Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2023

Lại vẽ trò bôi lem chính sách nhân văn, nhân đạo

Thời gian qua đã xuất hiện nhiều luận điệu vu cáo, xuyên tạc chính sách hình sự, chế độ giam giữ tù nhân ở Việt Nam khi cho rằng chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử, bắt và giam giữ tùy tiện, vi phạm các đảm bảo về xét xử công bằng; Việt Nam đang giam giữ nhiều “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”; Việt Nam đang duy trì chế độ nhà tù bất công, ngược đãi, tra tấn tù nhân và đàn áp bằng bạo lực…

Đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn, ân giảm hình phạt… là những chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước, thể hiện truyền thống nhân văn, nhân đạo của dân tộc ta đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội.

Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã tiến hành nhiều đợt đặc xá, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn cho những người lầm lỗi có quá trình cải tạo tốt được trở về với cộng đồng. Giảm án, tha tù trước thời hạn nhân dịp Quốc khánh năm 2023 một lần nữa tiếp tục khẳng định chính sách nhân văn này.

Ngày 30/8, theo thông tin từ Văn phòng Chủ tịch nước, xét đề nghị của Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao và Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; sau khi xem xét, cân nhắc nhiều mặt, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã quyết định ân giảm từ hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho 11 bị án. Văn phòng Chủ tịch nước nhấn mạnh, quyết định này thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước, mở cho các bị án nêu trên con đường được sống, cải tạo, phục thiện, có cơ hội trở về với gia đình, cộng đồng.

Cùng với đó, tại các trại giam, trại tạm giam trên cả nước cũng công bố các quyết định giảm án, tha tù trước thời hạn cho các phạm nhân cải tạo tốt, có đủ điều kiện theo quy định.

Thời gian qua đã xuất hiện nhiều luận điệu vu cáo, xuyên tạc chính sách hình sự, chế độ giam giữ tù nhân ở Việt Nam khi cho rằng chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử, bắt và giam giữ tùy tiện, vi phạm các đảm bảo về xét xử công bằng; Việt Nam đang giam giữ nhiều “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”; Việt Nam đang duy trì chế độ nhà tù bất công, ngược đãi, tra tấn tù nhân và đàn áp bằng bạo lực…

Gần đây là báo cáo của Nghị viện châu Âu (EP) năm 2022 đã có những thông tin, nhận định thiếu khách quan, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng, cơ quan này đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”…

Hay như các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài sử dụng mạng xã hội để đăng các bài viết xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền trong “bắt và giam giữ tùy tiện tù nhân chính trị”,  xuyên tạc về sự độc lập của cơ quan tư pháp.  Chúng tự vẽ ra các con số, cho rằng chính quyền đã bắt giữ ít nhất 173 người hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, trong đó có 24 người đang bị tạm giam chờ xét xử, có 19 người bị bắt giữ và 26 người khác bị kết án vì thực thi các quyền! Những ngày qua, trên trang Facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân liên tục đăng tải các bài viết về nhân quyền ở Việt Nam và đòi thả tự do cho các đối tượng như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang… những trường hợp mà tổ chức Việt Tân tự phong là “nhà hoạt động nhân quyền”!

Các hoạt động xuyên tạc, vu cáo trên thực chất là phương thức, thủ đoạn thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. Các đối tượng triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền, coi đó là một mũi tấn công chiến lược nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy của phạm nhân, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, gia đình, các cơ quan có liên quan và xã hội. Thực hiện Luật Đặc xá cùng các chính sách liên quan, trong thời gian qua, Chủ tịch nước đã quyết định nhiều đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn nhân các ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.

Công tác đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn những năm qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Về mặt xã hội, công tác này có tác dụng khuyến khích những người bị kết án phạt tù đang chấp hành án sẽ tích cực học tập, lao động, chấp hành tốt các quy định, nội quy trại giam, lập công chuộc tội để có thể sớm trở về với gia đình và cộng đồng. Đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất chế độ XHCN của chúng ta. Về chính trị, việc công khai, minh bạch, dân chủ trong thực hiện các trình tự thủ tục xét đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn; thông tin đầy đủ cho các cơ quan báo chí trong nước, quốc tế và tổ chức các chuyến thăm, khảo sát tại các trại giam cho các tổ chức nhân quyền quốc tế đã thể hiện rõ chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với phạm nhân. Qua đó đã góp phần phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch hòng bôi nhọ, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm nhân quyền.

Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người một cách công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi công dân, kể cả những người đang chấp hành hình phạt tù. Điều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013, hệ thống các văn bản pháp lý như Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Luật Thi hành tạm giam, tạm giữ năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019…

Đặc biệt, hiện nay, hoạt động đặc xá được thực hiện theo Luật Đặc xá mới (Luật Đặc xá sửa đổi, bổ sung năm 2018). Công tác đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn được tiến hành trên cơ sở những quy định mới, chặt chẽ hơn về các tiêu chuẩn được xét, từ việc bảo đảm thời hạn đã chấp hành án phạt tù, hoàn thành các nghĩa vụ bồi thường dân sự, hình sự, trả lại các tài sản có được do hành vi phạm tội cho đến xem xét kết quả cải tạo trong quá trình chấp hành án phạt tù, bảo đảm chỉ những người thực sự đủ tiêu chuẩn mới được hưởng khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Thực tiễn cho thấy, các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm các quyền theo quy định pháp luật đối với công dân, không phân biệt công dân nước ngoài hay công dân Việt Nam trong quá trình tố tụng và thi hành án hình sự. Những quyền này được bảo đảm trên thực tế tại các tòa án, các cơ sở giam giữ. Đó là các quyền cơ bản của những người chấp hành án phạt tù như quyền về ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, nhận quà hay bưu phẩm, thăm gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự, người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự… Chính sách chung là tạo điều kiện thuận lợi tối đa để các phạm nhân yên tâm cải tạo, tu dưỡng đạo đức và đặc xá chính là sự động viên cao nhất nếu họ cải tạo tốt, thực sự hướng thiện, hoàn lương.

Bằng các quy định của pháp luật nói trên đã đảm bảo đầy đủ các quyền của công dân trong công tác đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn, kể cả đối với người nước ngoài đang chấp hành án tại Việt Nam. Những quyền này được bảo đảm trên thực tế tại các tòa án, các cơ sở giam giữ, là minh chứng sinh động để phản bác luận điệu, thông tin sai sự thật của những cá nhân, tổ chức có ý đồ xấu, cố tình xuyên tạc về tình hình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc xem xét đặc xá cho những trường hợp quốc tịch nước ngoài trên cơ sở công bằng, minh bạch cũng giúp cộng đồng quốc tế nhận thức rõ hơn về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Hằng năm, với quyết định đặc xá của Chủ tịch nước, quyết định giảm án, tha tù trước thời hạn của các cấp có thẩm quyền đã tạo điều kiện cho rất nhiều người được hòa nhập cộng đồng hoặc rút ngắn thời gian chấp hành án, sẵn sàng cho cơ hội sớm trở về với gia đình. Những người từng một thời lầm đường, lạc lối đã phải trả giá cho những hành động của mình, bị hạn chế một số quyền công dân theo quy định, tuy nhiên vẫn được tạo điều kiện, cơ hội để sửa sai, để có thể được tận hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đó với tư cách của một công dân. Đó chính là dấu ấn nhân văn, phản ánh rõ việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Tái diễn luận điệu xuyên tạc trong dịp Quốc khánh 2/9

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Song hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đi ngược lại niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội lại tăng cường hoạt động chống phá.

Các đối tượng sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, bình luận với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn phiến diện, lệch lạc.

Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.

Trong dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, trên một số diễn đàn, có những người tự cho mình danh nghĩa “nhà nghiên cứu” hay “phân tích lịch sử”, đưa ra những nhận định, đánh giá trái với sự thật, họ còn lồng ghép các dữ liệu lịch sử và so sánh khiên cưỡng với một số sự kiện khác để tạo ra cách nhìn sai trái.

Có trường hợp vin cớ việc chúng ta xử lý nhiều vụ án tham nhũng gần đây để đánh đồng vấn đề tham nhũng là “lỗi hệ thống”, từ đó kích động rằng, nhân dân hy sinh làm cách mạng để cho quan chức nắm quyền, tham nhũng, vơ vét của cải! Những phần tử xấu được dịp hùa vào miệt thị, cho rằng đất nước đã giành độc lập 78 năm nhưng đến nay nhân dân “chưa được tự do”, quyền và lợi ích cơ bản của người dân “bị chà đạp”, xuyên tạc “cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn”!

Các luận điệu bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975… là thủ đoạn “đến hẹn lại lên” của các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm.

Thủ đoạn này không mới nhưng việc nhắc đi nhắc lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của dân tộc sẽ tạo ra sự nhũng nhiễu thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết.

Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc.

Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta từ Bắc chí Nam nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chấm dứt kiếp nô lệ, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi lên CNXH.

Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm khảm mỗi người dân, ngày Quốc khánh 2/9 trở thành bản hùng ca của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu chống giặc ngoại xâm, tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại độc lập dân tộc. Hoàn cảnh lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, đồng thời cho thấy ý nghĩa sống còn của các giá trị văn hóa giữ nước.

Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước ngay khi đất nước đang thái bình.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ bờ cõi đất nước gắn với các tên tuổi lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... là những bản anh hùng ca bất diệt. Thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Đã 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Thời gian càng lùi xa càng có thêm sự chiêm nghiệm, có thêm nhiều thông tin, càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đối với đất nước, dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện ý nghĩa, tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc theo con đường CNXH. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.

Chính bởi ý nghĩa lịch sử đó cùng những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thế giới ngợi ca nhân dân của một đất nước Việt Nam anh hùng.

Đến hôm nay, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.

Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, sự thân thiện, mến khách, đồng thời là biểu hiện của sự nỗ lực, tinh thần chiến thắng đói nghèo trong thế kỷ XXI. Những thành tựu to lớn đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu trong nước hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động bồi hồi, ôn lại khí thế hào hùng, sôi sục, náo nức của những ngày mùa thu cách mạng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Quốc khánh chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trau dồi tinh thần yêu nước, cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước.

Ranh giới tốt - xấu, đúng - sai lu mờ trên không gian mạng

Nếu biên cương quốc gia là một thực thể hữu hình, được bảo vệ bởi chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, khó bị xâm phạm, lấn chiếm thì “biên cương văn hóa” là ranh giới vô hình, mong manh, rất khó quản lý và ngăn chặn sự “xâm lăng” từ bên ngoài vào. Điều đó đang tác động thường xuyên, rất nguy hiểm, khó lường đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là trong giới trẻ.

Sự tôn sùng văn hóa ngoại lai lệch chuẩn, thích thưởng thức những “rác phẩm” trên không gian mạng... đã dần hình thành lối sống dị biệt, đi ngược với văn hóa truyền thống dân tộc ở một số người trẻ hiện nay. Hệ quả từ cuộc “xâm lăng văn hóa” thời đại kỷ nguyên số không còn là nguy cơ, mà trở thành thực tế không mong đợi đối với một bộ phận chủ nhân tương lai của đất nước.

“Rác phẩm” được tô hồng và trở nên cuốn hút

 Liên tiếp trong tháng 5, tháng 6 vừa qua, cơ quan chức năng những tỉnh Bắc KạnHà GiangBắc Ninh bắt giữ và khởi tố các bị can về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Điểm trùng hợp là tất cả bị can trên đều ở độ tuổi thanh niên, trong số đó có đối tượng thuê máy chủ và tên miền của những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài để xây dựng, tạo lập website rồi phát tán và thu lợi từ các video “bẩn”. Đó cũng là thực tế đáng lo ngại khi trong số tội phạm truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, phần nhiều là người trẻ, sử dụng internet và mạng xã hội để phát tán nội dung xấu độc, lệch chuẩn. Nguyên nhân phạm tội-vì tiền thì đã rõ. Thế nhưng ngọn nguồn của hành vi bất chấp pháp luật, coi thường văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục dân tộc, chính là ở chỗ không ít khán thính giả trẻ tuổi đam mê thưởng thức những “rác phẩm” văn hóa đã vô tình tiếp tay cho các đối tượng đi tìm nguồn cung.

Quyền tự do lưu hành, quảng bá, phổ biến các sáng tạo văn hóa-nghệ thuật trên không gian mạng hiện nay dẫn tới tình trạng vàng thau lẫn lộn, tràn lan các sản phẩm độc hại. Văn học, phim, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn trên mạng; mỹ thuật, hội họa, nhiếp ảnh, trò chơi trực tuyến... đang tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách thanh thiếu niên. Trong số đó, rất nhiều tác phẩm xứng đáng được gọi là “rác phẩm”: Những phim ngắn khai thác cảnh nóng, khiêu dâm, bạo lực, giang hồ xăm trổ, những MV âm nhạc chủ yếu để "câu view", "câu like". Nhan nhản clip có nội dung tục tĩu, phản cảm trên mạng xã hội thu hút hàng triệu lượt khán giả trẻ.

Nhiều chuyên gia lo lắng khi các bộ phim “đình đám” thu hút người trẻ trên mạng thường có mô típ “3S”: Sex-sốc-sến, hoặc công thức “giang hồ+bạo lực+hài nhảm”. Điều đó góp phần “nghiệp dư hóa”, “bình dân hóa” công việc sáng tạo văn hóa-nghệ thuật, ảnh hưởng đến sự phát triển đúng hướng và lành mạnh của văn hóa nước nhà, đồng thời tạo nên một thế hệ công chúng có gu thẩm mỹ nghèo nàn, què quặt, tầm thường, về lâu dài sẽ ảnh đến nền tảng tinh thần, tầm vóc của văn hóa dân tộc. Điều nguy hại nữa là ảnh hưởng đến lý tưởng, mục đích sống của thế hệ trẻ, khuyến khích một lối sống hưởng thụ, chạy theo vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần.

Một thực trạng hết sức lo ngại là các hành vi phản cảm, ứng xử vô văn hóa, hiện tượng ném đá hội đồng, anh hùng bàn phím... ngày càng phổ biến và thu hút một bộ phận người trẻ tham gia “like”, chia sẻ, hùa theo “comment bẩn”. Rồi ngôn ngữ mạng (ngôn ngữ thời @, ngôn ngữ tuổi teen, tiếng ta “đá” tiếng Tây...) đang ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Một bộ phận thanh niên hấp thụ lối sống phương Tây một cách thái quá, chỉ chuộng nghe nhạc ngoại, phim ngoại và sính những trang phục nước ngoài. Có những bạn trẻ sống gấp, theo kiểu hưởng thụ, không muốn cống hiến, lao động nhưng lại đòi hỏi để thỏa mãn nhu cầu vật chất. Đáng buồn là một số thanh niên sau khi tiếp thu mớ kiến thức hỗn độn và văn hóa lai căng, nhố nhăng trên không gian mạng rồi quay lại chê bai mọi thứ của đất nước, các giá trị truyền thống của cha ông, của dân tộc, cho rằng những điều đó là lạc hậu, trì trệ.

Trong lĩnh vực giải trí, một số người trẻ bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài, từ phim điện ảnh, phim truyền hình, các video ngắn, vlog, game streaming (chơi và tường thuật game trực tuyến), các video “chơi khăm” (prank), hình chế (meme)... Có bạn trẻ hùa theo những trào lưu độc dị khiến người khác không khỏi giật mình, như hát cùng dao kéo, chụp ảnh quái đản, “hot boy” giả gái, nuôi thú độc...

Trong xu thế hội nhập quốc tế, giới trẻ chủ động lựa chọn, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước trên thế giới để làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy vậy, trong quá trình đó vẫn tồn tại hiện tượng tiếp nhận xô bồ mọi thứ gọi là “tân kỳ” của văn hóa ngoại lai mà không phân biệt hay-dở, tốt-xấu để đi đến chỗ lai căng, mất gốc về văn hóa. Sự thiếu chọn lọc thể hiện ở khía cạnh lạm dụng trong việc tiếp thu các sản phẩm văn hóa giải trí. Đó là sự lạm dụng trong các chương trình giải trí và quảng cáo trên những phương tiện truyền thông; lạm dụng hình thức biểu diễn của một số loại hình văn hóa đại chúng; lạm dụng việc tổ chức lễ hội; lạm dụng ca từ, hình ảnh trong những bài hát một cách sống sượng, phản cảm.

Trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta từng cảnh báo: Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đề cập đến hậu quả của các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai xâm nhập vào nước ta, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” nêu vấn đề: Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

Chúng ta hoàn toàn có thể coi không gian mạng là một môi trường văn hóa, bởi ở đó, các cá nhân thực hiện giao tiếp, thiết lập quan hệ, xây dựng những mạng lưới và tiến hành tương tác xã hội... Trên môi trường đó diễn ra những hoạt động văn hóa vô cùng sôi động với các tác phẩm văn hóa-nghệ thuật được phổ biến nhanh chóng, những hình thức hưởng thụ văn hóa rất cởi mở, đa dạng. Các sản phẩm văn hóa giải trí có xu hướng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhu cầu tiếp nhận của cộng đồng, trong đó giới trẻ là đối tượng tiếp nhận chủ yếu. Đáng buồn là những sự méo mó, lệch chuẩn lại được tô hồng qua lăng kính nghệ thuật và trở nên cuốn hút với một bộ phận người trẻ. Càng làm những hành động phản văn hóa càng dễ kiếm tiền, càng thành công, càng được tung hô. Ranh giới tốt-xấu, đúng-sai bị lu mờ trên không gian mạng khi một số bạn trẻ chưa đủ nhận thức và bản lĩnh để phân biệt, hoặc cố tình phớt lờ điều đó.

"Idol" nhố nhăng dẫn dắt lối sống lệch chuẩn

Sự chi phối, ảnh hưởng của tư tưởng ngoại lai dẫn đến hiện tượng cuồng thần tượng của giới trẻ đã trở nên nhức nhối trong một thời gian dài. Từ việc hấp thụ sản phẩm, lối sống của những "Idol" (thần tượng) nhố nhăng khiến một bộ phận người trẻ không phân biệt được đâu là hay-dở, phi văn hóa.

Trong các nền tảng mạng xã hội thông dụng ở Việt Nam, có một điểm chung là việc sử dụng thuật toán phân phối để tạo nên nội dung xu hướng (chạy theo những thứ đang “hot”, được nhiều người quan tâm). Điều này dẫn đến những nội dung xu hướng độc hại phát tán đến giới trẻ rất nhanh và trên diện rộng. Các chuyên gia truyền thông cảnh báo, điều rất nghịch cảnh hiện nay là một bộ phận người trẻ không thích xem các vấn đề về lịch sử, xã hội, văn hóa, nhưng lại hứng thú và tung hô những người giỏi chửi bới, lừa đảo, nói xấu nhau trên mạng.

Hiện nay, trên các nền tảng mạng xã hội, ai có nhiều người theo dõi, nhiều lượt “thích” sẽ được đặt tên là “Idol”. Mạng xã hội tạo cơ hội để ai cũng có thể trở thành nhà sáng tạo nội dung, ai cũng có thể trở nên “nổi tiếng” và thành “KOL” (người có sức ảnh hưởng). Bản thân những người làm ở các công ty truyền thông, quản lý một số lượng lớn người làm nội dung số cũng thừa nhận đang có một bộ phận bạn trẻ chọn con đường trở nên nổi tiếng, thành “Idol”, thành “KOL” bằng cách tạo ra những nội dung độc hại. Vì lượt xem, lượt chia sẻ mà cuối cùng đều được quy thành tiền mà xuất hiện những bạn trẻ liên tục tạo nên các nội dung vô bổ, xu hướng độc hại để thu hút người dùng, từ nhảy múa khoe thân đến quảng cáo cờ bạc, phim ảnh dung tục; từ miệt thị người khác, kích động vùng miền đến tung hô những giá trị đi ngược lại với xã hội, thậm chí phản văn hóa, phi giáo dục. Có các nội dung còn khuyến khích con người làm những điều kỳ quặc, trái với lẽ thường, gây nguy hiểm đến tính mạng. Hiện tượng thanh niên Ngô Bá Khá (biệt danh là “Khá Bảnh”) dù đã bị kết án hơn 10 năm tù vì tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc nhưng đến nay vẫn được một số bạn trẻ nhắc đến như một thần tượng với những video clip quái dị trên mạng xã hội.

Có những “thần tượng” mạng được một số bạn trẻ phong là “thánh ăn” bởi dám “dũng cảm” từ bỏ quyền làm người khi tự nhốt mình trong chuồng và ăn giống như một con vật. Hay có những “giang hồ” mạng với lý lịch phức tạp, được biết đến với nhiều hành vi ngông cuồng, bạo lực, thậm chí từng có tiền án, tiền sự nhưng các buổi phát sóng trực tiếp của những người này lại thu hút đến vài trăm nghìn lượt theo dõi, bình luận, trở thành “KOL” trong một bộ phận người trẻ. Có cả những “thần tượng” dẫn dắt lối sống với quan điểm không cần đi học, đi làm, muốn kiếm tiền thì đơn giản là hẹn hò qua mạng để nhận người bao nuôi. Cụm từ “sugar baby” hàm ý nói về những cô gái được trả tiền để bao nuôi, lại được sáng tác thành sản phẩm âm nhạc và không ít bạn trẻ lan truyền trên mạng xã hội.

Những thần tượng nhố nhăng trên mạng ảo đang trở thành xu hướng dẫn tới nguy cơ bùng phát lối sống lệch chuẩn trong giới trẻ. Những thần tượng lệch chuẩn này là ai? Là những người tự xưng “Idol” mà chẳng cần thực lực chuyên môn; những “chiến thần chê bai” hay “thánh ăn”, “thánh chửi” với biểu hiện chung là ảo tưởng sức mạnh, “ngáo” quyền lực tự huyễn hoặc mình có quyền sinh quyền sát, là chuyên gia trong mọi lĩnh vực và có quyền đánh giá mọi thứ. Hay là những “KOL” tôn sùng cuộc sống vật chất mà bất chấp đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Những “Idol” đó còn có cả người nổi tiếng, hoạt động nghệ thuật sôi nổi nhưng lên mạng là chửi bới, đe dọa, xúc phạm, miệt thị, công kích lẫn nhau, thậm chí vi phạm pháp luật.

Lĩnh vực âm nhạc cũng chứng kiến nạn du nhập ồ ạt, thiếu chọn lọc. Một số nhóm nhạc nước ngoài gây “sốt” trong giới trẻ, đặc biệt là tuổi teen, chỉ bởi ngoại hình và vũ điệu đẹp mắt mà chẳng cần hiểu ca từ hay yếu tố nghệ thuật ra sao. Chính điều này đã cổ xúy cho xu hướng coi trọng yếu tố nhìn nhiều hơn nghe, đề cao tính giải trí hơn tính nghệ thuật trong lối cảm thụ âm nhạc của người trẻ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân xuất hiện một số người trẻ Việt Nam tự xưng là ca sĩ với những bài hát “nhạc chợ” nhảm nhí cùng màn biểu diễn khoe thân phản cảm. Sự tiếp nhận ồ ạt âm nhạc quốc tế vào thị trường Việt Nam của một bộ phận người trẻ phần nào làm méo mó đời sống âm nhạc trong nước, tạo nên lớp váng màu mè bắt mắt của những “Idol” mạng mà ẩn sau đó không biết bao nhiêu là sạn.

Từ thực trạng cuồng những thần tượng nhố nhăng khiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị một bộ phận người trẻ coi thường, thậm chí chế giễu, thuần phong mỹ tục đứng trước nguy cơ bị chà đạp, đạo đức có nguy cơ băng hoại, tệ nạn xã hội gia tăng trong thanh thiếu niên.

Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ những tồn tại: Tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là "vô văn hóa", "phản văn hóa").

Đừng đổ lỗi hoàn toàn cho “thế giới ảo”

Xã hội số, văn hóa số đem lại những cơ hội nhưng cũng tạo ra thách thức mới trong xây dựng, phát triển văn hóa.

Nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp bị mai một, trong khi những thói hư tật xấu, văn hóa ngoại lai không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam xâm nhập tràn lan, làm băng hoại đời sống văn hóa tinh thần, nhất là trong giới trẻ-những người được xem là đội ngũ tiên phong của công cuộc chuyển đổi số. Thế nhưng đừng đổ lỗi hoàn toàn cho “thế giới ảo” cùng khoảng trống trong công tác quản lý, mấu chốt là ở lỗ hổng về nhận thức, sự yếu kém về bản lĩnh, thiếu tinh thần trách nhiệm của một bộ phận người trẻ.

Phim ngoại chiếm lĩnh và thực trạng “nhờn” luật

Bàn về sứ mệnh đầy thách thức của tuổi trẻ trong bảo vệ, lan tỏa các giá trị Việt thời buổi “xuyên biên giới”, một số chuyên gia trăn trở khi đưa ra giả thuyết: Chúng ta thử tưởng tượng trong một tương lai gần, người trẻ Việt Nam từ lúc mở mắt thức dậy đến khi lên giường đi ngủ đều lên YouTube, Facebook, TikTok... để xem, tán thưởng hoặc bình luận mọi thứ trên đời, đọc tin và xem video mà không cần quan tâm là do báo nào viết, ai đưa lên; đâu là thông tin thật, đâu là tin giả; chương trình truyền hình mình xem do ai làm, có bản quyền hay không... Trẻ em thì tìm cảm hứng và định hướng lối sống trên mạng qua các video của Khá Bảnh, Thơ Nguyễn hay bà Tân Vlog...; không cần biết đến các kênh truyền hình trong và ngoài nước một khi đã có Facebook, YouTube, TikTok hay Netflix... Thậm chí, những đứa trẻ không còn được nghe lời ru của mẹ, của bà, thay vào đó là những clip âm thanh, bài hát có sẵn trên mạng làm thay sứ mệnh của tình yêu thương thiêng liêng, cao quý.

Nghe giả thuyết trên, có lẽ chúng ta đều thấy rằng đó không hoàn toàn là sự tưởng tượng mà đã trở thành một phần thực tế cuộc sống hiện nay. Với những chiếc điều khiển ti vi được nhiều bạn trẻ cài sẵn nút bật-tắt để xem YouTube, Netflix, việc bật ti vi gần như đồng nghĩa với việc vào những kênh này để xem. Không còn ranh giới giữa ti vi truyền thống với kho tàng nội dung video trên internet. Có những bạn trẻ hiện nay chẳng biết bấm vào nút nào trên chiếc điều khiển để xem các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam hay các đài truyền hình chính thống khác. Nguy cơ những khái niệm như “kênh truyền hình thiết yếu”, “báo chí chính thống” chỉ còn nằm trong trí nhớ của thế hệ "8X" trở về trước. Tình hình này có thể còn tệ hơn nếu những sản phẩm văn hóa, nhất là các bộ phim chất lượng “made in Việt Nam” ngày một thưa thớt. 

Nhìn thị trường phim tại Việt Nam, kể cả phim chiếu rạp và phim chiếu trên các nền tảng xuyên biên giới thì phim nước ngoài vẫn ở địa vị thống trị. Điều này bắt nguồn từ một thực tế hiển nhiên, đó là hệ thống phân phối phần lớn thuộc về các nhà phân phối nước ngoài. Thêm vào đó, trừ một số bộ phim ăn khách mà chất lượng nghệ thuật còn nhiều điều phải bàn thì nhiều phim Việt chưa đủ sức hấp dẫn khán giả, khó mang lại giá trị thương mại. Hệ quả là trong khi những giá trị Việt phai nhạt dần thì khán giả, nhất là giới trẻ trong nước được thoải mái vẫy vùng cùng những bộ phim tràn ngập tinh thần, văn hóa, tư tưởng nước ngoài. Trong những bộ phim đó, tốt có, xấu có, không phù hợp với suy nghĩ, lối sống người Việt Nam cũng có; vô hình trung các giá trị của dân tộc trở thành cổ hủ, lạc hậu và dần bị mai một. Đó là chưa kể những bộ phim "cài cắm" hay vô tình có những chi tiết sai sót, xuyên tạc về lịch sử, thậm chí là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Phim ảnh là một lĩnh vực nghệ thuật vừa giúp các bạn trẻ thụ hưởng những giá trị, vừa góp phần điều chỉnh tư duy, hành vi của con người. Do đó, việc thiếu vắng tầm nhìn, định hướng trong quản lý lĩnh vực phim ảnh có thể dẫn đến những hệ quả lớn và nghiêm trọng hơn rất nhiều đối với văn hóa, tư tưởng so với thiệt hại về khía cạnh kinh tế.  

Xây dựng ngành công nghiệp điện ảnh được xem là mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, phim Việt Nam chiếu tại các rạp đang bị phụ thuộc vào khung giờ chiếu, kênh phân phối của các doanh nghiệp nước ngoài với hơn 80% thị phần. Cùng với đó, phim nhập khẩu chiếm 80% lượng phim chiếu rạp hằng năm, một tỷ lệ ngược hoàn toàn so với ở một số nước trong khu vực. Luật điện ảnh mới và nghị định hướng dẫn có quy định: Tỷ lệ phim Việt chiếu trong các rạp phải đạt ít nhất 15%; ưu tiên giờ vàng cho phim Việt... Nhưng có lẽ, tỷ lệ chiếu phim không còn quan trọng bằng câu hỏi: Có bao nhiêu phim Việt hay có thể ra rạp và chinh phục khán giả? Có phim "trăm tỷ" lại không nhiều giá trị nghệ thuật, nhiều bộ phim nghệ thuật lại ít bán được vé.

Không chỉ phim chiếu rạp, hệ thống nền tảng phim trực tuyến cũng chứng kiến sự thống trị của các hãng nước ngoài. Không ít nội dung xuyên tạc lịch sử, vi phạm chủ quyền đã được phát hiện trên các ứng dụng này. Đơn cử như Netflix nhiều lần phát các bộ phim vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ, xuyên tạc lịch sử dân tộc ta, có thể kể đến các series phim từng gây chú ý như: "Gửi thời thanh xuân ấm áp của chúng ta", "Một đời một kiếp", "Little women". Phim "Bà ngoại trưởng" dùng hình ảnh Hội An nhưng chú thích địa danh ở nước ngoài. Gần đây, bộ phim tài liệu “MH370: Chiếc máy bay mất tích” xuất hiện nội dung phản ánh không chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác phối hợp tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 mất tích của Malaysia. Sau khi nghiên cứu ý kiến của các cơ quan chức năng, ngày 11-4-2023, Bộ Thông tin và Truyền thông có văn bản nghiêm khắc yêu cầu Netflix gỡ bỏ những nội dung vi phạm pháp luật trong bộ phim tài liệu nêu trên. Thế nhưng Netflix vẫn tiếp tục vi phạm. Tháng 7 vừa qua, Cục Điện ảnh có công văn yêu cầu Netflix gỡ bỏ phim “Hướng gió mà đi” bởi lại xuất hiện nội dung vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

Luật Điện ảnh năm 2022 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2023 đã quy định cả hai cách tiền kiểm và hậu kiểm trong công tác quản lý phim trên không gian mạng. Tiền kiểm là siết chặt hơn về quy định các đối tượng được phép phổ biến phim trên không gian mạng, cũng như danh sách phim và mức phân loại trước khi phổ biến. Khâu hậu kiểm có áp dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo, các giải pháp kỹ thuật để phát hiện, ngăn chặn và gỡ bỏ phim vi phạm. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức thực hiện việc kiểm tra nội dung phim phổ biến trên không gian mạng, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông để xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Cùng với những nội dung trong Luật Điện ảnh năm 2022, nhiều quy định mới có hiệu lực từ năm 2023 đã tạo hành lang pháp lý đầy đủ hơn, giúp cơ quan quản lý nhà nước có căn cứ để quản lý chặt chẽ hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng. Thế nhưng vì sao vẫn xảy ra tình trạng phim mạng độc hại được công chiếu thời gian gần đây? Bất cập nằm ở chỗ những đơn vị cung cấp dịch vụ xem phim trên mạng có thu phí tại Việt Nam nhưng không chịu sự quản lý, không có tư cách pháp nhân ở nước ta, dẫn đến tình trạng nhiều lần vi phạm. Hình thức xử lý là gỡ bỏ phim vi phạm nên dường như các nhà phổ biến phim nước ngoài trên không gian mạng vẫn đang "nhờn" luật.  

Công tác tiền kiểm chưa chặt chẽ, triệt để dẫn tới một số phim độc hại “lọt lưới” trên không gian mạng. Cơ chế hậu kiểm góp phần phát hiện, ngăn chặn phim vi phạm quy định pháp luật, phản văn hóa; thế nhưng trước khi bị yêu cầu gỡ bỏ thì những bộ phim này đã được nhiều khán giả, nhất là các bạn trẻ “thưởng thức” và biết đâu đó, chúng đã được lưu trữ về máy tính hay điện thoại cá nhân?!

"Bội thực" thông tin nhưng thiếu trí tuệ và bản lĩnh văn hóa

Rõ ràng trong cuộc chiến chống lại sự “xâm lăng văn hóa” có vai trò, trách nhiệm rất quan trọng của các cấp, ngành chức năng trong quản lý, ngăn chặn sự thẩm lậu những sản phẩm văn hóa độc hại cũng như bảo tồn, phát huy để bản sắc văn hóa dân tộc luôn là niềm tự hào mà mỗi người trẻ nâng niu, gìn giữ. Xét một cách toàn diện, trong nguy cơ, hệ quả của sự “xâm lăng” ấy, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho không gian mạng hay các nhà chức trách để “lọt lưới” những văn hóa phẩm độc hại. Ở góc độ chủ quan của chủ thể, nếu bản thân mỗi người trẻ có nhận thức đúng đắn, ý thức trách nhiệm, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cùng bản lĩnh vững vàng, biết gạn đục khơi trong, tiếp nhận tinh hoa văn hóa trên thế giới một cách có chọn lọc, thì chắc chắn mọi sự “xâm lăng” không thể vượt qua ranh giới của biên cương văn hóa tư tưởng ở mỗi người.  

Một bộ phận người trẻ chạy theo lối sống ngoại lai lệch chuẩn đã vô tình hoặc cố ý biến mình thành nạn nhân của sự “xâm lăng văn hóa” khi chỉ biết thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà chẳng cần biết tốt-xấu, đúng-sai hay hệ lụy đối với quốc gia-dân tộc. Có những bộ phim chiếu mạng xuyên tạc sự thật lịch sử, tuyên truyền xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia, song chỉ cần có thần tượng của mình đóng vai chính thì một số bạn trẻ vẫn tung hô, hâm mộ. Thậm chí, có những bạn trẻ bàng quan với những sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, nhưng lại sẵn sàng chi số tiền không nhỏ và dãi nắng dầm mưa để góp mặt ở chương trình có “idol” quốc tế của mình xuất hiện.

Bởi nhận thức chưa đầy đủ, một số thanh niên hoang mang, khó định hướng giữa thông tin tích cực và tiêu cực trên không gian mạng, chưa kể đến việc có thể kiểm soát đúng đắn cảm xúc và hành vi cá nhân trước các sự kiện. Chính họ là những người đang tham gia chi phối quá trình phân phối sản phẩm văn hóa giải trí thông qua tính năng chia sẻ, bởi vậy, nếu không có phông văn hóa tốt thì rất dễ lan truyền các sản phẩm phản văn hóa tới cộng đồng.

GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương từng nêu vấn đề, đã có nhận xét mang tính cảnh báo mạnh mẽ rằng, lớp trẻ hiện đang đối mặt với một nghịch lý hiện hữu: Có nguy cơ “chết chìm” trong đại dương thông tin-không gian mạng, vậy mà vẫn thường xuyên “đói khát” về trí tuệ. Điều đó có nghĩa là sự "bội thực" thông tin giả đang chen lấn, đè nén con người, cản trở tìm kiếm sự thật chân chính, những hiện tượng chân thật, phản ánh bản chất thật trong khi những giả tưởng đánh lừa, xuyên tạc bản chất vẫn tràn ngập trên không gian mạng. Nó gây nên cảm giác dữ dội và dằn vặt lương tâm, ý thức trong chúng ta. Đó là sự “đói khát” của trí tuệ giữa thời hiện đại với sự ngự trị của công nghệ thông tin, ở đó đầy rẫy sự lẫn lộn giữa các luồng thông tin đúng-sai, thật-giả, tốt-xấu. Vì vậy, để bảo vệ nhân tính của con người và các phẩm chất nhân văn của xã hội, trong phát triển, cần cung cấp cho con người, nhất là lớp người trẻ tuổi đang trưởng thành sự định hướng thông tin, thực chất là định hướng giá trị sống, tâm hồn để họ vững vàng và bản lĩnh học tập thông tin, đón nhận thông tin chân thực, đích thực, biết từ chối và phê phán những luồng thông tin xấu độc để tự bảo vệ mình và bảo vệ cộng đồng.

Sức mạnh cho ta khả năng ấy chính là văn hóa. Nội lực và nội sinh ấy chỉ sinh ra từ những con người có giáo dục, nghĩa là những con người tử tế, lương thiện, trung thực và chính trực, sống có trách nhiệm với mình, với những người khác, với xã hội, biết tôn trọng và bảo vệ chân lý cũng như đạo lý ở đời. Giá trị văn hóa, giá trị con người là hiện thân sức mạnh bảo vệ và tự bảo vệ sự phát triển đích thực, đủ sức chống lại và vượt qua những phản phát triển-những độc tố phản văn hóa, phi nhân tính. Bản lĩnh văn hóa của thanh niên là không chỉ biết sống cho mình mà còn sống cho nhiều người, mình vì mọi người, không vô cảm trước những mất mát của cộng đồng, dân tộc; luôn hướng tới cái đẹp, nhận rõ thiện-ác, đúng-sai, tốt-xấu; không chỉ nhìn xã hội, nhìn người khác mà còn phải nhìn nhận chính bản thân mình. Văn hóa hội nhập đòi hỏi người trẻ cần có bản lĩnh văn hóa khi tiếp xúc và tiếp nhận cái mới, cái khác; biết tôn trọng sự đa dạng, sự khác biệt nhưng cũng phải biết tiếp thu có chọn lọc, loại bỏ những thứ không phù hợp, thậm chí là xấu độc.

Trong một thế giới tràn ngập thông tin, thật-giả lẫn lộn, thêm vào đó, các thuật toán thông minh có thể thao túng, dẫn dắt đám đông theo khuynh hướng mà công nghệ muốn, người trẻ cần được trang bị các kỹ năng mềm, những “bộ lọc” tỉnh táo để không a dua và bị dẫn dắt bởi hội chứng đám đông. Gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng xã hội đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, định hướng và bản thân mỗi người trẻ phải biết lấy tự học, tự rèn làm cốt để trang bị đầy đủ kiến thức, bản lĩnh trước sự “xâm lăng văn hóa”.

Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

 Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động./. 

Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

 Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội./. 

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

 Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.   

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác./.

Nhận diện nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ

 Nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người không đơn giản là căn cứ vào một vài biểu hiện bề ngoài. Bởi vì, hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh đúng bản chất bên trong, thực tế có những trường hợp vì bức xúc, bất bình về vấn đề gì đó mà nhất thời có những lời nói, hành động thể hiện thái độ bất mãn thì đã vội vã cho là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà cần làm rõ nguyên nhân, bản chất sự việc. Việc kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải hết sức thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các dấu hiệu và hành vi diễn ra trong một quá trình. Trong đó, mấu chốt của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng theo hướng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và để phòng có hiệu quả đòi hỏi các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội và cả hệ thống chính trị cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với từng cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vịNhận diện và phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một vấn đề hết sức cấp bách, cuộc đấu tranh vì sự tồn vong của Đảng, chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và bằng những biện pháp quyết liệt với tinh thần thái độ kiên quyết, không khoan nhượng thì mới đạt được kết quả như mong muốn, đặc biệt là trong tình hình hiện nay./. 

Các thế lực thù địch đẩy mạnhthực hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

  “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ, thách thức hàng đầu đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nước ta. Vì vậy, nhận diện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu mang tính cấp bách đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

“Diễn biến hòa bình” với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm chống phá các nước chủ nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên thế giới. Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không phải bây giờ mới có, cũng không phải chỉ có duy nhất ở Việt Nam, mà có ngay trong phong trào Cộng sản quốc tế ở các nước Xã hội chủ nghĩa từ trước. Trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, “Chủ nghĩa xét lại” đã xuất hiện ở Liên Xô, một trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ theo “Chủ nghĩa xét lại” đã công khai phê phán và đòi “xét lại Học thuyết Mác - Lênin”. Trong thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng đã có một số cán bộ, đảng viên, trí thức đi theo “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, nước ta lại xuất hiện các đối tượng cơ hội chính trị mà thực chất đó là những cán bộ, đảng viên đã bị thoái hóa, biến chất và họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đặc biệt là hiện nay, khi mà kẻ thù đang thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng luôn coi các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện để thực thi có hiệu quả Chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam./.

GẮN CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VỚI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”.

Nhìn quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc.Có thể nhận thấy, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thông qua việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Tham nhũng được coi là một loại “giặc nội xâm” luôn được xử lý một cách quyết liệt. Quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét từ người đứng đầu Đảng, Nhà nước đến cả hệ thống chính trị. 

Thực tiễn cho thấy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua được tiến hành đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở, không chỉ góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh của Đảng mà còn nâng cao uy tín của Đảng với nhân dân nên được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Do đó, một trong những điểm mới quan trọng được Đại hội XIII đưa ra là “Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Đại hội khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”. Việc phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta thời gian qua, góp phần làm cho Đảng ngày càng trọng sạch, vững mạnh. Do đó, không thể cố tình phủ nhận những quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng./.

Nguy hại của sự dối trá

Dối trá là một thói xấu nhưng vẫn có ở nhiều người, trong cả cán bộ, đảng viên, gây ra những hậu quả khó lường. Người dối trá cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá không đúng sự việc, vấn đề, con người và nghiêm trọng hơn là sự dối trá gây bức xúc, mất đoàn kết nội bộ, niềm tin, kìm hãm sự phát triển của cá nhân, tập thể và đất nước... Đấu tranh, ngăn chặn thói dối trá là việc rất cần thiết để phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

Nguy cơ phá vỡ tổ chức từ bên trong

Dối trá được hiểu là những cử chỉ, hành vi, lời nói, việc làm trái ngược với sự trung thực của cá nhân, tập thể. Đó là hành vi đưa ra nhiều thông tin thiếu chính xác, sai sự thật, khiến cá nhân, tập thể nhận thông tin đưa ra các quyết định có lợi cho một người hoặc một nhóm người cung cấp thông tin. Dối trá trong xã hội là nguyên nhân căn cốt khiến các chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức công vụ và cao hơn nữa là đạo đức chính trị và văn hóa chính trị bị ảnh hưởng, tổn thương ở các mức độ khác nhau.

Trong giai đoạn hiện nay, dối trá chính là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng mất niềm tin ở nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Khi nghiên cứu nội hàm của 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra, nhận thấy các biểu hiện ấy đều có bóng dáng nương náu của dối trá. Ví dụ gần đây nhất về hiện tượng dối trá trong cán bộ cơ sở gây bức xúc dư luận là trường hợp ông Lương Văn Thuận, Chủ tịch MTTQ xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu (Nghệ An). Ông này thừa nhận đã tự ký danh sách 15 hộ nghèo nhận tiền quà Tết Nguyên đán Tân Sửu (năm 2021) để hợp thức hóa hồ sơ nộp lên huyện. Dư luận cho rằng, đó là hành vi dối trá, vi phạm pháp luật nhằm chiếm đoạt số tiền 7,5 triệu đồng của người nghèo.

Dối trá xuất hiện ở nhiều cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương thông qua những lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nhiều cán bộ mua bằng, mua học vị để được đề bạt, bổ nhiệm, lên lương thay vì trau dồi đạo đức, năng lực công tác vốn rất tốn công, nhọc sức và mất thời gian. Dối trá thể hiện trong xin cấp ngân sách lớn hơn nhu cầu thực tế để sau đó làm hợp đồng khống, hợp thức bằng hóa đơn, chứng từ để giải ngân. Hoặc có hiện tượng thanh toán vượt giá thị trường, chi sai mục đích...

Hiện tượng dối trá trong các cơ quan, đơn vị, địa phương đã gây ra nhiều hệ lụy, là trở ngại lớn cho xây dựng Đảng và bộ máy Nhà nước; làm nhân dân hiểu sai lệch bản chất tốt đẹp của Đảng và chế độ; làm băng hoại đạo đức xã hội và các giá trị truyền thống; gây khó khăn trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm của nhân dân và là cái cớ để các thế lực thù địch xuyên tạc sự thật, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng.

Dối trá cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, là “bà đỡ” cho nịnh hót, bợ đỡ trong cơ quan, đơn vị, địa phương, có nguy cơ nhấn chìm động cơ phấn đấu của những người trung thực; phá vỡ tổ chức đảng từ bên trong...

Diệt trừ dối trá, cần giải pháp đồng bộ

Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau sinh ra dối trá. Theo các chuyên gia, nguyên nhân sâu xa và phổ biến nhất là do con người ham muốn lợi ích bằng mọi giá đã sinh ra dối trá. Do công tác kiểm tra, giám sát qua loa, đại khái, hình thức và chiếu lệ cũng khiến dối trá không bị hạn chế mà còn có cơ hội lây lan. Bên cạnh đó, việc một số nơi tổ chức nhiều hoạt động thi đua hình thức và bệnh thành tích cũng là tác nhân sinh ra dối trá. Vì thành tích mà có hiện tượng che giấu khuyết điểm, "làm láo báo cáo hay", "có ít suýt ra nhiều".

Để diệt trừ thói dối trá, nhất là trong hệ thống chính trị và cơ quan công quyền hiện nay cần phải tổ chức, duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt Đảng của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tự phê bình, phê bình mạnh mẽ, triệt để. Cấp ủy, chi bộ cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh.

Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”. Người xem đây là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức cán bộ, đảng viên nói riêng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, góp phần tăng cường sức chiến đấu của Đảng. Bởi theo Người, khi đã tổ chức sinh hoạt Đảng chất lượng, hiệu quả thì mọi dối trá của cán bộ, đảng viên sẽ bị phơi bày ra ánh sáng, sẽ không có những việc làm khuất tất vụ lợi, không có hiện tượng dễ làm khó bỏ, đấu đá, chọn vị trí công tác nhiều lợi ích... Để làm được điều này thì các tổ chức đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đồng thời có biện pháp cụ thể về đổi mới hình thức, nội dung sinh hoạt Đảng định kỳ và chuyên đề, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, coi trọng kiểm tra đột xuất thay vì kiểm tra báo trước và kiểm tra trên giấy, trên báo cáo và "nhúng" qua thực tiễn. Thực tế cho thấy, hiện tượng dối trá trong nội bộ đã làm cho Đảng bị "bịt mắt”. Tổ chức đảng cấp trên không thấy được thực tế đòi hỏi của nhân dân, không thấy được những “chướng tai gai mắt” trong nội bộ cấp dưới nên dễ dẫn đến thỏa hiệp và vô tình bảo vệ “con sâu, con mọt” thay vì bảo vệ cán bộ có tâm, có tầm và có trí, thủ tiêu động lực phấn đấu của các cán bộ, đảng viên chân chính.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các biện pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò nêu gương “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, người chủ trì, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương. Hiện nay có một thực tế là, nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa cụ thể hóa nghị quyết vào trong thực tiễn nhiệm vụ lãnh đạo. Phổ biến là hiện tượng xây dựng quy chế lãnh đạo một đằng nhưng thực hiện một nẻo; thậm chí có hiện tượng copy quy chế lãnh đạo cốt để báo cáo. Việc này khiến công tác lãnh đạo không tập trung, sót việc nên dễ nảy sinh tiêu cực.

Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ có biện pháp quyết liệt trong tổ chức phân phối ngân sách, nhiệm vụ và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc thu, chi ngân sách hằng năm hoặc ngân sách đầu tư công. Thường ngân sách bao giờ cũng đi kèm với nhiệm vụ. Có nhiệm vụ thì có ngân sách và ngược lại. Thế nên không lạ khi các cơ quan, đơn vị, địa phương đua nhau xin nhiệm vụ, xin ngân sách. Đây chính là căn nguyên để hình thành cơ chế “xin-cho” tồn tại dai dẳng trong hệ thống chính trị và các cơ quan công quyền.

Một số quốc gia có cách làm rất hiệu quả để ngăn chặn sự dối trá nhằm trục lợi. Theo đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân muốn được sử dụng ngân sách hoặc được nhận tài trợ để làm một dự án do chính phủ duyệt thì phải hội tụ những điều kiện cứng và mềm về công tác quản lý và điều hành, bảo đảm không thất thoát, lãng phí và tham nhũng. Thế nên, để ngân sách đến đúng đích và được sử dụng triệt để, mang lại hiệu quả thiết thực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thì cần có quá trình thẩm tra, kiểm tra, giám sát xem có đủ điều kiện mới giải ngân. Đây chính là cách phân phối công bằng, ngăn ngừa tham nhũng và thúc đẩy cách lãnh đạo, điều hành và quản lý chuyên nghiệp, văn minh, cần được nghiên cứu thấu đáo và ứng dụng trong thực tiễn nước ta.

Nếu trung thực được đề cao thì dối trá khó có đất để tồn tại, phát triển. Khi trung thực của cán bộ, đảng viên bị dối trá lấn át thì sẽ dẫn đến tình trạng né tránh sự thật. Đây là căn nguyên khiến sinh hoạt của tổ chức đảng rơi vào hình thức, mất sức chiến đấu, khiến nguy cơ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” ngày càng có xu hướng nặng nề hơn. Tôn trọng sự thật khách quan và dựa trên sự thật để tìm biện pháp xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là cách tốt nhất diệt trừ tệ dối trá hiệu quả. Việc này chỉ thực hiện được khi cán bộ chủ trì và đứng đầu tổ chức đảng tận tâm, quyết liệt.

Sự cần thiết phải giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên

Quán triệt sâu rộng và tổ chức thực hiện có hiệu quả việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là một biện pháp thiết thực để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho thanh niên hiện nay.

Cùng với việc xác định rõ những nội dung cơ bản, V.I.Lê-nin còn chỉ dẫn cho chúng ta rất cụ thể vấn đề phải giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên như thế nào, bằng cách nào. Trước hết, Người cho rằng sự thấm nhuần lý tưởng cộng sản của thanh niên phải bắt đầu bằng việc họ tự ý thức là cần tiếp thu kiến thức, tự giáo dục, tự rèn luyện. Người nêu rõ: chúng ta không cần lối học gạo, nhưng chúng ta cần mở mang và hoàn thiện trí óc của mỗi người học bằng những kiến thức về những sự việc cơ bản, vì chủ nghĩa cộng sản sẽ trở thành trống rỗng..., người cộng sản sẽ chỉ là một anh khoe khoang..., nếu như tất cả các kiến thức đã thu nhận không được nghiền ngẫm trong ý thức của anh ta. Những kiến thức đó, không nên hấp thụ một cách giản đơn, mà phải hấp thụ có phê phán… Lý tưởng cộng sản với tư cách là một phẩm chất chính trị của con người, không tự hình thành và phát triển. Đó là quá trình chuyển hoá biện chứng từ nhận thức chính trị trở thành tình cảm cách mạng và biểu hiện ra ở hành vi, ở ý chí, quyết tâm của mỗi người cống hiến, hy sinh cho lý tưởng XHCN. Do đó, vai trò của công tác giáo dục, rèn luyện chỉ phát huy được hiệu quả thực sự khi mỗi người tiếp nhận nó một cách tự giác, biến nó trở thành động cơ bên trong, thôi thúc con người nỗ lực phấn đấu, rèn luyện.

Với ý nghĩa đó, có thể thấy, giáo dục lý tưởng cộng sản chỉ thực sự đạt được hiệu quả cao nếu mỗi thanh niên tự ý thức và thực hiện tốt quá trình chuyển hoá giáo dục thành tự giáo dục. Tự giáo dục, tự rèn luyện để nâng cao lý tưởng cộng sản là quá trình tự giác của mỗi thanh niên nhằm hướng đến nâng cao trình độ nhận thức chính trị, củng cố và phát triển tình cảm cách mạng, rèn luyện ý chí quyết tâm cống hiến sức lực cho sự nghiệp cách mạng. Đó chính là quá trình họ tự trau dồi tri thức lý luận của mình, làm chủ hệ thống tri thức khoa học nói chung, tri thức lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, giữ vững lập trường giai cấp và đạo đức cách mạng trong mọi điều kiện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để học tập, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Tự giác học tập, rèn luyện, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ lý luận, tình cảm cách mạng và ý chí quyết tâm chính là cơ sở quan trọng của lý tưởng cộng sản.

Như vậy, việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thanh thiếu niên luôn là vấn đề rất quan trọng, làm cho mỗi thanh thiếu niên phát huy tinh thần tự học tự rèn, trau dồi bản lĩnh người chiến sĩ cộng sản, góp phần tạo ngồn sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.