Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2022

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin về quyền con người vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của cách mạng Việt Nam. Những giá trị về quyền con người trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn chỉ đạo về tư tưởng, đường lối và hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta.

Giá trị phổ quát mà các quốc gia trên thế giới hiện nay đều ghi nhận là mọi cá nhân đều có quyền con người, cần được tôn trọng và được đối xử bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử về giới tính, ngôn ngữ, chủng tộc, màu da, quốc tịch, tôn giáo, nơi cư trú, nghề nghiệp, tình trạng khuyết tật, địa vị xã hội hay bất cứ tình trạng nào khác. Các quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thông qua các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các văn bản trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia. Khuôn khổ các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đã được hình thành, được các quốc gia thừa nhận, theo đó, đòi hỏi mọi thiết chế, tổ chức trong xã hội phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Quyền con người dưới xã hội xã hội chủ nghĩa bảo đảm tất cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa; bảo đảm cả quyền cá nhân và quyền tập thể; bảo đảm tự do và công bằng, bình đẳng, quyền con người thống nhất với quyền công dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề quyền con người xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam và bối cảnh thực tiễn cụ thể của đất nước, đồng thời, kế thừa tinh hoa tư tưởng quyền con người trên thế giới, đặc biệt là vận dụng sáng tạo tư tưởng giải phóng con người và xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trên cơ sở đó, Người đã đưa ra những luận điểm mới, sâu sắc và toàn diện về quyền con người, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể ở Việt Nam. Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người thể hiện:

Một là, thực hiện quyền con người trên nền tảng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra một chân lý phổ biến là: Độc lập cho dân tộc là điều vô cùng quý giá, là tiền đề tiên quyết để giải phóng con người, bảo đảm quyền con người. Người cho rằng, giành được độc lập dân tộc rồi thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi chủ nghĩa xã hội không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, mà còn tạo cơ sở để hiện thực hóa quyền con người một cách toàn diện. Xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa chính là để cho nhân dân lao động có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hưởng công bằng; con người thực sự được giải phóng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Người viết: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(1) và “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2).

Hai là, tiếp cận vấn đề quyền con người trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Về lý luận, quyền con người mang tính tự nhiên - xã hội của bản chất con người, thể hiện lý tưởng giải phóng - phát triển con người toàn diện và tự do. Về thực tiễn, Đảng và Nhà nước có vai trò quan trọng trong thực hiện quyền con người; đồng thời, bảo đảm quyền con người luôn có tính đặc thù về xã hội, như truyền thống văn hóa dân tộc, trình độ sản xuất vật chất - tinh thần của xã hội, các quyền con người có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói năm 1955, Người chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ ta có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(3). Ngay khi cách mạng thành công, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3-9-1945), Người đã chỉ ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ ban hành hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân và đề nghị tổ chức sớm nhất cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái đủ 18 tuổi trở lên đều được quyền ứng cử và bầu cử theo luật định không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo và giống nòi. Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta do Người trực tiếp làm trưởng ban soạn thảo đã được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946, trong đó xác định: “Bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 đã dành cả chương II nói về “quyền lợi và nghĩa vụ công dân” gồm 18 điều cụ thể quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội…

Ba là, để thực hiện quyền con người, cần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới là con đường giải phóng nhân loại khỏi bị áp bức, bóc lột và mang lại các quyền con người cơ bản cho đa số nhân dân lao động. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(4) và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”(5). Vì thế, Người chỉ rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(6). Đây chính là tư tưởng thể hiện sinh động và sâu sắc truyền thống đề cao vai trò nhân dân, quyền tự chủ của dân tộc Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người chỉ rõ: Nhà nước Việt Nam dân chủ kiểu mới là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cơ sở xã hội của nhà nước đó là toàn thể dân tộc Việt Nam, dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(7)

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm bảo đảm quyền con người, cần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - nhà nước đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ngắn gọn, súc tích, giản dị, dễ hiểu:

Nhà nước của nhân dân: Là nhà nước trong đó nhân dân là chủ, là người có địa vị cao nhất, có quyền lực cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh dân tộc, đất nước. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1946: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Nhà nước do nhân dân: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương xây dựng nhà nước do nhân dân, nghĩa là nhà nước đó do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, nhân dân làm chủ, nhân dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước hoạt động và nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước.

Nhà nước vì nhân dân: Nhà nước đó luôn phục vụ cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Trong nhà nước đó, cán bộ là “công bộc” của dân. Nên việc gì có lợi cho dân dù nhỏ mấy cũng phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ mấy cũng phải hết sức tránh. Cán bộ của nhà nước phải là những người biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, bảo vệ nhân dân và không được vi phạm đến các quyền con người và quyền công dân trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.

Xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ấy có nhiệm vụ xóa bỏ mọi sự nghèo khổ, bất công, bất bình đẳng và mang lại tự do cho nhân dân lao động.

Như vậy, có thể thấy, nội dung quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được phát triển rất phong phú cả về bề rộng và chiều sâu, tạo ra một hệ thống về quyền con người theo quan điểm khoa học và cách mạng. 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Nhận thức vai trò của quyền con người đối với cách mạng Việt Nam, kế thừa tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định: “Tất cả vì con người, tất cả vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú và toàn diện cho mỗi người trong quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”(8). Tiếp tục khẳng định tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”(9). Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”(10). Trên phương diện xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật để thực hiện quyền con người, “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống phát luật mới được ban hành và sửa đổi”(11).

Tại Đại hội XIII, Đảng ta đề ra phương hướng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”(12).

Những quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Ðảng, Nhà nước về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã được cấp ủy đảng và chính quyền các cấp quán triệt sâu sắc, tạo chuyển biến nhận thức một cách cơ bản, tích cực trong hệ thống chính trị. Để bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, ngày 20-7-2010, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 44-CT/TW “Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”. Việc thể chế hóa đường lối của Ðảng, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, thực thi quyền con người và ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người.

Hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, công tác bảo đảm quyền con người đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam đã tích cực tham gia đầy đủ các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người, như Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em…(13). Trên cơ sở đó, Việt Nam tiến hành luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về quyền con người.

Thành công trong việc phát huy quyền con người còn được thể hiện thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội không ngừng được hoàn thiện và mở rộng đối tượng thụ hưởng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân; “tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở được quan tâm; đã hoàn thành mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ”(14).

Thời gian tới, để phát huy và thực hiện tốt quyền con người, cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, quán triệt, nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện về vị trí, vai trò của quyền con người trong từng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội. Từ đó, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, hướng đến mục tiêu phát triển vì con người.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người.  Bảo đảm nguyên tắc quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ; đề cao vai trò chủ thể hưởng thụ quyền là nhân dân; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền con người./.

-Nguồn:TCCS--

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175, 64
(3) Hồ Chí Minh: 
Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518
(4) Hồ Chí Minh: 
Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 434
(5) Hồ Chí Minh: 
Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 83
(6) Hồ Chí Minh: 
Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 74 - 75
(7) Hồ Chí Minh: 
Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 232
(8)
 Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 10
(9)
 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,  Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 65
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 169
(11)
 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 166
(12)
 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 177
(13) Đỗ Thị Tùng: “Không thể phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về quyền con người”, 
Tạp chí Cộng sản điện tửhttps://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/823406/khong-the-phu-nhan-thanh-tuu-cua-viet-nam-trong-xay-dung,-hoan-thien-va-thuc-thi-phap-luat-ve-quyen-con-nguoi.aspx#, ngày 20-6-2021 
(14)
 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 65 - 66

 

Phê phán luận điệu xuyên tạc về tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa duy vật lịch sử

 

Sau sự kiện chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, có rất nhiều luận điệu xuyên tạc, bác bỏ nhiều vấn đề lý luận trong quan niệm duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, như lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp, nhà nước và cách mạng xã hội... Những luận điệu này không có căn cứ khoa học, thiếu cơ sở thực tiễn nên cần phải phê phán, bác bỏ.

 

Ngoại giao đa phương - quan điểm và tầm nhìn phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Ngoại giao đa phương không còn là thuật ngữ mới trong quan hệ quốc tế hiện đại cả về lý thuyết và hiện thực. Song nhận thức đúng về ngoại giao đa phương, từ đó đưa ra những định hướng chính sách và hành vi thực tế được xem là cả một quá trình. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia sớm nhận thức khá rõ nét về ngoại giao đa phương, đồng thời sử dụng ngoại giao đa phương tương đối hiệu quả, phù hợp với thực tiễn, đặc biệt kể từ thế kỷ XX đến nay.

Ngoại giao đa phương - tiếp cận từ lý thuyết

Ngoại giao đa phương là một hình thức hoạt động ngoại giao, trong đó có sự tham gia của ba chủ thể trở lên trong quan hệ quốc tế (chủ yếu là quốc gia - dân tộc) vào quá trình đàm phán, thương lượng, ra quyết sách trong cùng một thời điểm và đáp ứng nhiều đòi hỏi khác nhau trước một vấn đề cụ thể(1). Các mô thức ngoại giao đa phương chủ yếu và mang tính phổ quát hiện nay là tổ chức quốc tế (với các tính chất khác nhau từ những tổ chức mang tính cộng đồng chung, liên minh đến những tổ chức mang tính hợp tác với những cam kết đơn giản; ở các cấp độ khác nhau, như khu vực, liên khu vực, toàn cầu; với các lĩnh vực đa dạng: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...); các diễn đàn, hiệp hội (tính chất và quy mô đa dạng nhưng ràng buộc lỏng lẻo hơn); các phong trào, các hội nghị, cuộc họp, hội thảo... (quy mô đa dạng, ít ràng buộc nhằm giải quyết một hoặc một vài vấn đề, mang tính ngẫu hứng hoặc thường niên).

Trong ngoại giao đa phương, lợi ích luôn là yếu tố quy định hành vi của chủ thể. Với mỗi thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, các quốc gia có lợi ích khác nhau, dẫn tới hình thành động cơ thúc đẩy sự tham gia của các chủ thể, thời điểm sử dụng mô thức ngoại giao đa phương khác nhau trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, chủ thể quan hệ quốc tế (cơ bản nhất là quốc gia - dân tộc độc lập có chủ quyền) tham gia ngoại giao đa phương khá sôi động, cho thấy ngoại giao đa phương đang đáp ứng được những lợi ích của các chủ thể. Một điểm đáng chú ý trong ngoại giao đa phương là tương quan lực lượng và thực lực quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng của trật tự thế giới và là cơ sở để định hình “sân chơi” và nguyên tắc ứng xử (“luật chơi”) trong quan hệ quốc tế nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng; đóng vai trò không nhỏ trong việc quyết định hành vi và tầm ảnh hưởng trong quá trình đàm phán. Thêm vào đó, thực lực quốc gia - nhân tố được coi là cơ sở của việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại - cũng quyết định hành vi của quốc gia trong ngoại giao đa phương. Vì vậy, các nước lớn có hành vi theo hướng chi phối và “bao cấp” cho thể chế đa phương, còn các nước nhỏ thì hành động theo hướng chấp nhận, tuân thủ và “ăn theo”(2).

Bên cạnh đó, hành vi của quốc gia cũng phụ thuộc vào mức độ thể chế hóa của các tổ chức đa phương. Tổ chức đa phương có mức độ thể chế hóa cao sẽ có khả năng cao hơn trong việc buộc các nước phải tuân thủ luật lệ và ngược lại, mức độ thể chế hóa thấp sẽ làm xu hướng không tuân thủ luật lệ xảy ra cao hơn(3).

“Luật chơi” (nguyên tắc, quy định) của các thể chế đa phương quốc tế cũng thúc đẩy hoặc tác động đến hành vi của các quốc gia. Các mô thức ngoại giao đa phương khác nhau sẽ có “luật chơi” khác nhau. Nhưng điểm chung của các mô thức ngoại giao đa phương là sản phẩm hay kết quả chính là các thỏa thuận quốc tế đa phương. Các thỏa thuận này là “luật chơi” ràng buộc hành vi tiếp theo của chủ thể trong ngoại giao đa phương. Vì vậy, trong quá trình hình thành “luật chơi”, quốc gia nào được tham gia đàm phán và đưa ra ý tưởng được chấp nhận và ghi nhận ý tưởng trong sản phẩm cuối cùng của ngoại giao đa phương, quốc gia đó sẽ khẳng định được lợi ích và vị thế của mình trong “sân chơi” đa phương này. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để quốc gia thuận lợi hóa môi trường cho hành vi tương lai. Song, do chủ quyền của quốc gia, sự chưa hoàn thiện của thể chế và khả năng đáp ứng nhu cầu của các bên trong các thỏa thuận quốc tế đa phương nên “luật chơi” của các thể chế đa phương chỉ ràng buộc một phần hành vi của quốc gia, bởi khi cần thiết chủ thể (quốc gia) sẽ viện dẫn lý do chủ quyền và lợi ích quốc gia để có thể bỏ qua những “luật chơi” này(4).

Trên thực tế, hành vi của các chủ thể khá đa dạng. Song, tựu chung chủ thể tham gia ngoại giao đa phương theo ba dạng hành vi cơ bản sau: 1- Các chủ thể thành viên phải chấp nhận và tuân thủ theo “luật chơi” chung (rule taker); 2- Vận dụng “luật chơi” hoặc kẽ hở luật pháp để tối ưu hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình (rule manipulator); 3- Thay đổi, điều chỉnh hoặc xây dựng “luật chơi” mới để thích ứng với vị thế và thực lực mới (rule maker hoặc shaper)(5). Các chủ thể có thể thay đổi hành vi của mình tùy theo lợi ích, tương quan lực lượng, “luật chơi” và “sân chơi” đa phương trong những thời điểm và vấn đề khác nhau. Ngoài ra, một chủ thể trong một thời điểm có thể có một hoặc hai, thậm chí có đủ cả ba hành vi ở những hoạt động ngoại giao đa phương khác nhau.

Trong thế kỷ XXI, quan điểm và hoạt động ngoại giao đa phương của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phong phú, rõ nét và mang tính đặc thù. Chẳng hạn, Mỹ theo đuổi chủ nghĩa đa phương có lựa chọn và chủ nghĩa đa phương hiệu quả với quan điểm xây dựng một hệ thống đa phương do Mỹ và các nước phương Tây dẫn dắt để có thể gây ảnh hưởng lên các quốc gia khác. Ngoại giao đa phương của Mỹ tồn tại cùng ngoại giao song phương và mang tính thực dụng. Mỹ lựa chọn phát triển hay cầm chừng hoặc từ bỏ hoạt động ngoại giao đa phương theo sự tính toán về lợi ích của họ với các thời điểm khác nhau. Điều này thể hiện rõ trong hành vi ngoại giao đa phương của Mỹ trên thực tế có xu hướng áp đặt “luật chơi” để bảo đảm lợi ích quốc gia, song Mỹ cũng sẵn sàng rời bỏ tổ chức đa phương cũ, khởi xướng thể chế đa phương mới cũng vì lợi ích quốc gia.

Nga luôn chủ trương gắn bó sâu sắc với các nguyên tắc của chủ nghĩa đa phương(6). Nga chú trọng các cơ chế đa phương như một dạng tập hợp lực lượng để nhằm phục hưng đất nước và ngăn chặn ảnh hưởng của phương Tây. Ngoại giao đa phương của Nga phân tán về chiều rộng từ cấp độ toàn cầu, khu vực tới tiểu khu vực, mang tính lựa chọn với các quan điểm: 1- “Lãnh đạo tập thể của những quốc gia hàng đầu” cùng có trách nhiệm giải quyết các vấn đề toàn cầu, khác với quan điểm lãnh đạo của một siêu cường; 2- Trong ngoại giao đa phương, chính sách đa phương cần được đàm phán giữa các bên liên quan và Nga không chấp nhận một quyết định nào mà chưa được thông qua (chẳng hạn những quyết định của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương hoặc Liên minh châu Âu mà Nga không tham gia sẽ không có giá trị); 3- Ngoại giao đa phương cần trở thành nền tảng, phản ánh sự phân chia quyền lực trong một thế giới đa cực đang nổi lên, bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, mà Nga hết sức chú trọng(7).

Trung Quốc hiện đang thể hiện cách tiếp cận mạnh mẽ và phổ biến về ngoại giao đa phương, nhất là với các tiểu vùng, khu vực và các tổ chức lớn, đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc bắt đầu khẳng định vị thế, sức mạnh và sự dẫn dắt của mình trong nhiều thể chế đa phương qua sự tham gia tích cực vào các cơ chế bằng các sáng kiến đa phương, sự đầu tư và đóng góp, thể hiện sự gánh vác trách nhiệm, tham gia quản trị toàn cầu, phát huy “sức mạnh mềm” của Trung Quốc. Trung Quốc đưa ra chủ thuyết về một thế giới hài hòa, trong đó vai trò của các tổ chức đa phương được đề cao - cùng hợp tác để cùng thịnh vượng, cần tôn trọng sự đa dạng về văn hóa và hệ thống chính trị, các quốc gia đang phát triển có nhiều quyền quyết định hơn. Trung Quốc tích cực triển khai các hoạt động đa phương, truyền bá những tư tưởng mới, đưa ra thông điệp mới về xây dựng một thế giới hài hòa, dân chủ, kiến tạo một trật tự kinh tế thế giới mới, đặc biệt Trung Quốc nêu quan điểm không tham gia liên minh(8).

Quan điểm và hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng về đối ngoại. Hội nhập kinh tế quốc tế phát triển sâu rộng trên nhiều cấp độ từ khu vực đến toàn cầu, đa dạng về hình thức, với việc tham gia chủ động tích cực ở các tổ chức, diễn đàn, hội nghị đa phương quốc tế, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương thế hệ mới, nổi bật là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN - EAEU FTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(9).

Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) đã đưa ra quan điểm phát triển đất nước nói chung, quan điểm đối ngoại nói riêng, đó là: 1- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; 2- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; 3- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất(10). Mặc dù quan điểm về ngoại giao đa phương(11) chưa được Đảng ta đưa vào văn kiện một cách chính thức và độc lập, nhưng những quan điểm trên được xem là tiền đề cơ bản (nguyên tắc, phương châm) cho chính sách và hành vi (hoạt động) về ngoại giao đa phương.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định mục tiêu đối ngoại: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(12); tuy nhiên, Đảng ta vẫn chưa đề cập đến ngoại giao đa phương, chỉ hàm ý trong cụm từ “đa phương hóa, đa dạng hóa”. Đảng ta chỉ rõ: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể...; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”(13). Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm được thông qua tại Đại hội XIII của Đảng, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm mặc dù không đề cập đến đối ngoại đa phương mà chỉ đề cập đến công tác đối ngoại nói chung: “Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế”(14), song, trong phần phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, Đảng ta lại đề cập một cách cụ thể, đó là: “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc”. Đặc biệt trong phương hướng đối ngoại, Đảng ta tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm đã nêu trong Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, về “Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, đó là: Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại song phương, thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương(15).

Nhìn chung, Việt Nam đã xác định ngoại giao đa phương là một nội dung quan trọng trong quan điểm về đối ngoại với việc sử dụng nhiều lần cụm từ “nâng tầm đối ngoại đa phương” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Thêm vào đó, quan điểm về ngoại giao đa phương được xác định khá cụ thể, như: đối tác trọng tâm là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công...; lĩnh vực được ưu tiên là kinh tế, quốc phòng, an ninh...; quan điểm về thái độ tham gia ngoại giao đa phương là chủ động, tích cực. Trong thời gian tới, ngoại giao đa phương của Việt Nam được Đảng ta xác định: “Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”(16). Theo đó, Việt Nam sẽ tích cực, chủ động tham gia đóng góp, định hình “luật chơi” trong các hoạt động ngoại giao đa phương.

Đặc biệt, Việt Nam đã thể hiện sự nâng tầm về tư duy, quan điểm về ngoại giao đa phương khi khẳng định: “Tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế về pháp luật theo hướng chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật”(17). Như vậy, có thể thấy, Việt Nam chủ trương tham gia ngoại giao đa phương trên cơ sở phối hợp ba hành vi: người thực hiện “luật chơi”, người tận dụng và người tham gia tạo dựng “luật chơi” (rule taker, rule manipulator và rule shaper). Việt Nam kỳ vọng chủ động thực hiện ngoại giao đa phương theo hướng góp phần hình thành các nguyên tắc, “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, mức độ hành vi còn tùy thuộc vào mô thức ngoại giao đa phương mà Việt Nam tham gia.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, tình hình dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến khó lường, các hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam vẫn diễn ra linh hoạt, năng động và là minh chứng cho một Việt Nam đang tích cực, chủ động tham gia định hình “luật chơi” và nguyên tắc của thể chế đa phương. Việt Nam vẫn đảm nhiệm tốt vai trò, vị trí của mình trong các “sân chơi” đa phương khu vực và thế giới. Cụ thể, Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, với việc tham gia hàng trăm cuộc họp và bỏ phiếu các nghị quyết, đưa ra nhiều sáng kiến quan trọng về các vấn đề liên quan đến thượng tôn pháp luật trong bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới; thúc đẩy bảo vệ người dân, nhất là phụ nữ và trẻ em; ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống (biến đổi khí hậu, nước biển dâng...); thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn và nâng cao vai trò của các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực, hợp tác giữa các tổ chức, khu vực và tiểu khu vực với Liên hợp quốc trong bảo vệ hòa bình và an ninh ở các khu vực và quốc tế. Đặc biệt, tháng 12-2021, Việt Nam đã tổ chức thành công Phiên họp theo thể thức Arria đầu tiên về vấn đề trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ trong xung đột. Trên cương vị Chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong tháng 4-2021, Việt Nam đã tổ chức, chủ trì, điều hành khoảng 30 cuộc họp theo phương châm tích cực, chủ động, có trách nhiệm, vừa bảo đảm sự khách quan, minh bạch, vừa linh hoạt, xử lý hài hòa, cân bằng mối quan tâm của các nước đối với các vấn đề được thảo luận và thúc đẩy hợp tác, đồng thuận tại Hội đồng Bảo an(18); thúc đẩy thông qua Tuyên bố Chủ tịch của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác quốc tế để chung tay giải quyết những hệ lụy của bom mìn sau chiến tranh đối với an toàn và sinh kế bền vững của người dân, cộng đồng(19).

Việc tham gia tích cực, chủ động các hoạt động của ASEAN trong năm 2021 đã và đang khẳng định vai trò dẫn dắt, định hình “luật chơi” của Việt Nam tại diễn đàn đa phương lớn nhất của khu vực này. Việt Nam tham gia chuỗi các hội nghị cấp cao và quan trọng của ASEAN, như Hội nghị cấp cao ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN với các đối tác, Hội nghị cấp cao Mê Kông - Hàn Quốc lần thứ ba, theo hình thức trực tiếp và trực tuyến... Cùng với đó, Việt Nam chủ động tham gia, tích cực phối hợp một cách có trách nhiệm với nước Chủ tịch Bru-nây thúc đẩy các ưu tiên của năm 2021, nhất là chủ động và hiện thực hóa các chương trình kế hoạch theo sáng kiến của Việt Nam từ năm 2020, như: Quỹ ASEAN về ứng phó dịch bệnh COVID-19, Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp ASEAN, Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Khung thỏa thuận hành lang đi lại ASEAN (ATCAF)...

Tham gia ngoại giao đa phương trong khuôn khổ APEC cũng là một hoạt động đáng chú ý trong năm 2021 của Việt Nam. Bên cạnh việc Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham dự và phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 28 (tháng 11-2021) được tổ chức tại Niu Di-lân, Việt Nam cũng tham gia nhiều sự kiện và hoạt động quan trọng của tuần lễ APEC, như Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 28 (APEC 28), phiên Đối thoại giữa lãnh đạo các nền kinh tế APEC với Hội đồng Tư vấn kinh doanh APEC (ABAC), Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Công Thương của Việt Nam cũng tham dự các phiên họp Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế của APEC. Đặc biệt, tại APEC 28, Việt Nam đã đề xuất một số ý kiến được các nền kinh tế thành viên ghi nhận, bao gồm: chia sẻ và tiếp cận công bằng vắc-xin phòng ngừa dịch bệnh COVID-19, vật tư y tế và nguồn lực, đề nghị APEC có tầm nhìn, cách tiếp cận mới trong việc phục hồi kinh tế, như thúc đẩy nền kinh tế số, thúc đẩy thương mại điện tử, thúc đẩy tự do thương mại, dỡ bỏ các rào cản thương mại để khôi phục sản xuất, kinh doanh, tránh bị đứt gãy các chuỗi sản xuất, đề nghị các nền kinh tế thành viên hỗ trợ, quan tâm các đối tượng yếu thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những biện pháp, đề xuất về thúc đẩy tăng trưởng xanh, tăng trưởng bao trùm... Tất cả các sáng kiến, đề xuất của Việt Nam đã được ghi nhận đầy đủ vào các văn kiện của APEC, trong đó có Tuyên bố cấp cao APEC, Tuyên bố cấp Bộ trưởng APEC cũng như Kế hoạch hành động triển khai Tầm nhìn APEC đến năm 2040; qua đó, thể hiện sự đóng góp hết sức trách nhiệm, tích cực, chủ động của Việt Nam, là thành viên chủ động, đi đầu trong APEC về xây dựng, củng cố đoàn kết trong APEC để tiếp tục tăng cường hợp tác vì một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hòa bình và ổn định”(20).

Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách thức nhưng với những hoạt động sôi động và hiệu quả của hoạt động ngoại giao nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng, Việt Nam đã khẳng định vị thế của một quốc gia đang trên đà phát triển. Với vị thế và thực lực cũng như định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao đa phương trên thực tế sẽ là đường lối quan trọng để Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của đất nước./.

---Nguồn: TCCS----

(1) Lưu Thúy Hồng: Ngoại giao đa phương trong hệ thống quan hệ quốc tế đương đại, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 49
(2), (3) Xem: Đặng Đình Quý (Chủ biên): Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 89 - 90
(4) Xem: Hoàng Khắc Nam: Lý thuyết quan hệ quốc tế, Nxb. Thế giới, 2017, Hà Nội, 2017, tr. 37, 64
(5) Xem: Đặng Đình Quý (Chủ biên): Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam, Sđd, tr. 89 – 90
(6) Elena Wilson Rowe - Stina Torjesen: “The Multilateral Dimension in Russian Foreign Policy” (Tạm dịch: “Chiều hướng đa phương trong chính sách đối ngoại của Nga”), 2009, https://www.routledge.com/The-Multilateral-Dimension-in-Russian-Foreign-Policy/Rowe-Torjesen/p/book/9780415542920
(7) Xem: Lưu Thúy Hồng (Chủ nhiệm): Hoạt động ngoại giao đa phương (Đề tài cơ sở trọng điểm), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2021
(8) Trong Sách Trắng của Trung Quốc “Sự phát triển hòa bình” năm 2011 nhấn mạnh nguyên tắc không liên minh quân sự với bất cứ nước nào, cốt lõi của tư tưởng và khái niệm an ninh kiểu mới của Trung Quốc; thừa nhận sự xuất hiện của các nhân tố an ninh phi truyền thống
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 69
(10) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 110 - 111
(11) Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta sử dụng cụm từ “đối ngoại đa phương”
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 117 – 118
(13), (14), (15), (16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 162 - 163, 201, 281 - 283, 164
(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. II, tr. 154
(18) Xem: Thùy Dung: “Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 25-3-2021, https://baochinhphu.vn/viet-nam-dam-nhan-vai-tro-chu-tich-hoi-dong-bao-an-lhq-102289742.htm
(19) Xem: Hoàng Kiều: “10 dấu ấn của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021”, Trang thông tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 18-1-2022, https://vov.vn/chinh-tri/10-dau-an-cua-viet-nam-tai-hoi-dong-bao-an-lien-hop-quoc-nhiem-ky-2020-2021-post918924.vov
(20) Xem: Đoàn Ca: “Việt Nam là thành viên đi đầu, đóng góp có trách nhiệm trong APEC”, Trang thông tin điện tử Quân đội nhân dân, ngày 31-11-2021, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/viet-nam-la-thanh-vien-di-dau-dong-gop-co-trach-nhiem-trong-apec-677336

 

 

Phát huy các năng lượng tích cực của con người Việt Nam để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Muốn đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn thì một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là giải phóng, phát huy được những năng lượng tích cực của con người Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra các giải pháp lớn cho vấn đề này. Trong thời gian tới, cần hiện thực hóa các giải pháp đó bằng các hành động cụ thể, thiết thực để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống.

1- Năng lượng tích cực của con người Việt Nam trong suốt dòng chảy lịch sử được nhìn nhận, đánh giá dưới nhiều góc độ, như tinh thần yêu nước; ý chí tự cường, tự tôn dân tộc; tinh thần đoàn kết; khát vọng độc lập, tự do, cường thịnh, trường tồn; tinh thần sáng tạo...

Có một đặc thù nổi bật trong lịch sử là dân tộc Việt Nam luôn phải chống giặc ngoại xâm. Nạn ngoại xâm là một nguy cơ gần như có tính chất thường trực đối với đất nước ta. Chỉ tính từ cuộc kháng chiến chống quân Tần ở thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay, dân tộc ta đã phải tiến hành gần 20 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; trong đó, 14 cuộc chiến tranh thắng lợi hiển hách, chỉ có 3 cuộc kháng chiến bị thất bại tạm thời, và hàng trăm cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng dân tộc. Thời gian chống ngoại xâm của dân tộc ta cộng lại chiếm hơn nửa thời gian lịch sử (tính từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay). Chỉ qua những số liệu tính toán sơ bộ đó thôi đã cho thấy, trên con đường sinh tồn và phát triển, dân tộc ta đã phải liên tiếp chống ngoại xâm; vì thế, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự tôn dân tộc là đặc trưng nổi bật nhất của dân tộc Việt Nam.

Theo Giáo sư Phan Huy Lê, không có mấy thế kỷ mà dân tộc ta không phải chống xâm lược. Thời Bắc thuộc là hơn 10 thế kỷ liên tục chống xâm lăng. Có những thế kỷ mặc dù độc lập, nhưng dân tộc ta phải tiến hành hai đến ba cuộc chiến tranh hết sức quyết liệt để bảo vệ Tổ quốc. Chẳng hạn, thế kỷ XIII vào thời nhà Trần, chỉ trong vòng 30 năm (1258 - 1288) nước Đại Việt phải đương đầu với ba cuộc xâm lăng của đế quốc Mông - Nguyên khét tiếng trên thế giới đương thời. Cuối thế kỷ XVIII, trong vòng 5 năm (1784 - 1789), dân tộc ta được sự cổ vũ của phong trào Tây Sơn đã vùng lên quét sạch hai đạo quân xâm lược: Xiêm từ phía Nam và Thanh từ phía Bắc. Riêng thế kỷ XX, dân tộc ta đã phải tiến hành bốn cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Cần nhấn mạnh rằng, trong hầu hết các trường hợp, nước đi xâm lược lại mạnh hơn ta nhiều lần về nhiều mặt, do đó, cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc ta thường diễn ra trong so sánh lực lượng rất chênh lệch. Điều đó càng làm nổi bật tính chất khốc liệt, gian khổ của các cuộc kháng chiến này. Điều này được minh chứng trong các cuộc kháng chiến chống quân Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Pháp, Nhật, Mỹ... Trên thế giới có năm châu thì có đến ba châu đã từng có quốc gia đến xâm lược nước ta. Sở dĩ có hiện tượng này là do nước ta nằm trên một vị trí địa - chính trị vô cùng quan trọng. Mảnh đất hình chữ S này là nơi nối liền đại lục với hải đảo, đại dương; là đầu mối giao thông giữa Bắc và Nam, Đông và Tây của địa cầu. Ngay từ thời rất xa xưa, nơi đây đã là cầu nối, điểm trung chuyển, giao lưu giữa các luồng văn minh, văn hóa. Với vị trí đó, nước ta là nơi “đầu sóng ngọn gió”, là “tiền đồn” của vùng Đông Nam Á.

Xưa nay, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, bất kỳ một nước nào có tham vọng chinh phục, bành trướng ra vùng Đông Nam Á, đều coi nước ta là một địa bàn chiến lược cần phải chiếm lấy. Trong ý đồ của các thế lực thực dân, chiếm nước ta không phải chỉ để cướp đoạt những của cải tài nguyên giàu có, mà còn hòng biến xứ sở này thành “bàn đạp” để lan tỏa ra các nước Đông Nam Á, tiến vào đại lục và tràn ra đại dương, hải đảo. Như vậy, chiếm được nước ta sẽ khống chế được toàn bộ vùng Đông Nam Á, án ngữ được ba hướng: Nam, Đông và Đông Nam của châu Á. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, tạo hóa vô tri đặt để Việt Nam nhỏ yếu mà trù phú ở bên cạnh người khổng lồ và ở trên ngã ba đường thông thương quốc tế Bắc - Nam, Đông - Tây. Ở vị trí địa lý ấy, Việt Nam khác nào “món thịt ngon phơi trước mồm hổ đói”, tránh sao khỏi “cấu xé, lắm phen bị dẫm đạp”. Trong cảnh ngộ đó, Việt Nam hoặc phải bị nghiền nát như tương, hoặc phải trở nên rắn như thép. Lựa chọn thứ hai đã trui rèn, làm nên bản lĩnh Việt Nam. Do hoàn cảnh nước ta luôn thường trực phải chống giặc ngoại xâm, nên chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam; và, cũng phần nào quy định ý chí tự cường, tự tôn dân tộc; tinh thần đoàn kết; khát vọng độc lập, tự do, cường thịnh, trường tồn; tinh thần sáng tạo của con người Việt Nam.

Những tiềm năng, năng lượng tích cực này, trong thời chiến chúng ta đã giải phóng, phát huy khá tốt, nhưng vấn đề đặt ra là trong thời bình chúng ta cũng cần tiếp tục giải phóng, phát huy để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năng lượng tích cực này cũng là sức mạnh mềm của dân tộc. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy, một quốc gia sẽ thực sự hùng mạnh khi kết hợp hài hòa sức mạnh “cứng” với sức mạnh “mềm”. Trong khi sức mạnh “cứng” cần nhiều thời gian, sức lực, tiền của để tạo dựng thì sức mạnh “mềm” là những thứ chúng ta hầu như đang có trong tầm tay. Làm sao để khơi dậy và tận dụng được sức mạnh “mềm” nhiều hơn nữa, tận dụng một cách tối ưu sức mạnh này là vấn đề cấp bách hiện nay để có thể đưa đất nước phát triển một cách bền vững. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chú trọng và đề ra những giải pháp căn cơ nhằm phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

2- Từ những nội dung, giải pháp được trình bày trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, có thể thấy để giải phóng, phát huy những năng lượng tích cực hay sức mạnh “mềm” của con người Việt Nam trong phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần tập trung thực hiện những nội dung sau:

Một là, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí dân tộc của mỗi người Việt Nam hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhiều lần đề cập tới việc cần phải phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc của mỗi người Việt Nam hiện nay. Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, thì hơn lúc nào hết, chúng ta cần tập trung khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc - động lực quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Yêu nước, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mỗi người phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trên cương vị của mình, phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc lên trên hết, trước hết. Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõ, ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn. Người cho rằng, đã là người Việt Nam, thì ít hay nhiều ai cũng có lòng yêu nước: “Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”(1). Có thể có người, ở lúc nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn, nhưng nhìn chung trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đã là người Việt Nam thì dù ít hay nhiều, dù lúc này hay lúc khác, đều có lòng yêu nước. Yêu nước, theo Người, không chỉ bằng hành động cầm súng đứng ở tiền tuyến trực diện tiêu diệt quân thù, mà còn thể hiện bằng sự đóng góp ở những công việc cụ thể, nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng và phong phú, đa dạng diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, ở mọi lứa tuổi, đều nhằm một mục đích là giúp cho kháng chiến mau chóng đi đến thắng lợiNgày nay, quán triệt tư tưởng của Người, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ, động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc; phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Bối cảnh Việt Nam hiện nay cũng khác nhiều so với trước kia, bởi vậy, chủ nghĩa yêu nước hiện nay cũng có những điểm đặc thù khác trước. Nếu như yêu nước trước kia có trọng tâm là đánh đuổi quân xâm lược, thì ngày nay, trọng tâm là phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; dân tộc trường tồn, đất nước hùng mạnh. Vì thế, hiện nay, chúng ta cần phải có cơ chế giải phóng, phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí dân tộc để phát triển đất nước nhanh, bền vững, như mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Hai là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh, thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm công khai, minh bạch thông tin, quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của mọi tầng lớp nhân dân; thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức; hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân.

Có dân chủ thì mới phát huy được tiềm năng, thế mạnh của từng người; có dân chủ thì mọi sáng kiến mới được đưa ra; còn mất dân chủ, chuyên quyền, độc đoán thì không ai dám nói, dám làm và sẽ làm thui chột mọi khả năng sáng tạo. Muốn phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì yêu cầu đặt ra là phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, chống lại các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Hiện nay, ở một số nơi, một số tổ chức, bề ngoài thì tỏ ra dân chủ, nhưng thực chất bên trong lại mất dân chủ; nếu như thế thì việc hô hào phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng người cũng chỉ là khẩu hiệu trống rỗng mà thôi. Không phải ngẫu nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại căn dặn, đó là dân chủ phải “thật”, “thực”, “thực sự”, chứ không phải là hình thức. Từ đó, việc hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, có vai trò, ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn thẳng thắn chỉ ra, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ... vì thế, phải khắc phục những hạn chế này một cách nhanh chóng.

Ba là, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc, không chỉ trong hoạt động kinh tế mà cả trong các cơ chế, chính sách, cách tổ chức quản lý, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý nhằm giải phóng, phát huy tiềm năng thế mạnh của mỗi người. Trong Văn kiện Đại hội XIII có nhấn mạnh đến hạn chế là, chúng ta chưa tạo được nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; nhằm khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Cần tập trung nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để làm rõ: Trong việc giải phóng, phát huy tiềm năng thế mạnh của từng con người, chúng ta đang gặp phải những điểm nghẽn, vướng mắc nào? Đồng thời, phải trả lời câu hỏi: Trong các cơ quan nhà nước, chúng ta đã phát huy được tiềm năng, thế mạnh của từng người chưa?

Bốn là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Không có sáng tạo thì cũng không có sự phát triển, sáng tạo sẽ thúc đẩy phát triển; như vậy, muốn phát triển thì phải sáng tạo. Theo học giả Đào Duy Anh, nhiều người cho rằng dân tộc Việt Nam là dân tộc thực dụng, chỉ biết thu nhận, tiếp biến các hệ thống tư tưởng, tôn giáo từ bên ngoài cho phù hợp với mình, chứ không có sự sáng tạo. Theo đó, họ nêu ra quan điểm cho rằng, dân tộc ta không tạo nên được những hệ thống lý luận triết học, không có các nhà triết học và tôn giáo lớn; người Việt Nam chỉ giỏi bắt chước, tín ngưỡng tâm linh của người Việt Nam nhẹ nhàng, nhưng không sâu sắc(?!)... Nhưng việc tiếp thu rồi cải biến các học thuyết, tôn giáo cho phù hợp với thực tiễn của dân tộc và mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, thì điều đó cũng là một sáng tạo lớn.

Thực tế cho thấy, dân tộc Việt Nam đâu phải chỉ biết tiếp thu, cải biến đơn thuần như vậy. Trong Phật giáo, các Thiền sư Việt Nam trên cơ sở “cái phông” Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa, đã tạo nên một hệ thống lý luận mới, chẳng hạn như triết lý “Nhậm vận”, “Vô bố úy” của Vạn Hạnh, “Lục thì sám hối khóa nghi tự” của vua Trần Thái Tông... Nhưng điểm đáng chú ý nhất ở đây không phải chỉ là những thành tựu đó, mà là con đường đi đến giác ngộ bằng hành động thực tiễn hằng ngày của Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam. Không sáng tạo thì làm sao dân tộc ta có thể đánh thắng nổi những đội quân xâm lược hùng mạnh, nếu không muốn nói là hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Ngày nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng sáng tạo, mà còn làm giàu và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin lên một bước mới trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam. Do đó, có thể khẳng định tinh thần sáng tạo là một tiềm năng tích cực, một sức mạnh mềm của Việt Nam. Sáng tạo trong chiến tranh nhằm đánh thắng quân xâm lược; còn sáng tạo trong hòa bình nhằm phát triển đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ ra, năng lực sáng tạo của các nhà khoa học chưa được phát huy đầy đủ. Vì thế, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trước hết phải nỗ lực hơn nữa nhằm tạo ra được bầu không khí, môi trường, điều kiện phù hợp cho sáng tạo, đặc biệt là đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội; có cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Năm là, thu hút và trọng dụng nhân tài. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ, phải tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; phải có cơ chế đột phá để lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài. Nhân tài là nguyên khí của quốc gia; thiếu nhân tài thì đất nước không thể phát triển nhanh, bền vững được. Trước đây, nhà nho Nguyễn Đức Đạt (1823 - 1887), trong tác phẩm Nam sơn tùng thoại đã cho rằng: Vua phải trọng dụng hiền thần mà xa lánh kẻ nịnh bợ. Vua có trực thần, là gốc của việc trị. Vua có nịnh thần là gốc của việc loạn. Tài năng của ông vua là biết dùng người, và vì không cho mình là tài năng nên lại trở thành người có tài năng.

Từ những kinh nghiệm của cha ông, chúng ta cần nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện những cơ chế mang tính đột phá để thu hút, lựa chọn, đào tạo, trọng dụng nhân tài. Tuy nhiên, như trong Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ ra, chúng ta “chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài”. Đây là những hạn chế cần nhanh chóng được khắc phục, để có thể hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đại hội XIII của Đảng, nhằm thu hút, trọng dụng, sử dụng có hiệu quả nhân tài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sáu là, xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; xây dựng cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo; phát huy tối đa nhân tố con người, vì con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Việc phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo của người Việt Nam phải gắn liền với cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài, cơ chế phát huy dân chủ để chuyển hóa thành nguồn lực phát triển đất nước. Đây là những chủ trương vô cùng đúng đắn, nhưng cần vận dụng, cụ thể hóa một cách hợp lý, mang tính tổng thể để chủ trương sớm biến thành hiện thực và là một nhiệm vụ quan trọng của nhiều cấp, nhiều ngành, trong thời gian dài. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta cũng chỉ ra rằng các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt.

Vì vậy, một trong những cơ chế, giải pháp nhằm phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam, giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo là: “tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(2)./.

-----Nguồn: TCCS-----------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 280
(2) 
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 179