương lai với tư cách là một giá trị văn hóa quân sự bền vững.
Nếu chỉ làm thao tác đối chiếu ít nhiều máy móc giữa nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong quá khứ với người chiến sĩ hôm nay, lấy chuẩn mực quá khứ, vốn rất đẹp nhưng là sản phẩm có tính đặc thù về mặt quân sự và văn hóa, làm thước đo tuyệt đối, sẽ khó có khả năng chủ động để tiếp tục nuôi dưỡng và xây dựng nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới. Công việc ở đây sẽ là, xác định những giá trị văn hóa cốt lõi và cơ bản trong nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã được hình thành trong lịch sử để củng cố, khẳng định, đồng thời bổ sung, phát triển những nhân tố mới, trước những đòi hỏi và đặc điểm rất mới của giai đoạn lịch sử hiện nay và sắp tới.
Ví dụ như giá trị cốt lõi và cao quý nhất trong nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” bao giờ cũng là lòng trung thành vô hạn với mục tiêu và lý tưởng chiến đấu của Đảng và nhân dân, là ở sự sẵn sàng cống hiến cuộc đời mình cho lý tưởng đó. Giá trị đó nhất thiết phải được bảo vệ và phát triển. Nhưng con đường để tạo nên nó trong phẩm chất, nhân cách người chiến sĩ hôm nay lại hoàn toàn khác trước.
Phải đặt họ trong một tình thế lựa chọn mang tính hiện thực và rất gay gắt giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa sống và chết, giữa được và mất, giữa giá trị tinh thần và nhu cầu vật chất, giữa các xu hướng vận động đang diễn ra phức tạp hiện nay để giúp họ lựa chọn đúng nhất, tự tin nhất với sự mách bảo của tình cảm, của danh dự người chiến sĩ và cả sự sáng suốt của lý trí. Nối tiếp truyền thống quý báu, luôn luôn lấy tình cảm cách mạng làm cội nguồn sức mạnh của người lính, đồng thời cần nâng cao không ngừng tri thức, trí tuệ cách mạng.
Sự ra đời và phát triển của một kiểu mẫu nhân cách mới không bao giờ là một quá trình tự phát hay chờ có sẵn, tự nhiên mà có. Đó là cuộc đấu tranh không mệt mỏi, đầy trí tuệ, một công việc cực kỳ công phu, tinh tế và sâu sắc-sự nghiệp “trồng người” cần trăm năm nuôi dưỡng và chăm sóc như Bác Hồ đã dạy.
Hình ảnh cao đẹp với những giá trị văn hóa quân sự sâu sắc của nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã được yêu thương và quý trọng trong những năm qua chỉ có thể được tiếp tục khẳng định và phát triển thời gian tới trên cơ sở của một quá trình tô thắm, nuôi dưỡng và xây dựng bền bỉ, với một công phu to lớn và một trí tuệ khoa học, cách mạng./.
                                                                                        Theo GS, TS Đinh Xuân Dũng

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/3/1960

 “Phải đi đúng đường lối quần chúng, liên hệ mật thiết với quần chúng, dựa vào lực lượng quần chúng. Quần chúng thông suốt về phương châm, phương pháp của Đảng và Chính phủ thì nhất định sẽ làm được và làm tốt”.
Ngày 07 tháng 3 năm 1960, phát biểu tại Hội nghị Tổng kết công tác Thủy lợi năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “… phải đi đúng đường lối quần chúng, liên hệ mật thiết với quần chúng, dựa vào lực lượng quần chúng. Quần chúng thông suốt về phương châm, phương pháp của Đảng và Chính phủ thì nhất định sẽ làm được và làm tốt”.
Bài nói của Người được đăng tải trên báo Nhân dân, số 2182 ra ngày 9 tháng 3 năm 1960. Người đánh giá cao những kết quả về công tác thủy lợi mà cán bộ và nhân dân ta đạt được trong những năm đầu khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh. Người tin tưởng rằng nhân dân ta nếu có cố gắng sẽ nhất định cải tạo tự nhiên, “nhân định thắng thiên”; đồng thời căn dặn cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, liên hệ mật thiết với quần chúng, dựa vào quần chúng để phát triển kinh tế. Lời của Bác tuy ngắn gọn nhưng mang giá trị tư tưởng cao, tính giáo dục lớn, không chỉ bó hẹp ở công tác thủy lợi mà trên mọi mặt công tác nói chung, phải biết lấy dân làm gốc, tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Chính quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất, trực tiếp thực hiện đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng của Đảng thành hiện thực.
Vận dụng lời dạy của Bác trong quá trình đổi mới hiện nay, Đảng ta tiếp tục phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, biết dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân để vượt qua khó khăn, đưa đất nước đi vào ổn định và phát triển. Những thành tựu đất nước đạt được qua 30 năm đổi mới là minh chứng rõ ràng của sức mạnh quần chúng nhân dân. Quá trình đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có nhân dân tham gia, nhân dân đồng tình hưởng ứng để tạo thành một sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong quân đội, từ thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng đã khẳng định đoàn kết quân dân là một trong những nguồn gốc quan trọng đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của Quân đội, không chỉ có ý nghĩa, giá trị trong lịch sử, mà còn được vận dụng trong củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện mới. Đòi hỏi phải không ngừng củng cố, tăng cường nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng, gắn bó với nhân dân. Mọi chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ huy phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ quan, đơn vị, nguyện vọng của quần chúng. Đẩy mạnh tuyên tuyền vận động quần chúng tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
   ST

KIÊN QUYẾT GIỮ VỮNG VÀ BẢO VỆ NGỌN CỜ SOI ĐƯỜNG CHỈ LỐI CỦA ĐẢNG

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.
Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.
Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

MỘT BẢN ÁN XỨNG ĐÁNG CHO KẺ XÚC PHẠM QUỐC KỲ

 


Trong mấy ngày qua sau “Tết con Hổ” (Nhâm dần), trên mạng đăng tải thông tin về kẻ xúc phạm Quốc kỳ bị phạt tù. Nội dung thông tin này là: “Sau gần 3 năm được tạm hoãn thi hành án vì đang có thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo Huỳnh Thục Vy (HTV) nay buộc phải chấp hành thi hành án phạt tù 2 năm 9 tháng về tội “xúc phạm Quốc kỳ”. Mấy nhà “Dân chủ Nhân quyền” dởm thì cho rằng… bản án quá nặng và vô nhân đạo (khi người mang án lại là một người đang nuối con nhỏ…; Nên tha bổng mới phải). Tác giả thì cho rằng… đây là một bản án còn nhẹ… vì HTV đã có tiền án, không loại trừ HTV đang test xem chính quyền có dám đụng đến Y hay không và phương Tây sẽ phản ứng ra sao.

Theo thông tin này thì: Ngày 1/12, thông tin từ TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk cho biết: ”Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã Buôn Hồ tổ chức thi hành Quyết định thi hành án phạt tù đối với bị cáo HTV (36 tuổi, trú tại tổ dân phố Hợp Thành 2, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ)…

Trước đó vào chiều 30/11/2018, TAND thị xã Buôn Hồ đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt HTV: 2 năm 9 tháng tù về tội “xúc phạm Quốc kỳ”- theo quy định tại Điều 276 (Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009) và theo Điều 276 (Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo cáo trạng: Do coi thường pháp luật, vào lúc 11h ngày 1/9/2017, tại tổ dân phố Tân Hà 2, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, Huỳnh Thục Vy điều khiển xe máy mang BKS 59T1.226.00 lưu thông trên đường Hồ Chí Minh. Khi đến trước số nhà 1222 đường Hùng Vương, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, HTV một tay cầm lá cờ Tổ quốc, một tay dùng bình sơn mini (màu trắng) xịt lên chính giữa ngôi sao của 2 lá cờ Tổ quốc do UBND phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ cắm trước số nhà 1222 và 1224 nhân Kỷ niệm 72 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Sau khi xịt sơn, Vy lấy điện thoại di động chụp hình Vy cùng 2 lá cờ rồi điều khiển xe máy về nhà. Trên đường đi về, Vy đã vứt bỏ bình sơn vào thùng rác bên đường.

Đến khoảng 12h16 cùng ngày, Vy đăng hình ảnh chụp với 2 lá cờ Tổ quốc bị xịt sơn lên mạng xã hội Facebook và ghi nội dung “Phản đối lễ lạc bằng cờ đỏ sơn trắng”. Ngày 3/9/2017, Công an phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ phát hiện 2 lá cờ Tổ quốc cắm trước số nhà 1222 và 1224, đường Hùng Vương, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ bị dính nhiều chất màu trắng ở phần ngôi sao nên đã lập biên bản tạm giữ và bàn giao cho Công an thị xã Buôn Hồ điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Theo cáo trạng, HTV từng có một tiền sự, về hành vi “Cung cấp, trao đổi, tuyên truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số để chống Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, bị can vẫn chưa chịu chấp hành hình phạt này. Bình luận về thông tin trên nhiều tài khoản đã bức xúc viết:

1-Bản án cho HTV còn nhẹ… Lá cờ Tổ quốc là biểu tượng thiêng liêng,… đã có không biết bao nhiêu đồng bào chiến sỹ hy sinh cho Độc lập tự do của Tổ quốc- mà lá cờ đó là biểu tượng tập trung nhất;

2- Có người thì cho rằng: Lá cờ đó đã sánh vai với gần 200 lá cờ của các quốc gia tại Liên hợp quốc;

3- Tác giả bài viết này thì nhớ lại: Lá cờ đỏ sao vàng đã từng nhuốm máu chiến sỹ bảo vệ đảo Gạc Ma chống quân xâm lược Trung quốc, 1988… Và bản án cho HTV - kẻ ngu dốt, điên khùng,… là nhân văn. HTV bôi bẩn lá cờ không giống như trẻ nhỏ vô ý thức mà có ý thức rõ ràng... Bởi vậy có thể nói: Bản án giành cho HTV là cần thiết, nhân văn-để cho Y tỉnh lại, làm người, làm một công dân đất Việt. St

 

GIÂY PHÚT CẢM TỬ CỦA NHỮNG TƯỢNG ĐÀI BẤT TỬ!

 

Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) đã có nhiều tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ, những người chiến sỹ mang trên mình một tình yêu Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc như: Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng; Tô Vĩnh Diện dùng thân chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Trần Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên để xông vào sở chỉ huy, rồi cắm cờ lên lô cốt Him Lan…

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam. Chiến thắng ấy đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ dù phải hy sinh cả tính mạng khi còn ở tuổi thanh xuân các anh vẫn luôn nêu cao tinh thần bất khuất, chí khí anh hùng, lẫm liệt để gìn giữ lý tưởng sống mà họ đã chọn và truyền lại cho nhiều thế hệ thanh niên viết tiếp trang sử vàng của dân tộc Việt Nam. St

 

 

TRÒ LỐ "YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH" CỦA ANH EM DÂN CHỦ!

         Từ ngày hôm qua, liên tục các đoàn đại diện cho các tổ chức xã hội dân sự (bản chất là mấy tay dân chủ cuội) đã liên tục kéo đến đại sứ quán Ucraina tại Hà Nội để trao "thư ủng hộ", tiền quyên góp cho chính phủ Ucraina. Từ anh võ sư thất trận Châu Đoàn đến mấy anh đảng viên biến chất như Nguyễn Đình Cống, Nguyễn Khắc Mai...

 Nhìn cách các anh gặp gỡ chị đại biện Ucraina, lôi chị ta ra chụp ảnh kèm theo mấy dòng chữ chuẩn bị sẵn mà tôi cứ cảm thấy lố lăng, kịch cỡm, ô hợp làm sao. Nếu thực tâm yêu chuộng hòa bình, lên án chiến tranh, sao trong các cuộc chiến của Mỹ xâm lược Lybia, Syria, Iraq,… chưa bao giờ thấy mặt các anh xuất hiện ủng hộ những người dân ở đây, vậy là khi xung đột Nga - Ucraina, anh lại mở miệng phản đối chiến tranh, lên án xâm lược. Hay chỉ là bắt trend phản đối của đài báo phương Tây mà thôi.

Tất nhiên, việc các anh tặng tiền, hiện vật là quyền của các anh nhưng việc các anh phóng đại lên thành các tổ chức, cá nhân thuộc xã hội dân sự ủng hộ Ucraina là điều vớ vẩn. Nói chính xác, việc quyên góp lần này nhằm hỗ trợ người dân Ucraina chỉ là vỏ bọc mà thực tế, chỉ nhằm tuyên truyền khuếch trương thanh thế của các tổ chức hội nhóm bất hợp pháp này dưới danh nghĩa các “tổ chức xã hội dân sự” của đám trí thức chống đối mà thôi.

Đó là chưa kể, lợi dụng việc kêu gọi quyên góp ủng hộ Ucraina, đám nhân sĩ chống đối như Châu Đoàn, Nguyễn Đình Cống còn xuyên tạc chủ trương, đường lối của Việt Nam, đả kích đường lối trung lập của Việt Nam trong vấn đề Nga-Ucraina, hòng làm xấu quan hệ ngoại giao của Việt Nam.Nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, riêng về màn tấu hài lần này, anh em cũng hợp với chị đại biện Ucraina phết đấy, đúng là song kiếm hợp bích có khác./.



Yêu nước ST.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII DIỄN RA TỪ 9 ĐẾN 11/3/2022

 


Về dự Đại hội có 1.000 đại biểu chính thức là những phụ nữ tiêu biểu, đại diện cho các lực lượng phụ nữ, các dân tộc, tôn giáo và các lĩnh vực hoạt động khác nhau trong cả nước và khoảng 200 đại biểu khách mời.

Sáng 1/3, tại Hà Nội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức họp báo thông tin về Đai hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022-2027.

Là nhiệm kỳ đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035, với chủ đề: Phát huy truyền thống, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, vì hạnh phúc của phụ nữ, vì sự phồn vinh của đất nước, Đại hội sẽ đánh giá phong trào phụ nữ và hoạt động Hội 5 năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2022-2027; Bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIII.

Về dự Đại hội có 1.000 đại biểu chính thức, trong đó, đại biểu cao tuổi nhất là Trần Tố Nga, 80 tuổi thuộc đoàn đại biểu thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu trẻ tuổi nhất là Lê Mỹ Quỳnh, 24 tuổi, Chuyên gia nghiên cứu bảo mật, Thủ khoa đầu ra Học viện Kỹ thuật Mật mã năm 2021 thuộc đoàn đại biểu Hội Nữ trí thức Việt Nam.

Trong khuôn khổ đại hội, sẽ diễn ra các hoạt động khác như: Khai mạc triển lãm “Phụ nữ Việt Nam viết tiếp những ước mơ” và phát động nhắn tin ủng hộ chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” chung tay xây dựng ít nhất 130 mô hình sinh kế cho phụ nữ vùng biên giới; Chương trình Đối thoại 2030-Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao quyền năng của phụ nữ; phát động “Tuần lễ áo dài”…

Phát biểu ý kiến tại buổi họp báo, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Minh Hương cho biết, mục tiêu chung của nhiệm kỳ 2022-2027 đó là phát huy truyền thống, tinh thần đoàn kết, sáng tạo, chủ động hội nhập, ý thức làm chủ của các tầng lớp phụ nữ; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, tích cực xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ. Phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, khẳng định vị thế tổ chức tiên phong hành động vì hạnh phúc của phụ nữ, có tầm ảnh hưởng trong khu vực và quốc tế; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước.

Về việc chuẩn bị dự thảo các văn kiện trình Đại hội, đồng chí nhấn mạnh, các văn kiện đã được tiến hành công phu, bài bản, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Báo cáo đã quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kế thừa và phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, kết tinh được trí tuệ, phản ánh nguyện vọng, nhu cầu thiết thân, khát vọng phát triển của các tầng lớp phụ nữ và tổ chức Hội. St

 

LỊCH SỬ LƯU DANH


CÁC VỊ TƯỚNG THAY NHAU TỔNG CHỈ HUY ĐỀU BẠI TRẬN TRƯỚC ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

    Pháp thực hiện Chiến tranh Đông Dương, trước nhất Chiến tranh Việt Nam gọi là Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Kể từ ngày 23/9/1945 đến 7/5/1954 rồi ký kết hiệp định Genève kết thúc chiến tranh, Pháp đã cử sang Chiến trường Đông Dương 7 vị tướng làm Tổng chỉ huy nhưng tất cả đều thất bại trước một tướng (Võ Nguyên Giáp). 7 tướng Pháp đó lần lượt là:

1. Philippe Leclerc de Hauteclocque: Giữ chức tháng 8/1945 - 7/1946; Hàm Trung tướng (sau truy phong là Thống chế, tương đương Nguyên soái): Thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh.

2. Jean Étienne Valluy: Giữ chức tháng 7/1946 - 2/1948; Hàm Trung tướng (sau là Đại tướng). Thất bại trong chiến dịch Thu Đông 1947, bị thay thế.

3. Raoul Salan: Giữ chức tạm quyền tháng 2/1948 - 4/1948; Hàm Thiếu tướng (sau là Đại tướng).

4. Roger Blaizot: Giữ chức tháng 4/1948 - 9/1949; Hàm Trung tướng. Không thực hiện được chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt”, cũng bị thay thế.

5. Marcel Maurice Carpentier: Giữ chức tháng 9/1949 - 12/1950; Hàm Trung tướng (sau là Đại tướng). Thua đau tại Chiến dịch Biên giới bị thải hồi, Pháp đưa Tassigny sang thay.

6. Jean de Lattre de Tassigny: Giữ chức tháng 12/1950 - 12/1951: Hàm Đại tướng, kiêm Cao ủy. Năm 1951 con trai của ông là viên trung úy chết sau một cuộc tấn công của Việt Minh tại Ninh Bình, ông đưa xác con về Pháp mai táng rồi sang Việt Nam chọn Hòa Bình làm điểm quyết chiến mới. Vào thời điểm này, cái chết của con trai làm ông thêm suy sụp, bản thân lâm bệnh phải về nước và qua đời tại Pháp khi cuộc chiến còn dang dở.

7. Raoul Salan: Giữ chức tháng 1/1952 - 5/1953; Hàm Trung tướng (sau là Đại tướng). Năm 1948, ông là chỉ huy tất cả các lực lượng trên bộ của Pháp ở Đông Á, lên thay Tassigny. Tướng này lại bị thất bại trong 3 chiến dịch liên tiếp (Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào), tháng 5/1953, Pháp triệu hồi tướng Salan để thay thế.

8. Henri Navarre: Giữ chức tháng 5/1953 - 5/1954; Hàm Trung tướng. Navarre cử tướng dưới quyền là De Castriesi chỉ huy nằm tại chiến trường Điện Biên phủ. Song đây là tướng bị thua đậm nhất ở khắp các chiến trường Đông Dương. Trận thua đau nhất là ở chiến trường Điện Biên Phủ tháng 5/1954. St