Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

QUÂN ĐỘI CẦN LÀM TỐT HƠN NỮA TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


Quân đội nhân dân Việt Nam- quân đội của dân, do dân và vì dân- một quân đội cách mạng, bách chiến, bách thắng, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong thời chiến là đội quân bách chiến, bách thắng.Trong thời bình, là đội quân nhiêm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.

Đặc biệt, thời gian gần đây, với chức năng là đội quân lao dộng sản xuất, đội quân công tác, Quân đội ta đã không quản khó khăn, vượt lên mọi gian khổ, thực hiện hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ chống dịch COVID-19.

          Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các loại dịch bệnh trước đó. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà dịch bệnh gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Quán ttriệt tinh thần: Chống dịch như chống giặc, ngay từ những ngày đầu tiên, Quân đội đã thực hiện tố các mặt công tác như: Giáo dục, tuyên truyền, vận động người dân chấp hành chống dịch; tổ chức, bảo đảm cách ly tập trung; tổ chức lực lượng quân y cùng với lực lượng dân y nơi tuyến đầu; thực hiện giãn cách…Từ những việc làm trên, với kết quả đạt được, Quân đội luôn được Đảng, Nhà nước tuyên dương, khen ngợi, được nhân dân hết lòng gửi chọn niềm tin, hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ ngày càng thắm đượm.

          Hiện nay, đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, với nhiều biến thể mới, Quân đội hãy phát huy hơn nữa bản chất tốt đẹp của đội quân nhân dân Việt Nam anh hùng, cùng với nhân dân phòng, chống dại dịch COVID-19 trên nhưng vấn đề sau:

Một là, Thực hiện tốt việc tuyên truyền, giáo dục, động viên và gương mẫu thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19

Hai là, mỗi quân nhân là một chiến sĩ trong chống dịch; mỗi gia đình quân nhân là một pháo đài vững chắc trong chống dịch

Ba là, mỗi quân nhân, mỗi đơn vị gương mẫu chấp hành và thực hiện tốt việc giãn cách xã hội, thực hiện nghiêm chỉnh quy định cấm trại của đơn vị, vui vẻ, phấn khởi, vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ trực sẵn sang chiens đấu, vui tết đón xuân an toàn tiêt kiệm

 

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển

 


 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư)

 Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu.

 Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ.

 Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.

 Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

 Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Việt Nam đón công dân trở về từ vùng chiến sự Ukraine

 


Sáng 8/3 tại sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội), chuyến bay mang số hiệu VN88 của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam(Vietnam Airlines) đã hạ cánh an toàn sau chặng bay kéo dài hơn 10 tiếng từ Bucharest (Romania) đón những công dân Việt Nam đầu tiên trở về từ vùng chiến sự Ukraine.

Chuyến bay mang số hiệu VN88 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đưa 287 công dân, trong đó có 14 trẻ em dưới 2 tuổi và một số công dân có bệnh nền từ Bucharest (Romania) đã hạ cánh an toàn tại sân bay Nội Bài.

Đại diện lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, đại diện các Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải đã đón và thăm hỏi bà con tại sân bay. Đây là chuyến bay sơ tán nhân đạo thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, được tổ chức miễn phí để đón bà con trở về.

Để tổ chức thành công chuyến bay, Đại sứ quán Việt Nam tại Romania đã tích cực làm việc với các cơ quan chức năng sở tại đề nghị tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời thông tin đến công dân Việt Nam và hướng dẫn công dân đăng ký về nước. Những công dân đăng ký về nước lần này là những người sơ tán từ Ukraine sang Romania qua Moldova. Đại sứ quán đã trực tiếp đón công dân ta di chuyển từ Moldova đến hai điểm tiếp tại Bucharest và ra sân bay; đồng thời phối hợp với cộng đồng người Việt Nam tại Romania thu xếp phương tiện đi lại, chỗ ăn, ở tạm thời và cung cấp vật dụng thiết yếu cho công dân ta tại Romania trước khi lên máy bay về nước./.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta

 


Đây là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò tôn giáo trong thời kỳ quá độ.

Một là, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người, trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần chúng nhân dân.

Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 Mọi sự nóng vội, chủ quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ, mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH

Hai là, Tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ thể là:

-Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

-Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý

Ba là, phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.

QUÂN ĐỘI LÀ LỰC LƯỢNG TIÊN PHONG TRONG THỰC HIỆN GIÃN CÁCH TRONG CHỐNG DỊCH

 


       Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các loại dịch bệnh trước đay. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà chúng gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Với tinh thần: Chống dịch như chống giặc,thời gian qua, Quân đội Nhan dân Việt Nam luôn là tấm gương sáng và là lực lượng nòng cốt, lực lượng tiên phong nơi tuyến đầu chống dịch. 

Thực hiện tốt cách ly (5K) là một biện pháp quan trọng hàng đầu trong phòng chống dịch COVID-19. Bởi vì, nếu thực hiện tốt việc cách ly, nghĩa là ngăn cách không cho COVID lây nhiễm từ người này sang người khác thì vô hình dung ta đã vô hiệu hóa được dịch bệnh. Quán triệt sâu sắc tinh thần trên, có thể nói ngay từ thời gian đầu, khi dịch COVID-19 bùng phát, Quân đội đã thực hiện tốt việc cách ly xã hội, đó là sự gương mẫu chấp hành của mỗi quân nhân khi tiếp xúc nơi đông người. Đặc biệt cứ vào đỉnh của từng đợt dịch, hoặc có nghi ngờ ổ dịch, thì từng đơn vị quân đội, căn cứ vào nhiệm vụ của mình, luôn thực hiện tốt việc quản lý quân nhân trong doanh trại trong thời gian dài ngày. Với việc cấm trại dài ngày, Quân đôi đã góp phần giảm lượng người tiếp xúc trong xã hội. Đây thực sự là sự hy sinh và đóng góp lớn lao của Quân đội, chung tay cùng xã hội trong thực hiện giãn cách trong chống dịch COVID-19 thời gian vừa qua

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn xã hội


Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng LĐLĐ, Hội CCB, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo.

LLVT là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam. 

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


          Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tư do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trải qua những năm tháng xây dựng chiến đấu và trưởng thành, với những thắng lợi vẻ vang, Quân đội đã giữ trọn niềm tin của nhân dân là quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ bách chiến, bách thắng. Trong thời bình, với chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuát, Quân đội ta đã không quản khó khăn, vượt lên gian khổ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Thời gian qua, có nhiều nhiệm vụ, trong đó có các nhiệm vụ những vấn đề phi truyền thống như xóa đói, giảm nghèo, thiên tai, dịch bệnh. v.v… Đặc biệt, trong chống dịch COVID-19 vừa qua, Quân đội là lực lượng nòng cốt, đã góp phần quan trọng, mang lại nhieuf thành quả to lớn trong chống dịch. Đây thực sự là niềm tự hào và cũng là vinh dự của mỗi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các đợt dịch bệnh từ trước đến nay. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà chúng gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Với tinh thần của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta: Chống dịch như chống giặc, thời gian qua, Quân đội luôn xác định là lực lượng nòng cốt, lực lượng tiên phong ở mọi tuyến. Quán ttriệt tinh thần trên, ngay từ những ngày đầu tiên, Quân đội đã thẻ hienj rõ là lực lượng tiên phong trên tất cả các mặt của chống dịch như: Giáo dục, tuyên truyền vận động người dân chấp hành chống dịch; tổ chức,bảo đảm cách ly tập trung; tổ chức lực lượng quân y cùng với lực lượng dân y nơi tuyến đầu; tiên phong trong thực hiện giãn cách xx hội…Từ những việc làm trên, với kết quả đạt được, Quân đội luôn được Đảng, Nhà nước tuyên dương, khen ngợi, được nhân dân hết lòng mến mộ; thực sự là đội quân dược cả hệ thống chính trị và toàn dân gửi chọn niềm tin. Hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ đã được khắc họa đẹp đẽ trong lòng người dân, đến giai đoạn này, lại càng tỏa sáng và thắm đượm trong mõi người dân Việt Nam.

          Thời gian tới, với tính chất và mức độ nguy hiểm của đại dịch, Quân đội càng phải phát huy hơn nữa khí phách anh hùng cách mạng, để mỗi quân nhân thực sự là một pháo đài chống dịch.

Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng của Đảng ta

 


Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng của Đảng ta, bởi vì:

+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và CNMLN

+ Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có khoảng 27 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ

Nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của chính sách dân tộc ở Việt Nam

 

Đảng cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB. Sự thật, Hà Nội 1991, tr16, xác định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.”

Cụ thể:

 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư)

 Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu.

 Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ.

Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.

 Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

 Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Các dân tộc Việt Nam luôn bình đẳng, đoàn kết

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

Đấu tranh âm mưu hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 


Làm rõ âm mưu, thủ đoạn của địch; chống tư tưởng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, bị động. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng vấn đề dân tộc. Củng cố thế trận QP toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn xung yếu, vùng trọng điểm về QP&AN

           Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thé trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đạp tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác bảo đẩmn ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dan tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng phát triển nhan các khu kinh té kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tiếp tục giiair quyết tốt các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở các vùng dân tộc.

 

 KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3 VÀ

 KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG

  Cuối thế kỷ 19, Chủ nghĩa Tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ, Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều Phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương cho họ rất rẻ mạt, căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8/3/1899 nữ công nhân ở Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ lam. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại Thành phố Si – Ca - Gô và Nưu ước. Mặc dù bọn Tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào Phụ nữ lao động trên thế giới đặc biệt Phụ nữ ở Đức, một nước đại kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Phong trào đấu tranh đã xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc, đó là Bà Cla-ra-zet-kin (Đức) và bà Lô-Ra Lúc- xăm- bua (Ba lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ, nên năm 1907 hai Bà đã cùng phối hợp với Crup-xcai-a (Vợ của Lê- Nin) vận động thành lập Ban “Thư ký phụ nữ Quốc tế”, Bà Cla-ra-zet-kin được cử làm Bí thư.

Ngày 26 và 27 tháng 8 năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan Mạch) đã quyết định lấy ngày 8/3 làm ngày Quốc tế phụ nữ, ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với khẩu hiệu: Ngày làm việc 8 giờ; việc làm ngang nhau; bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Từ đó ngày 8/3 đã trở thành ngày truyền thống của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. 

Từ đó đến nay, ngày 8/3 trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó, phụ nữ tiến bộ khắp năm Châu tổ chức kỷ niệm ngày 8/3 với những nội dung và hình thức phong phú.

Ở nước ta, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc.

Hai Bà Trưng là cách gọi tôn kính đối với hai nữ anh hùng là Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán vào năm 40 sau Công nguyên. Hai Bà Trưng là hai chị em sinh đôi, con của lạc tướng Huyện Mê Linh, Theo thần tích Đền Hạ Lôi thì hai Bà sinh vào năm Giáp tuất tức năm 14 sau Công nguyên. Lớn lên, nhờ được sự chăm sóc và giáo dục của người mẹ hiền là bà Man Thiện, cả hai chị em đều mạnh khoẻ, giỏi võ nghệ, tính khí hùng dũng, gan dạ lại thích làm việc nghĩa cả. Trưng Trắc lấy chồng là Thi sách, con trai lạc tướng Chu Diên – cũng là người có chí lớn, bấy giờ Nhà Hán đô hộ nước ta, áp bức bóc lột rất nặng nề. Thái thú Giao chỉ (Đồng bằng Bắc Bộ) lúc ấy là Tô Định rất tham bạo, Y ra sức tìm cách trấn áp các dòng họ lạc tướng cũ, hòng kéo dài ách đô hộ nước ta. Nhiều người đã bị Y giết, trong đó có Thi Sách chồng bà Trưng Trắc. Nghe tin Thi Sách bị Thái thú Tô Định giết, Trưng Trắc và em rất đau buồn và căm phẫn, quyết nổi dậy đánh đổ bọn xâm lược, Trưng Nhị được cử đi liên hệ với các hào kiệt ở các nơi, còn Trưng Trắc ở nhà chiêu mộ binh sĩ. Mùa xuân năm 40, khi Bà dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn (Hà Tây), trong buổi lễ ra quân, Trưng Trắc đã đọc 4 lời thề:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin đem lại nghiệp xưa Họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng Chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh thành

Nghĩa quân tiến đánh Trụ sở quân Giao chỉ ở Luy Lâu (Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh). Nghĩa quân đánh đâu thắng đấy, Hai Bà thu phục được 65 thành. Trưng Trắc được tôn lên làm Vua, Sử gọi là Trưng Vương hay Trưng Nữ Vương. Không được bao lâu, năm 42, Nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang đàn áp. Bị Giặc chặn đánh ở nhiều nơi. Cuối xuân, đầu hạ năm 43, quân của Hai Bà đánh mạnh vào doanh trại nhưng bị thất bại. Quân Hán thừa cơ tấn công, quân của Hai Bà phải rút về Cấm Khê (Ba Vì - Hà Tây). Tại đây một trận chiến quyết liệt xảy ra và kết thúc bằng sự hy sinh của hai vị nữ anh hùng.

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo

Chị em thất thế đánh liều với sông

Để tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc hai vị nữ anh hùng hy sinh vì sự nghiệp cao cả của Dân tộc, nhiều nơi nhân dân địa phương lập Đền thờ tưởng nhớ Hai Bà Trưng. Trong rất nhiều nơi thờ, có 3 nơi được nhiều người biết đến là Đền Hát Môn (Phúc Thọ – Hà Tây), đền Hạ Lôi (Yên Lãng- Vĩnh Phúc) và Đền Đồng Nhân (Hà Nội).

Truyền thuyết dân gian kể rằng Hai Bà tự trẫm ở Hát Giang (đoạn sông Đáy tiếp liền với sông Hồng). Nhưng sử sách của ta cũng như sử của Trung Quốc đều chép là Hai bà hy sinh trong chiến đấu ở chiến trường Cẩm Khê.

Lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng không chỉ để cho chúng ta có dịp tưởng nhớ công đức 2 bà mà còn để cho tất cả chúng ta hãnh diện về khí phách anh hùng, sự nghiệp phi thường của 2 bà, một tấm gương sáng để hậu thế noi theo. Chiến công hiển hách của 2 bà đã ghi những nét son vào lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, là niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam.

Tiếp nối truyền thống hào hùng đó, phụ nữ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục cống hiến, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ thực tiễn cuộc sống và chiến đấu, đã hình thành nên những phẩm chất, đức tính quý báu rất riêng của người phụ nữ Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát qua 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ VN, hưởng ứng phong trào thi đua “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Cán bộ, hội viên Phụ nữ Học viện Quốc phòng đã đóng góp quan trọng vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Học viện và các đơn vị. Trên từng cương vị công tác chị em luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết thân ái, năng động sáng tạo vượt qua mọi khó khăn thử thách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

PHÁT HUY HƠN NỮA TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


Yêu nước, đoàn kết là truyền thống mấy ngàn năm trong quá trình dựng nước và giữ nước- là nét đẹp của con người Việt Nam tồn tại phát triển đến ngày nay. Tính doàn kết của con người Việt Nam đã giúp Việt Nam vượt qua mọi gian lan, mưa bom, bão đạn để có tiền đồ như ngày nay

          Thời gian vừa qua, trong chống dịch COVID-19, Việt Nam đã phát huy tốt tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong chống dịch, đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Kết quả chống dịch thời gian qua của Việt Nam là điểm sáng để cộng đồng thế giới tham khảo, học tập.

Tuy nhiên, trong thòi gian gần đây, trong cộng đồng đã xuất hiện tình trạng lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn đến trách nhiệm kém ở một số người dân trong chống dịch. Hiện nay, tại một số khu vực đông người còn nhiều hiện tượng người dân không chấp hành nghiêm quy định giãn cách, nhất là trong các khu vực quán ăn, quán nhậu, quán cà phê, quán vui chơi, giải trí…Chính không thực hiện nghiêm quy định giãn cách này là một trong những nguyên nhân căn ban mà dịch bùng phát lớn như Hà Nội hiện nay. Nguyên nhân chính có hiện tượng này là do nhiều người dân nghĩ rằng khi đã tiêm đủ liều vắc xin cơ bản thì sẽ không bị lây nhiễm, hoặc có bị lây nhiễm cũng sẽ bị mắc ở dạng nhẹ.

Song song đó, cùng với nguyên nhân ý thức trách nhiệm kém của một số người dân, còn có một nguyên nhân rất quan trọng đó là sự vào cuộc của chính quyền và các cơ quan chức năng. Chính quyền và các cơ quan chức năng có vai trò rất quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục, định hướng, tổ chức người dân thực hiện chống dịch. Nếu chính quyền và cơ quan chức năng làm tốt vấn đề này sẽ là cơ sở, nền tảng cho toàn dân chống dịch. Tuy nhiên qua theo dõi trong thời gian vừa qua, các cấp chính quyền và cơ quan chức năng về cơ bản đã phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng cũng có mặt, có lĩnh vực chư phát huy tốt. ví dụ như: Còn dể các quán ăn, khu vui chơi giải trí tập trung đông người, không thực hiện nghiêm 5K. Một số quán ăn, tuy dã cấm uống rượu, bia nhưng vẫn còn để tình trạng này sảy ra. Mọt nguyên nhân rất quan trọng nữa là sự chấp hành của một số chủ cửa hàng, quán ba trong thời gian qua, chưa thực sự nghiêm ở việc duy trì giãn cách người dân trong quns của mình….

Thiết nghĩ, thời gian này, bên cạnh phát huy ý thức trách nhiệm của người dân, cần phải phát huy tính năng động, chủ động của cả hệ thống chính trị, có như vậy, chúng ta mới chiến thắng được dại dịch COVID-19.

 

THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ LÀ CƠ SỞ BẢO ĐẢM ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT, LÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng ta thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể, vì lợi ích chung của cách mạng. Để tổ chức đảng thực sự vững mạnh, nhất thiết phải giữ vững và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này. Đây vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là vấn đề cơ bản lâu dài trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt tập trung và dân chủ; hai mặt này tác động, bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung; còn tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được xác định và phát huy. Việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng phải luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật. Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định. Nếu thực hành dân chủ tốt, Đảng sẽ quy tụ được trí tuệ, khơi dậy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, tạo sự đoàn kết, thống nhất, tình đồng chí, giúp nhau hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Do đó, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ tạo cho Đảng đoàn kết, kỷ luật thống nhất, nghiêm minh, mà còn tạo cơ chế hữu hiệu nhất để phát huy mọi sáng kiến, sáng tạo, khai thác mọi trí tuệ của đảng viên, của cơ sở, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và của toàn Đảng.

    Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng đều khẳng định điều nói trên; đa số các tổ chức đảng trong toàn Đảng thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy, đây là một trong những nguyên nhân làm cho Đảng ta có sức mạnh để lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác to lớn hơn. Tuy nhiên, ở không ít tổ chức đảng hiện nay, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ còn mặt hạn chế; một số đảng viên do tính đảng không cao, có tư tưởng nể nang, “dĩ hòa vi quý”, “dễ người, dễ ta”, chưa thật sự mạnh dạn trong đấu tranh bảo vệ lẽ phải… từ đó, làm giảm đi sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên, hệ quả là một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên bị các cấp xử lý kỷ luật và trong đó có nguyên nhân hết sức quan trọng là tổ chức đảng, đảng viên chấp hành và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách chưa đảm bảo theo quy định của Đảng.

    Xuất phát từ tình hình trên cũng như để thực hiện nghiêm và giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thiết nghĩ cần quan tâm thực hiện một số việc sau:

    Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức để mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng...; quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về những điều đảng viên, cán bộ công chức, viên chức không được làm; quy định của Đảng về việc kiểm soát quyền lực; về quy chế làm việc và nội quy của cơ quan, đơn vị....

    Thứ hai, mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

    Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đồng thời, có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát quyền lực theo hướng quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể nhưng không ngừng đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu theo quy định của Đảng.

    Thứ tư, bản thân mỗi đảng viên cần phát huy tính đảng, tính gương mẫu, tự giác, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm trong thực thi công vụ và trong các quan hệ của mình cũng như tự giác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình.

    Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là cơ sở bảo đảm hàng đầu để giữ vững bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Nắm vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ là một bảo đảm quan trọng để xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, góp phần củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời kỳ mới. Việc nhận thức không thấu đáo, thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc này không chỉ làm tổn hại đến vị thế, sức mạnh của Đảng, mà còn là một trong những căn nguyên dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên./

Hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn

 


Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa pháp luật, chính sách vào cuộc sống, trên cơ sở cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu cầu quy định trong chính sách

 Kể từ khi đổi mới đến nay, chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá dầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn bản do quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng chính phủ. (Ủy ban dân tộc: Báo cáo tại hội thảo “Đề xuất các chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2020” Tháng 9/2015). Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với các DTTS/ vùng DTTS và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với DTTS nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với đồng bào DTTS/đồng bào DTTS được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển KT-XH của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lạp kế hoạch dến tổ chức thực hiện.

Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo  cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ chức thực hiện.

Đổi mới công tác đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số

 


Trong những năm tới Học viện dân tộc và một số trường đại học nên có chuyên ngnahf quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm tiến tới chuẩn hóa yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này. Các cơ sở đào tạo đại học/ các học viện cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để mở mã ngành đào tạo sau đại học chuyên ngnahf QLNN về CTDT nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về công tác này.

Đặc biệt phải chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản ly nhà nước về CTDT là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc bằng các biện pháp cụ thể:

Một là: Ủy ban dân tộc và các địa phương tiến hành điều tra, phân loại cán bộ làm… là người DTTS một cách công khai, dân chủ, sát với thực tế. Từ đó có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ đương nhiệm. Đối với đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, cùng với kiến thức chuyên ngành cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về dân tộc, mienf núi, công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Đối với đội ngũ cán bộ các cấp ở địa phương, cần được cập nhật những chủ trương, chính sách mới, đào tạo về kỹ năng triển khai chính sách, chương trình, đề án cho hiệu quả nhất.

Đồng thời hằng năm có kế hoạch tawngchir tiêu đào tạo cán bộ… là người DTTS như: Học viện dân tộc cần phối hợp với các trường phổ thông dân tộc nội trú hướng nghiệp cho những học sinh người DTTS đang học tại trường PTDTNT theo nanghf QLNN vè CTDT; tăng chỉ tiêu xét tuyển học sinh đi học hệ cử tuyển tại các trường có chuyên ngành dân tộc học/quản lý nhà nước đúng đối tượng là người DTTS với sự trợ cấp học bổng và miễn học phí bằng ngân sách của tỉnh và của nhà nước.

Hai là, củng cố kiện toàn hệ thống các khoa, trường đào tạo cán bộ QLNN về CTDT. Tăng thêm điều kiện và các phương tiện kỹ thuật giảng dạy, học tập cho các cơ sở dào tạo này. Tại các cơ sở dào tạo cán bộ QLNN về CTDT, cần coi trọng đúng mức các học sinh về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, tập quán của DTTS.

Ba là, Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách dãi ngộ cán bộ làm công tác này là người DTTS nói riêng. Với đọi ngũ cán bộ QLNN về CTDT là người DTTS phải có quy hoạch trước mắt, lau dài và ổn định bang việc lữa chọn những cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt cử đi đào tạo/đàotạo lại/ đàotạo nâng cao và có các ché tài raphuwowngcj dể họ phải quoay về phục vụ địa phương nơi họ đã sinh sống. Việc quy hoạch và bố trí cán bộ làm công tác QLNN về CTDT phải có phương án chủ động, hợp lý trong toàn nành với từng địa phương, từng dân tộc cụ thể (nhát là đói với các vùng, các dân tộc hiện nay có tỷ lệ cán bộ DTTS còn thấp

          - Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc nhằm tăng cường sự tham gia vào bộ máy nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đủ mạnh.

          - Trú trọng làm tốt công tác quy hoạch dự nguồn cán bộ DTTS để có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý, hình thành đội ngũ cán bộ DTTS đông về số lượng, giỏi về chuyên môn, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của các địa phương

         

          - Xây dựng đội ngũ tri thức người dân tộc, chính sách đói với người có uy tín, tiêu biểu của các DTTS.

- Cụ thể hóa thêm chính sách cán bộ đối với một số vùng nhóm dân tộc để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới.

          - Xây dựng chế độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cacns bộ, công chức, nhất là cán bộ cong tác ở vùng DTTS, bảo đảm mỗi người có thể phát huy hết năng lực các nhân; đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm của mình trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm các quyền của công dân, quyền con người đối với đồng bào dân tộc là các đối tượng có trình độ, năng lực pháp lý hạn chế, dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự bảo vệ.

Quan điểm Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc

 


 Quan điểm CN MLN: Các dân tộc bình đẳng, giúp nhau

Trong cương lĩnh dân tộc của Lê nin xác định: Để thực hiện thành công mục tiêu cách mạng XHCN, các tộc người trong quốc gia dân tộc hay các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, tự quyết, đoàn kết tương trợ giúp nhau, cùng nhau phát triển . Đó là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt đó là dân tộc thiểu số hay đa số, trình độ phát triển cao hay thấp. Quyền đó phải được pháp luật bảo vệ và thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, do quá trình hình thành và điều kiện tự nhiên, các dân tộc có quá trình hình thành, điều kiện tự nhiên khác nhau dẫn tới  trình độ khác nhau, để các dân tộc có trình độ phát triển như nhau đáp ứng được quyền bình đẳng, quyền tự quyết của mình, đòi hỏi phải phải trải qua một thời gian dài, với những chủ trương, chính sách phù hợp của cách mạng XHCN.

Theo Hồ Chí Minh: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau

Vận dụng sáng tạo quan điểm CNMLN, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc chỉ có thể được thực hiện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Thực hiện nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các tộc người. Phát huy được khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù của từng dân tộc, từng vùng miền. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số.

 

Tuy Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, nhưng các dân tộc luôn đoàn kết trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.

 


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện: Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


Yêu nước, đoàn kết là truyền thống của con người Việt Nam từ mấy ngàn năm trong quá trình dựng nước và giữ nước- là nét đẹp, là nền móng, cơ sở và cũng là động lực để các dân tộc Việt Nam tồn tại phát triển đến ngày nay.

          Thời gian vừa qua, trong các đợt chống dịch COVID-19, chúng ta đã phát huy tốt tinh thần yêu nước, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong quá trình chống dịch. Chính sự tương thân, tương ái, là nguyên nhân căn bản, là cơ sở quan trọng để chúng ta thực hiện được chiến lược 5K, vắcxin thắng lợi. Tuy nhiên tinh thần yêu nước, tính đoàn kết chỉ được phát huy khi chúng ta phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đặc biệt là hệ thống chính trị, chứ không chỉ dừng lại ý thức tự giác của người dân.

          Một ví dụ là, thời gian gần đây ở Hà Nội dịch COVID-19 đã lây lan nhanh trong công đồng, mỗi ngày bình quân trên dưới 8000 ca. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là sự vào cuộc của chính quyền và các cơ quan chức năng. Chính quyền và các cơ quan chức năng có vai trò rất quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục, đinh hướng, qunr lý tổ chức người dân thực hiện chống dịch. Nếu chính quyền và cơ quan chức năng làm tốt vấn đề này sẽ là cơ sở, nền tảng cho toàn dân chống dịch. Tuy nhiên qua theo dõi trong thời gian vừa qua, các cấp chính quyền và cơ quan chức năng về cơ bản đã phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng cũng có mặt, có lĩnh vực chưa phát huy tốt. chẳng hạn như: Còn để các quán ăn, khu vui chơi giải trí tập trung đông người, nhiều cơ sở không thực hiện nghiêm 5K. Một số quán ăn ở Hà Nội, tuy đã cấm uống rượu, bia nhưng vẫn còn để tình trạng này sảy ra.

Thiết nghĩ, thời gian này, song song với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, chính quyền và các cơ quan chức năng cần làm tôt hơn nữa trong chống dịch COVID-19, nhất là việc kiểm tra, sám giát thực hiện 5 k. Có như vậy chúng ta mới thực hiện tốt được công tác phòng, chống COVID-19.

Đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng

 

        Đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng                                                  

           Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác tư tưởng trong quân đội; cùng với các mặt khác của công tác tư tưởng góp phần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất « bộ đội cụ Hồ », xây dựng phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ trong quân đội, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, tạo nên sự thống nhất trong toàn quân về tư tưởng và hành động.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, trong thời gian qua, cấp uỷ, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; khẳng định và bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong quân đội và sự đồng thuận trong xã hội. Song, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đối với cách mạng Việt Nam nói chung và đối với quân đội nói riêng, lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta để bóp méo, thổi phồng, bịa đặt, kích động các phần tử xấu chống đối lại Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong các dịp tổ chức các sự kiện lớn của đất nước, của Quân đội, chuẩn bị đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII...các thế lực thù địch đưa ra các quan điểm đối nghịch nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng, quan điểm đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Thực chất, các quan điểm phản động này nhằm tuyên truyền cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng XHCN và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN của nước ta.

Từ tình hình trên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của quân đội, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp chủ yếu:

Một là, tăng c­ường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, phát huy vai trò trách nhiệm của chính ủy (chính trị viên), ng­ười chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ đảng viên các cấp.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, ph­ương pháp, ph­ương tiện tiến hành công tác t­ư tư­ởng trong đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

Ba là, nắm vững nguyên tắc, chủ động đấu tranh với những quan điểm tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

 Bốn là, thường xuyên củng cố, kiện, toàn nâng cao năng lực của cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác t­ư t­ưởng.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp để nâng cao chất l­ượng, hiệu quả công tác t­ư t­ưởng trong đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.