Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022
Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay
Bác sĩ quân y Việt Nam lan tỏa ý nghĩa ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 tại Nam Sudan
TPO - Hưởng ứng Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, tại Nam Sudan, Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 3 Việt Nam đã tổ chức hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc vệ sinh phụ khoa hằng ngày cho phụ nữ người bản địa và tặng quà ở Bệnh viện đa khoa Bentiu.
Tham
gia chương trình còn có sự đồng hành khám bệnh và cấp phát thuốc của đội ngũ y
bác sĩ thuộc Tiểu đoàn Mông Cổ. Tất cả đã cùng góp sức để tạo nên một buổi hoạt
động có ý nghĩa nhất dành cho phụ nữ Nam Sudan để cùng vinh danh ngày Quốc tế
Phụ nữ.
Chương
trình đã diễn ra thành công và góp phần mang đến cho mỗi phụ nữ trên địa bàn
Bentiu những kiến thức mới và vô cùng hữu ích. Bác sĩ Tống Vân Anh, Bí thư Chi
đoàn, Tổ trưởng tổ Phụ nữ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 chia sẻ: “Chúng tôi
muốn gửi gắm thông điệp về vai trò của phụ nữ, trên tất cả các quốc gia, cho dù
quốc gia đó còn đang khó khăn mà trước hết để phụ nữ tại Nam Sudan hiểu được
vai trò của họ, để họ biết trân trọng bản thân, tự bảo vệ bản thân thật tốt,
trong hoàn cảnh thiếu thốn nguồn nước sạch sinh hoạt và nhiều nguy cơ gây nhiễm
bệnh khác”. nvs
Nguyễn Minh
Các hãng vũ khí trông chờ châu Âu mạnh chi cho quốc phòng vì xung đột ở Ukraine
TPO - Chiến dịch
quân sự của Nga ở Ukraine đang thôi thúc châu Âu tăng cường chi tiêu quốc
phòng, và điều này có thể mở ra một kỷ nguyên mua sắm mới do Đức dẫn đầu, các
nhà sản xuất tham gia hội chợ vũ khí tại Ả-rập Xê-út trong tuần này nhận định.
Triển lãm Quốc phòng thế giới được tổ chức khi chiến dịch tấn
công lớn nhất vào một quốc gia châu Âu trong 70 năm đang xảy ra. Tại đó, các
nhà sản xuất vũ khí và phương tiện quân sự lớn của thế giới như Airbus, MBDA và
Leonardo đang trưng bày sản phẩm của họ cùng với gần 600 hãng vũ khí khác.
Cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đang thôi thúc sự quan tâm vào
các vấn đề an ninh, sau nhiều năm châu Âu giảm chi tiêu quốc phòng và mệt mỏi
với thất bại của NATO ở Afghanistan.
Đức, quốc gia lâu nay vẫn hạ thấp vai trò của quân đội trong
chính sách đối ngoại, cùng Đan Mạch và Ba Lan đều cho biết sẽ tăng cường chi
tiêu quốc phòng "khi xung đột xảy ra ngay trước thềm nhà của mình".
“Hoà bình trong mấy thập kỷ đã khiến mọi người nghĩ hoà bình sẽ
kéo dài mãi mãi. Không may là mặc định đó đã sai”, Hristo Ibouchev, giám đốc
điều hành của hãng vũ khí Arsenal của Bulgaria, nói với Reuters.
Thủ tướng Đức Olaf Scholz cho biết Berlin có thể mua các chiến
đấu cơ tàng hình F-35 từ Mỹ, nhưng sau này có thể mua những vũ khí tiên tiến từ
châu Âu.
Năm nay, Đức dành 100 tỷ euro (109 tỷ USD) ngân sách cho quốc
phòng, tăng hơn gấp đôi mức 47 tỷ euro của năm ngoái.
“Chỉ riêng thông báo của Đức cũng đã mở ra một kỷ nguyên mới của
mua sắm quốc phòng nếu EU làm theo”, Andrew MacDonald, quản lý của tạp chí quốc
phòng Jane’s nói với Reuters.
Nhiều người khác cho rằng sau những diễn biến như Nga sáp nhập
bán đảo Crimea năm 2014, các nước EU đã chú ý nhiều hơn đến an ninh, và xung
đột Nga – Ukraine lần này càng thúc đẩy họ thực hiện kế hoạch.
“Vai trò của quốc phòng đang thay đổi mạnh mẽ”, một giám đốc của
châu Âu nói, và dự báo chi tiêu quốc phòng của châu Âu tăng không chỉ vì xung
đột lần này mà còn bởi chính sách “Mỹ là trên hết” của cựu tổng thống Mỹ Donald
Trump cho thấy châu Âu cần tự lo.
Tại triển lãm lần này, các hãng của Nga trưng bày nhiều loại
pháo và tên lửa dẫn đường chính xác.
Lãnh đạo các công ty Nga từ chối trả lời câu hỏi liệu họ có được
thanh toán nếu bán vũ khí cho nước khác, khi phương Tây đã áp hàng loạt lệnh
trừng phạt các ngân hàng và doanh nghiệp Nga hay không.
Trong khi đó, các xe bọc thép và vũ khí trong gian gần như trống
của Ukraine sẽ được đưa về nước ngay sau khi triển lãm kết thúc, để sử dụng
trong chiến dịch đối phó với quân Nga.
“Ukraine đang thi hành thiết quân luật, và mọi thứ có thể dùng
cho quân đội Ukraine đều sẽ được dùng”, đại diện duy nhất của một hãng quốc
phòng Ukraine cho biết. nvs
Theo Reuters.
Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Trong đó có lĩnh vực kinh tế.
Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh
đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định
phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .
Chăm lo dân sinh, nâng cao dân
trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất
của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt
được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”.
Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực
và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh
tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả
thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch
Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế
Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng
trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung
hạn.
Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ
mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh
tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ
chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam
sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.
Báo chí quốc tế trong thời gian
gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính
sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận
sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của
công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt
Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi
Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.
Việt Nam ứng cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025
Ngày 22-2, tại trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) ở Geneva, Thụy Sĩ,
Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ đã khai mạc.
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hoạt động mở đầu của khóa họp là
phiên họp cấp cao được tổ chức theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của hơn
110 đoàn cấp cao. Đoàn Việt Nam do Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm
Bình Minh dẫn đầu. Bà Nazhat Shameem Khan (Đại sứ Fiji)-Chủ tịch HĐNQ chủ trì
phiên khai mạc, với sự tham dự và phát biểu của ông Volkan Bozkir, Chủ tịch Đại
hội đồng LHQ, ông Antonio Guterres, Tổng thư ký LHQ và bà Michelle Bachelet,
Cao ủy Nhân quyền LHQ.
Phát biểu tại phiên họp cấp cao ngày 22-2, Phó thủ tướng, Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh chia sẻ những khó khăn do đại dịch Covid-19
khiến hàng triệu người thiệt mạng và đời sống hàng tỷ người bị tác động tiêu
cực, tạo áp lực nặng nề lên hệ thống y tế và an sinh xã hội của tất cả các nước
và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền con người. Phó thủ tướng, Bộ trưởng Phạm
Bình Minh cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực, phục hồi khi thế giới bước
sang trạng thái “bình thường mới” và cho rằng đại dịch là cơ hội để thế giới
xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, trong đó sự đoàn kết và hợp tác quốc tế là
yếu tố then chốt để giúp vượt qua thách thức.
Phó thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định việc bảo đảm
cho xã hội an toàn trước dịch bệnh là cách tốt nhất để bảo đảm việc thụ hưởng
đầy đủ các quyền con người cho mỗi thành viên trong xã hội; nêu bật các chính
sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
trong bối cảnh đại dịch, vừa kiểm soát đại dịch, chăm sóc sức khỏe người dân,
vừa duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; thông tin về
những đóng góp của Việt Nam cho nỗ lực chung của thế giới ứng phó với đại dịch
Covid-19 như hỗ trợ khẩu trang, vật tư y tế cho hơn 50 nước và đối tác quốc tế,
đề xuất và được Đại hội đồng LHQ thông qua bằng đồng thuận Nghị quyết chọn ngày
27-12 là Ngày Quốc tế Phòng, chống dịch bệnh để nâng cao nhận thức về việc
phòng ngừa và ứng phó các dịch bệnh. Tại phiên thảo luận cấp cao, Phó thủ
tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng đã thông báo việc Việt Nam, với tư cách
ứng cử viên của ASEAN, tham gia ứng cử vị trí thành viên HĐNQ LHQ nhiệm kỳ
2023-2025.
Cũng tại phiên họp, Tổng thư ký LHQ nhấn mạnh đại dịch Covid-19
khiến các thách thức về quyền con người trở nên trầm trọng hơn, ảnh hưởng nặng
nề tới các nhóm yếu thế và kêu gọi tập trung hành động trong hai lĩnh vực ưu
tiên gồm chống phân biệt chủng tộc, phân biệt đối xử, bài ngoại và bình đẳng
giới. Tổng thư ký LHQ phê phán chủ nghĩa dân tộc vaccine, tình trạng tán phát
các thông tin sai lệch hoặc tình trạng xâm phạm, thu thập, lợi dụng thông tin
của người dân để phục vụ lợi ích thương mại. Bà Michelle Bachelet cũng phát
biểu chia sẻ tác động sâu rộng của đại dịch Covid-19 đối với việc bảo đảm và
thúc đẩy quyền con người trên thế giới và nhấn mạnh các giải pháp ứng phó với
đại dịch cần dựa trên cơ sở bảo đảm các quyền con người, niềm tin của cộng
đồng, các thể chế dân chủ hiệu quả.
KHI TỔNG THỐNG ZELENSKY HIỂU RA VẤN ĐỀ. MUỘN CÒN HƠN KHÔNG!
Theo thông tin từ các hãng truyền thông phương Tây thì tiểu đoàn Azov - nhóm bán vũ trang cánh hữu khét tiếng của Ukraine, mà ngay cả Mỹ cũng không muốn liên quan, đã bị lực lượng Chechnia và Quân SOS Nga ở Mariupol khai tử. Họ bị chặn đánh và bị tiêu diệt gần như toàn bộ trong hai ngày, từ 07-08/3. Bên cạnh đó, hôm nay Tổng thống Ukraine, Zelensky đã chua chát nhìn nhận: "Còn về NATO, tôi hiện không còn hứng thú với vấn đề này sau khi chúng tôi nhận ra rằng NATO chưa sẵn sàng chấp nhận Ukraine. Liên minh này sợ những điều mâu thuẫn và đối đầu với Nga", nhà lãnh đạo Ukraine nói thêm.
Hiện ông Zelensky đã có những biểu hiện xuống nước, trước nguy cơ cả Kiev và Ukraine thất thủ. "Tôi đã sẵn sàng cho một cuộc đối thoại, nhưng chúng tôi chưa sẵn sàng đầu hàng", ông Zelensky nói trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Mỹ ABC News, khi được hỏi liệu Ukraine có sẵn sàng tuân thủ các điều kiện mà phía Nga Nga hay không. "Đó là bởi vấn đề không phải về tôi, mà là về những người đã bỏ phiếu cho tôi", ông Zelensky giải thích.
Nhìn tình hình hiện nay thì nếu Ukraine tiếp tục kháng cự, cái giá mà họ phải trả là vận mệnh dân tộc, là lãnh thổ, lãnh hải... người Nga đang tăng tốc và ngày càng siết chặt vòng vây. Thượng sách bây giờ là chấp nhận yêu cầu của Nga về trung lập hoá Ukraine, công nhận Crimea và Dobass. Nếu ông Zelensky và người tiền nhiệm sớm nhận ra vấn đề, không đối đầu Nga, không yêu cầu gia nhập NATO, không giết người ở Dobass thì sao có cái hoạ hôm nay.
Yêu nước ST.
Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo
So với pháp lệnh tín ngưỡng, tôn
giáo và văn bản hướng dẫn thi hành pháp lện, thì nội dung đăng ký sinh hoạt tôn
giáo tập trung có điểm mới, như: chủ thể dược thực hiện quyền sinh hoạt tôn
giáo tập trung giành cho không chỉ tín đồ thuộc tổ chức tôn giáo, người theo
tôn giáo thuộc tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, mà nhóm
người theo tôn giáo nhưng chưa có tổ chức, cũng được thực hiện; đăng ký sinh
hoạt tôn giáo tập trung nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tất
cả mọi người được xem là một bước đẻ tiến tới đăng ký hoạt động tôn giáo, công
nhận tổ chức tôn giáo.
Về đăng ký hoạt động tôn giáo: Luật
quy định: để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức phải đáp
ứng đủ các điều kiện, đó là: có giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tôn chỉ, mục
đích, quy chế hoạt động không trái với quy định của pháp luật; tên của tổ chức
không trùng với tên của tổ chức tôn giáo, hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng
ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc
tên danh nhân, anh hùng dân tộc; người đại diện, người lãnh đạo là tổ chức tổ
chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt nam, có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh
vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có nán tích hoặc không phải là người đang bị
buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; có địa điểm hợp pháp
để đặt trụ sở; nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại
điều 5 vủa Luật.
Sau
khi được cấp chứng nhận đăng ký hoạt dộng tôn giáo, tổ chức được tổ chức các
cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử chức việc, sửa chữa, cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ
thiện, nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương.
Các hoạt động tín ngưỡng trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín
ngưỡng khi thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh, trạt tự an toàn xã
hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường.
Nhằm tạo điều
kiện cho cơ sở tín ngưỡng hoạt động có hiệu quả, Luật quy định cơ sở tín ngưỡng
phải có người đại dieẹn hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm trước pháp luật về
các hoạt động diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng, như đăng ký hoạt động tín ngưỡng;
thông báo việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; đăng ký tổ chức lẽ hội tín
ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ
nhưng có thay đổi; quản lý và sử dụng khoản thu đúng mục đích, công khai, minh
bạch.
Người đại diện hoặc thành viên ban
quản lý cơ sở tín ngưỡng phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Việc bầu cử
người đại diện hoặc thành viên ban quản lý do ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ
sở tín ngưỡng phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức để cộng
đồng dân cư bầu, cử. Căn cư svào keét quả bầu, cử, Ủy ban Nhân dân cấp xã có
văn bản công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý trong thời hạn 5
ngày làm vieẹc. Đây cũng là một trong những quy định mới của Luật so với Pháp
lệnh.
Hoạt động tín ngưỡng còn có một số quy
định mới, như việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng hằng năm của cơ sở tín ngưỡng
phỉat thực hieẹn đăng ký chậm nhất là 30 ngày trước ngày cơ sở tín ngưỡng, trừ
trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật, các hoạt động tín ngưỡng không có
trong văn bản đăng ký đã được chấp thuận thì phải đăng ký bổ sung; các lễ hội
tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng
định kỳ nhưng có thay đổi thay vì phải xin phép thì nay chỉ phải đăng ký.
Chủ thể thực hiện quyền tín ngưỡng, tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Cụ thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến
pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào”, Luật quy định chủ thể thực hieẹn quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là “mọi người” (khoản 1 Điều 6)
Bên cạnh đó Luật cũng quy định mỗi
người có quỳen bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, thực hành lễ nghị tín
ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo, quyền vào
tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở, đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn
giáo.
Đối với người chưa thành niên, khi
xuất gia vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc theo học tại cơ sở đào tạo tôn giáo
phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm
giam theo quy định của pháp luật; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang
chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở
cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn
giáo.
Như vạy quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị
giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi
Chính sách tôn giáo và quy định quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc
hội khóa XIV kỳ họp thức 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2018.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 9
chương, 68 điều. Các chương đó là:
- Chương 1: Những quy định chung (gồm
5 điều, từ điều 1 đến điều 5)
-Chương
II: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9).
-
Chương III: Hoạt động tín ngưỡng (gồm 6 điều, Từ Điều 10 đến Điều 15)
- Chương IV: Đăng ký sinh hoạt tôn
giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5 điều, từ Điều 16 đến Điều
20).
- Chương V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22
điều, từ Điều 21 đến Điều 42).
- Chương VI: Hoạt động tôn giáo; hoạt
động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức
tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55)
- Chương VII: Tài sản của cơ sở tín
ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến Điều 59)
- Chương VIII: Quản lý nhà nước và xử
lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều
65)
- Chương IX: Điều khoản thi hành (gồm
3 điều, từ Điều 66 đến Điều 68).
Chính sách của Đảng đối với tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ đổi mới
Việt
Nam là quốc gia có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng tồn tại đan xen nhau,
đáp ứng nhu cầu về đời sống tâm linh và đời sống tinh thần của đông đảo người
dân. Là người lãnh đạo và quản lý xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam, từ phương
diện quan điểm, chính sách, đã luôn quan tâm đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và củng cố khối đại
đoàn kết tôn giáo - dân tộc. Quan điểm chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo
được xây dựng trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
xuất phát từ thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và trên thế
giới.
Quan
điểm, chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, nhất là trong
thời kỳ đổi mới đến nay, được thể hiện trên nhiều văn kiện quan trọng như:
Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết chuyên đề và nghị quyết các kỳ đại hội của
Đảng, các chỉ thị, luật, các pháp lệnh…,
-
Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là Đại hội XII, XIII.
-
Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công
tác tôn giáo trong tình hình mới.
-
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban chấp hành trung uơng Khoa IX về
công tác tôn giáo.
-
Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL - UBTVQH11, tháng 6/2004
-
Hiến pháp nước CHXHCNVN (2013)
-
Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14
Trên
các văn kiện, nhiều quan điểm, chính sách về tôn giáo và chỉ đạo công tác tôn
giáo của Đảng, Nhà nước đã được đổi mới về căn bản và mang tính “đột phá”, lần
đầu tiên được Đảng ta đưa ra. Đó là các quan điểm: tôn giáo là nhu cầu tinh
thần của một bộ phận nhân dân và là vấn đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức tôn
giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới; nội dung cốt lõi
của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; công tác tôn giáo là
trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân và kiên quyết đấu tranh chống
các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Như vậy, có thể
thấy, quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo đã chuyển chủ yếu từ
nhận thức tôn giáo là chính trị, là nhạy cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng tôn
giáo, sang tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là lực lượng quần chúng của Đảng
và tôn giáo có những giá trị tích cực. Nhận thức của Đảng về tôn giáo như vậy
là khách quan và toàn diện hơn so với trước đây, được thể
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn trên, Đảng,
Nhà nước ta luôn đề ra đường lối quan điểm, chính sách, luật pháp phù hợp, nhằm
từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ
sung phát triển năm 2011) Đảng ta chỉ rõ: “Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân theo quy định của
pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với những hành động vi phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại tới lợi ích của
nhân dân” [1]
và “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp
với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các
tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp
đạo”, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].
Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác tôn giáo
- Nhà nước tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các
dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa xã
hội, đặc biệt quan tâm tới các vùng, địa bàn tôn giáo; các vùng sâu, vùng xa
còn nhiều khó khăn.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tôn giáo,
gắn tôn giáo với quốc phòng, an ninh nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho
quản lý và thực hiện hiệu quả gắn tôn giáo với quốc phòng và an ninh trong thực
tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tổ chức thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo; chủ động
đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, hướng dẫn các tín đồ đấu tranh, chống lại âm mưu lợi dụng vấn
đề tôn giáo để kịch động gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.
- Chủ động nắm chắc tình hình diễn biến của tôn giáo, kịp
thời phát hiện và giải quyết hậu quả những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ tín
đồ, trong quan hệ giữa tín đồ với các chức sắc và quan hệ giữa các tôn giáo.
- Khuyến khích tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã được Nhà
nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, giáo
dục… phù hợp với nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật.
- Nhà nước thống nhất chủ trương xử lý vấn đề tranh chấp
nhà, đất sử dụng vào mục đích tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo trên cơ sở
pháp luật để tạo sự đồng thuận xã hội; hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ
đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Như vậy quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối
với tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay nhằm thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn
giáo, đoàn kết toàn dân tộc. Quan điểm, chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng đã
không chỉ là cơ sở cho các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam luôn ổn
định, tuân thủ pháp luật, mà còn tạo ra động lực to lớn từ việc củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp cho sự thành công của công cuộc dổi mới dất
nước. Quan diểm, chính sách của Dảng, Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, do dó
là một chủ trương xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ đường lói phát triển đất
nước, và luôn đáp ứng dược yêu cầu phải phù hợp với tình hình quốc gia và quốc
tế trong bối cảnh toàn cầu hóa. Để đạt được mục tiêu và đảm bảo tính hiệu quả,
hiệu lực của quan diểm, chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng, hệ thống chính
trị các cấp cần hết sức chủ động phát huy quyền làm chủ, cũng như tính tích cực
chính trị của đồng bào có tôn giáo, tín ngưỡng trong quá trình xây dựng và thực
hiện quan đieẻm, chính sách.
Đấu tranh địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh
Đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên
lĩnh vực quốc phòng an ninh được biểu hiện trực tiếp ở việc làm thất bại mọi
mưu đồ chính trị, khuấy lên những khác biệt, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo trong
cộng đồng người Việt; mưu đồ hỗ trợ chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, làm bùng lên
những vụ gây rối, bạo loạn ly khai, mưu đồ tạo dựng, hình thành những nhân tố
chống đối từ bên trong, xây dựng phát triển lực lượng đối lập để lật đổ chính
quyền của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế cho thấy, có lúc vấn đề tôn
giáo đã tạo nên những “điểm nóng” như: vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên
tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 với cái gọi là “Nhà nước Đề ga” “Hội thánh
Tin lành Đề ga”, việc truyền đạo trái phép và “xưng vua” ở Mường Nhé, tỉnh Điện
Biên tháng 5 năm 2001 và tình hình truyền đạo trái phép ở Nghệ An, Thái Bình,
Hải Phòng… Những vụ việc đó đã ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, đến xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế
trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn xử lý các vụ việc này cho thấy, trong đấu
tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo phải kiên quyết và khôn khéo, dứt
điểm, không để lây lan kéo dài; phải phát huy được sức mạnh tổng hợp đấu tranh
trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác,
trong đó đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ đồng bào tín đồ
tích cực phát triển kinh tế - xã hội…nhằm tạo sức đề kháng từ bên trong của mỗi
tín đồ tôn giáo, của mỗi địa phương và cả nước.
Những thành tựu và nguyên nhân thực hiện tốt chính sách tôn giáo ở nước ta
Công
tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng
và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc đạt được nhiều tiến bộ
Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp
tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.
Các
tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo
tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo
được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào
công cuộc đổi mới đất nước.
“Các
ngành, các cấp đã chủ động tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở
các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những
hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà
nước”[1]
Nguyên nhân của các thành tựu trên:
1)Do Đảng ta đã đề xướng đường lối đổi mới
đúng đắn; đã lãnh đạo quá trình thực hiện đường lối đổi mới đạt được nhiều
thành tựu quan trọng.
2)Đảng và Nhà nước ta hết sức nhạy bén đưa
ra các chủ trương, chính sách tôn giáo theo tinh thần đổi mới và kịp thời, đã
chủ động, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các chủ trương,
chính sách
3)Công tác tôn giáo đã tích cực xây dựng,
củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng
theo yêu cầu của tình hình mới
[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46
Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của dân tộc, bởi lẽ:
Một là, đồng bào các tôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy,
ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức
dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao
khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý
tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực
lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.
Hai là, trong quá trình cách mạng,
đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của
dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách
mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do
của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống
nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân
tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải
phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện
nay.
Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác
nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.
Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu
xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ
mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác
nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền
thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận
chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].
+ Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây
chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân
tộc
Đây là lập trường có tính nguyên tắc
trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo,
đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý
đúng đắn.
[1] Đảng cộng sản
Việt
Nhận thức của Đảng về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn
Đảng Cộng sản
Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn
kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết”
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống
Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng
chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước,
đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh,
hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây
dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm
1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội
Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban
hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” .Trong thời
kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7,
khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa
bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo
xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ
nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên
năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”;
Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp
1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo
năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình
đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng
tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn
nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”
Các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành, găn bó cùng dân tộc
Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức
sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
Nhà nước, gắn bó đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu
xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tư do tôn giáo
Công tác tôn
giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham
gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
đạt được nhiều tiến bộ.
Đồng bào các tôn
giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
thời kỳ đổi mới đất nước.
Các tổ chức tôn
giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt
động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước
công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi
mới đất nước.
Các ngành, các
cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo,
đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.
Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang đậm nét cảm tính, tâm lý.
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao
động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên
nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo
lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ
phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý,
nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người
Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn
giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh
hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn
còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo nhưng các tôn giáo ở Việt Nam rất đoàn kết
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời
và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn
giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín
ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt
Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi
rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.
Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân
tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình.
Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành
hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh,
nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu
số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô
tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.
Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc
từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như
Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn
giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong
quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95%
dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao
gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ
anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện
nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ,
chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo
nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng,
tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế
giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp
phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những
khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo
nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có
lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối
đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn
đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng
đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa
đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những
người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống
chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.