Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và thực hiện nghị quyết để “Ý Đảng hợp lòng dân”

Nghị quyết của Đảng là sự kết tinh tư duy lý luận, được phát triển từ thực tiễn, là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Để nghị quyết của Đảng là sự thống nhất “ý Đảng hợp với lòng dân”, từng bước thấm sâu vào cuộc sống, thì việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện là việc làm có ý nghĩa hết sức thiết thực; là bài học sâu sắc cho các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà nghị quyết của Đảng đã đề ra.

Lấy người dân làm trung tâm trong mọi quyết sách chính trị

Bác Hồ thăm nông dân ở Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt lúa mùa (năm 1954)_Ảnh: TTXVN

Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân, nên trong tư tưởng chỉ đạo cũng như thực tiễn hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem trọng, đề cao quyền lực, sức mạnh và vai trò làm chủ của nhân dân. Người khẳng định:“Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đó là nguồn gốc sức mạnh, là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Điều đó còn khẳng định việc Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo chỉ dẫn của Người: “Cách làm là: dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”.

Phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng ta đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội là thông qua cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị, “ý Đảng” xuất phát từ “lòng dân”, sức dân là nguồn cội tạo nên những thành tựu quan trọng sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đúc rút bài học kinh nghiệm lớn thứ hai là: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Việc tin vào dân, dựa vào dân, phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe nguyện vọng chính đáng của nhân dân luôn là mục tiêu, động lực và là nguyên nhân thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Nghị quyết của Đảng đề ra sự định hướng phát triển đất nước, thể hiện ý chí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thước đo cho sự thành công của một nghị quyết khi được ban hành là giải quyết được thỏa đáng những vấn đề thực tiễn đang bức thiết đặt ra, đánh giá đúng tình hình thực tiễn, đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá và khả thi trong từng giai đoạn cách mạng, tạo được sự phấn khởi, tin tưởng, kỳ vọng, thôi thúc hành động của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; cách mạng đem lại những chuyển biến mới về lợi ích vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tháo gỡ được những khó khăn, thách thức, bảo đảm tính ổn định và bền vững, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, trong điều kiện Đảng cầm quyền phải ra sức thực hành dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng nhân dân. Người chỉ rõ, xây dựng nghị quyết phải hết sức thiết thực, không được chủ quan, “không chịu khó hỏi quần chúng cần cái gì, muốn nghe muốn biết cái gì, ham chuộng cái gì. Chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả” vì thế phải “có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến". Lời di huấn của Người cho thấy, quá trình xây dựng, hoàn thiện một nghị quyết ngoài việc phát huy dân chủ, trí tuệ, sáng kiến của cấp ủy, cán bộ, đảng viên, các chuyên gia, nhà khoa học, các cơ quan tham mưu, thì cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cần làm tốt công tác phản biện để qua đó các tầng lớp nhân dân góp ý rộng rãi với tinh thần dân chủ, cầu thị, không được xem thường hay định kiến, chống hình thức, qua loa, đại khái; phải lắng nghe, chọn lựa ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân... để đưa vào trong nghị quyết. Một lưu ý quan trọng không kém, việc xây dựng, ban hành nghị quyết phải khoa học, bám sát thực tiễn cuộc sống, tránh trừu tượng, chung chung, khó hiểu, cần cụ thể hóa, khả thi, giải quyết được đúng, trúng vấn đề đặt ra ở từng lĩnh vực trong đời sống xã hội.

Để nghị quyết “thấm sâu” vào cuộc sống

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thị sát, kiểm tra đời sống an sinh xã hội cho người lao động tại khu nhà trọ 966 Nguyễn Thị Định, phường Cát Lái, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN

Một trong những hạn chế được Đại hội XII của Đảng thẳng thắn nhìn nhận, đó là “năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp”. Nguyên nhân do nhiều nơi tổ chức nghiên cứu, học tập nghị quyết của Đảng mang tính hình thức, chiếu lệ, dẫn đến chất lượng, hiệu quả nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết chưa mang lại hiệu quả cao. Có nơi chưa chú trọng xây dựng đội ngũ báo cáo viên có phẩm chất chính trị, năng lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; không ít báo cáo viên chưa tích cực đầu tư thời gian, trí tuệ để nghiên cứu thấu đáo nội dung nghị quyết và các tư liệu, tài liệu, thông tin liên quan để lý giải, chứng minh làm rõ nội dung cốt lõi nghị quyết. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa tích cực, tự giác nghiên cứu, học tập, nên nắm chưa đầy đủ nội dung của nghị quyết. Trong khi đó, việc đưa nghị quyết của Đảng thấm sâu vào cuộc sống đòi hỏi sự công phu, tâm huyết, tinh thần trách nhiệm rất cao của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ cương vị lãnh đạo.

Do vậy, nhiệm vụ cần làm ngay sau khi nghị quyết của Đảng được ban hành là các cơ quan chức năng kịp thời xây dựng kế hoạch triển khai học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết đến từng tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Để làm tốt nhiệm vụ này, ban tuyên giáo các cấp căn cứ thực tiễn, kịp thời tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo các tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương triển khai học tập, quán triệt nghị quyết một cách khoa học.

Kinh nghiệm cho thấy, để nghị quyết của Đảng thấm sâu vào cuộc sống, trước hết việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng phải đạt hiệu quả thiết thực, vì thế ở khâu này cần triển khai đúng đối tượng. Theo đó, trước tiên là quán triệt trong ban thường vụ, ban chấp hành, đội ngũ cán bộ chủ chốt, sau đó đến từng tổ chức cơ sở đảng, chi bộ rồi tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Thời gian học tập, quán triệt nghị quyết phải hợp lý, tài liệu ngắn gọn, dễ hiểu; phương pháp truyền đạt dễ tiếp cận; tổ chức cho cán bộ, đảng viên viết bài thu hoạch sau học tập. Trong quá trình học tập, cần dành thời gian để mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng thảo luận, tham gia ý kiến bổ sung vào các kế hoạch, chương trình hành động của cấp ủy, thực hiện nghị quyết phù hợp với điều kiện thực tiễn từng địa phương. Mỗi kế hoạch, chương trình hành động mà tổ chức đảng đưa ra được xem là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, căn cứ mang tính nguyên tắc để đánh giá đúng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ báo cáo viên được xem là lực lượng nòng cốt của cấp ủy, có vai trò quan trọng làm cầu nối đưa quan điểm, chủ trương của Đảng đến với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Để lực lượng báo cáo viên làm tốt nhiệm vụ quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”. Như vậy, mỗi báo cáo viên phải hội đủ phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, được quần chúng tin cậy, có trình độ, nắm vững nội dung cốt lõi của nghị quyết, có kỹ năng truyền đạt, sẵn sàng giải thích, đối thoại và làm rõ những vấn đề mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm. Báo cáo viên cần phân tích sâu những nội dung nghị quyết cả về cơ sở lý luận, khoa học; đưa ra ví dụ minh họa gắn với thực tiễn; nêu bật ý nghĩa của nghị,....

Trong học tập, nghiên cứu, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích mọi người phải “tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập". Hiện nay, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển, để việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng được kịp thời, nhất là trong bối cảnh diễn biến dịch bệnh Covid-19 rất phức tạp, các cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy tinh thần tự học tập, tự nghiên cứu văn kiện, nghị quyết của Đảng trong cán bộ, đảng viên và toàn dân; vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp phù hợp với đặc điểm, khả năng của từng cơ quan, đơn vị và địa phương, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin, nhằm vừa bảo đảm học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng được kịp thời, đúng quy định, vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả.

Để nghị quyết của Đảng đi vào thực tiễn, thì khâu viết bài thu hoạch cũng là vấn đề quan trọng, bởi việc làm này không chỉ thể hiện trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên sau khi tham gia học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng mà còn thể hiện trách nhiệm, nhận thức chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tham gia với cấp ủy xây dựng chương trình hành động thực hiện các chỉ thị, nghị quyết ở cấp mình. Trên cương vị công tác thực tiễn của mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục nghiên cứu, đề xuất với cấp ủy về nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

Tỉnh đoàn Khánh Hòa tặng nhu yếu phẩm giúp người dân và sinh viên các khu trọ tại Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang trong những ngày giãn cách xã hội_Ảnh: TTXVN

Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát

Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức”. Để công tác kiểm tra đạt kết quả thiết thực, Người lưu ý: “Các ủy ban và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng, phải luôn luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn, phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng... Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra”.

Thông qua công tác kiểm tra, giám sát của những cán bộ thực hiện nhiệm vụ này, với sự tinh thông chuyên môn, bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm cao, lòng nhiệt tình, tâm trong sáng, sẽ giúp cấp ủy các cấp nhận diện rõ hơn mặt được, chưa được để kịp thời điều chỉnh, định hướng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống và được tổ chức thực hiện tốt. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết sẽ khắc phục được tình trạng “trên nóng dưới lạnh”; khắc phục được bệnh nói và làm không đi đôi với nhau, nói nhiều làm ít, nói thì hay làm thì dở, nói mà không làm hoặc nói một đằng làm một nẻo.

Việc kiểm tra, giám sát giúp công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá, kiểm điểm lại công việc đạt hiệu quả; phân tích, chỉ ra những thiếu sót, nêu lên những mâu thuẫn cần giải quyết; đề ra phương hướng, mục tiêu, kế hoạch phát triển, nhằm tiếp tục đưa phong trào hành động cách mạng phát triển. Thông qua công tác sơ kết, tổng kết, tự phê bình và phê bình, các cấp ủy đảng kịp thời nhận ra những thiếu sót và đấu tranh chống những quan điểm, tư tưởng chưa phù hợp, biểu dương người tốt, việc tốt, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở giúp quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, thực tiễn nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương mình./.

ST.

Tầm nhìn thời đại và tư duy độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Với tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Một hành trình cứu nước qua ba đại dương, bốn châu lục và gần ba mươi quốc gia trong khoảng thời gian ba mươi năm là một hành trình đầy gian khổ nhưng càng cho thấy tấm lòng yêu nước cao cả, thương dân vô bờ bến cùng ý chí kiên cường, bất khuất và đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo của một bậc đại chí, đại nhân, đại dũng trong công cuộc giải phóng dân tộc.

Nhân tố thôi thúc quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Truyền thống gia đình, đặc biệt là nhân cách và những tư tưởng tiến bộ của cụ thân sinh Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc chính là cội nguồn cho chí hướng cách mạng và hoài bão ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trên quê hương Nghệ An giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Không chỉ giàu truyền thống hiếu học, cần cù trong lao động, trọng tình nghĩa trong cuộc sống, người dân nơi đây còn giàu truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm với nhiều tấm gương lưu sử sách, như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Xuân Hành, Nguyễn Sinh Quyết... Chính truyền thống yêu nước tốt đẹp của quê hương, của dân tộc là nền tảng để Nguyễn Tất Thành sau này đã gặp gỡ và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tinh hoa tư tưởng, văn hóa của nhân loại, một học thuyết khoa học, cách mạng triệt để nhất, qua đó thể hiện tầm nhìn rộng mở mang tính thời đại của Người trong hành trình đi tìm đường cứu nước.

Ngày 5-6-1911, từ bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc_Ảnh: Tư liệu

Những tư tưởng tiến bộ của các thầy giáo, các bậc sĩ phu yêu nước đã tiếp thêm sức mạnh và thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Nhờ những ảnh hưởng của các thầy giáo tân học và những trang sách báo tiến bộ mà ý muốn sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại đã từng bước lớn dần lên trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành. Thực tiễn Việt Nam khi đó là nhân tố tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.

Vào giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chính sách thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam là chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa. Dưới ách thống trị và bóc lột của thực dân Pháp, Việt Nam từ một chế độ phong kiến độc lập chuyển thành chế độ thuộc địa, mất hẳn chủ quyền, phụ thuộc vào thực dân Pháp; kinh tế bị kìm hãm nặng nề, mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng và gay gắt; người dân lâm vào cảnh đói nghèo, khổ ải, lầm than. Thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của đất nước; bọn quan lại đặt ra đủ các thứ thuế, bọn hào lý thì tham nhũng vô độ, bóc lột nhân dân không thương tiếc. Trước tình hình chính trị - xã hội như vậy, nhiều phong trào đấu tranh yêu nước nổ ra, như phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ (1861 - 1868), phong trào Cần Vương ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ (1885 - 1895), khởi nghĩa Yên Thế ở Bắc Kỳ (1885 - 1913)…, nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man và bị thất bại. Đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới, tiến hành cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản…, nhưng cũng không thành công. Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối.

Tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình và quê hương, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước nhưng không tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối và chính điều này đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc. Và cũng chính lòng yêu nước vô bờ bến ấy là cội nguồn sức mạnh giúp Người vượt qua mọi khó khăn nơi đất khách quê người để tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Tầm nhìn thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước

Với tầm nhìn rộng mở, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế xuất sắc, tìm thấy con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Quyết định sang Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ tầm nhìn rộng mở, sẵn sàng tìm hiểu và học hỏi thế giới phương Tây, tiếp xúc, tiếp thu nền văn minh, tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Người tham gia nhiều sự kiện lớn của thế giới, ủng hộ các cuộc cách mạng xã hội, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc và tham gia các buổi diễn thuyết của nhiều nhà chính trị và triết học; tiếp xúc văn hóa và các danh nhân văn hóa, chính trị của Pháp, tiếp xúc với những tư tưởng nhân đạo, nhân văn qua văn học Pháp, Nga, Anh, Mỹ,… Tại Pa-ri (lúc này được coi là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”), Người đã có một bước phát triển mới trong nhận thức về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc khi tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Từ năm 1911 đến năm 1920, bằng việc khảo cứu các nước thuộc địa và các nước tư bản lớn, như Mỹ, Anh, Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận thức quan trọng trong việc tìm kiếm con đường giải phóng và mô hình thể chế chính trị tương lai cho đất nước. Ngay từ thời niên thiếu, Người đã bộc lộ những phẩm chất giàu lòng nhân ái, ham hiểu biết, có hoài bão lớn, có chí cứu nước,…; những phẩm chất đó đã được rèn luyện và phát huy trong quá trình hoạt động cách mạng của Người. Nhờ vậy, giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, Người đã phân tích, lựa chọn để cuối cùng đi tới chân lý: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Cuối năm 1917, mặc dù vừa hoạt động chính trị, vừa phải kiếm sống một cách chật vật, nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn lạc quan, say sưa học tập, nghiên cứu Cách mạng Mỹ (năm 1776), Cách mạng Pháp (năm 1789), Cách mạng Nga (năm 1917). Người rút ra kết luận rằng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Tháng 7-1920, Người sung sướng khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin. Luận cương đã mở ra cánh cửa để Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và cách mạng vô sản.

Cuối năm 1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp, với việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và là một trong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, Người khẳng định sự lựa chọn dứt khoát, đứng hẳn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Quốc tế Cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, năm 1920_Ảnh: Tư liệu

Với tầm nhìn thời đại, Người đã làm sáng rõ con đường cách mạng Việt Nam, soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuộc tìm kiếm con đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện tầm nhìn thời đại trong việc xác lập, kiến tạo mô hình xã hội gắn với các thiết chế hiện đại. Người đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ các nước lớn của phương Tây, như Mỹ, Anh, Pháp để tạo nên mô hình thể chế chính trị tương lai cho đất nước. Đó là mô hình Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa là mô hình nhà nước mà ở đó, quyền lực thuộc về nhân dân, một thể chế chính trị - xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình thể chế đó là động lực, là ngọn cờ thôi thúc toàn thể dân tộc Việt Nam vùng lên làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xác lập một thể chế chính trị - xã hội mới, vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân quyền và dân sinh, tự do, hạnh phúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam với xu thế thời đại, theo quy luật khách quan của lịch sử. Độc lập dân tộc phải đi đôi với tự do và hạnh phúc của nhân dân và gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội đáp ứng ngày càng cao và toàn diện mọi nhu cầu chính đáng, hợp pháp của người dân; là xã hội do quần chúng nhân dân xây dựng nên, vì vậy, mang tính tập thể, cộng đồng sâu sắc. Những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc đã thể hiện phẩm chất của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, mở ra thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Tư duy độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc giải phóng dân tộc

Ngay từ khi sống tại Pháp và sang nước Anh, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu rất nhiều nền văn hóa, hấp thụ những tư tưởng dân chủ; từ đó, hình thành phong cách dân chủ từ thực tiễn cuộc sống. Tại nơi đất khách, Người học được cách làm việc dân chủ ngay trong sinh hoạt khoa học của Câu lạc bộ Phô-bua, trong sinh hoạt chính trị của Đảng Xã hội Pháp. Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp (M. Cachin, P.V. Couturier, G. Monmousseau,..), Nguyễn Ái Quốc đã từng bước trưởng thành, làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, cả văn hóa phương Đông và phương Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trong 10 năm đầu (1911 - 1920) của quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thiện vốn văn hóa, chính trị và thực tiễn phong phú, tạo thành một bản lĩnh trí tuệ, nâng cao khả năng độc lập, tự chủ, sáng tạo ở Người, khi tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đối với một đất nước thuộc địa, một dân tộc bị áp bức, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Cuộc cách mạng vô sản ở đây không chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp, mà còn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, một phạm trù của cách mạng vô sản. Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930), do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, đã khẳng định: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Làm tư sản dân quyền cách mạng đánh đổ thực dân Pháp xâm lược đem lại độc lập dân tộc. Làm thổ địa cách mạng là đánh đổ bọn phong kiến, địa chủ đem lại ruộng đất cho dân cày (sau này, cả hai cuộc cách mạng cùng tiến hành song song ấy được gọi là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân). Đây là điều hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng không ngừng, lý luận về thời cơ và tình thế cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công - nông là gốc của cách mạng, còn trí thức tiểu tư sản là bầu bạn của công - nông. Đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, dù trong đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, liên minh công - nông - trí thức là nhân tố đóng vai trò quyết định. Sự sáng tạo, độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện trong việc vận dụng quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào tình hình cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mà trọng tâm chính là khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Người khẳng định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Thông qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 và Lời kêu gọi toàn quốc chống đế quốc Mỹ cứu nước (năm 1967), một lần nữa, Người khẳng định tinh thần độc lập dân tộc và bản chất nhân dân của cách mạng Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước ở miền Nam tiến tới thống nhất đất nước, với khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó chính là sự kế thừa và phát huy tinh thần độc lập dân tộc của dân tộc ta trong thời đại mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận về vấn đề xây dựng đảng cầm quyền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người cũng đã vận dụng sáng tạo lý luận về nhà nước vô sản vào tình hình cách mạng Việt Nam, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái - trai, giàu - nghèo, giai cấp. Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân không phải nhà nước “siêu giai cấp”, mà là nhà nước do Đảng Cộng sản - đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác (Trong ảnh: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra mắt Đại hội)_Ảnh: Tư liệu

Sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là một trong những nhân tố bảo đảm thành công của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là hoàn toàn đứng vững trên lập trường mác-xít. Người đã phát triển và vận dụng hết sức sáng tạo lý luận mác-xít vào cách mạng ở các nước thuộc địa, nhất là với cách mạng Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Theo đó, “thời đại của chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”; “chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Người nhấn mạnh, giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc phải được giải quyết trên lập trường giai cấp vô sản. Nếu không giành được độc lập dân tộc thì không thể giải phóng giai cấp, không thể nói đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Chỉ có kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn cuộc đấu tranh của nước mình với trào lưu cách mạng của thế giới mới tạo ra được sức mạnh to lớn để bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển tiến bộ xã hội.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, thực hiện công cuộc đổi mới, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội và chủ nghĩa xã hội./.

ST.

Người đảng viên quân đội tiếp tục phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, trước những tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự cám dỗ của lợi ích vật chất, cùng với sự buông lỏng trong quản lý, kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy các cấp và việc thiếu ý thức tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, đã làm cho một bộ phận không nhỏ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ các cương vị chủ chốt, là lãnh đạo, chỉ huy của các cơ quan, đơn vị, thậm chí có cả những đảng viên là cán bộ cấp cao, là tướng lĩnh có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo danh lợi cá nhân, cục bộ, lãng phí..., dẫn đến vi phạm phải xử lý kỷ luật. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù của yêu cầu nhiệm vụ, phải thường xuyên công tác xa gia đình, điều kiện sống, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, khắc nghiệt, gian khổ, thậm chí cả hy sinh tính mạng..., cho nên trong một bộ phận đảng viên quân đội dễ nảy sinh tâm lý so sánh thiệt hơn, ngại tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, thậm chí dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc, hành động tiêu cực.

Từ thực trạng trên, việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng để mỗi đảng viên trong quân đội thấy được niềm vinh dự, tự hào và nghĩa vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc, với Đảng và với nhân dân là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết. Để làm tốt công tác bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội, trước hết phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””, với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII.

Bên cạnh đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.

Để xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, làm cho toàn thể đội ngũ đảng viên thấm nhuần những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và về đạo đức cách mạng; phải làm cho các chủ thể, các đối tượng và lực lượng tham gia xây dựng đội ngũ đảng viên nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò, bản chất của đạo đức cách mạng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp, cơ quan chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong quân đội cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng đơn vị. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân, đối chiếu với những chuẩn mực đạo đức của người đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội sẽ góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng...; có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

Hai là, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên; coi trọng việc tự giáo dục, tự rèn luyện.

Tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi đảng viên là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng. Tự giáo dục đạo đức cách mạng, một mặt, phải gắn liền với học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổ chức, quản lý; mặt khác, phải gắn liền giáo dục đạo đức với giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục pháp luật, kết hợp giữa nâng cao nhận thức về đạo đức cách mạng với rèn luyện đạo đức cách mạng thông qua hoạt động thực tiễn.

Do đó, để nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định trực tiếp chính là hình thành sự tự nỗ lực phấn đấu, rèn luyện của từng đảng viên trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, trong công tác và trong sinh hoạt đời thường. Thực tiễn cho thấy, đơn vị nào đề cao vai trò tiền phong gương mẫu, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thì ở đó chất lượng tư tưởng chính trị của người đảng viên được giữ vững, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện.

Tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi đảng viên là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng_Ảnh: Hà Quốc Thái

Ba là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặc thù của từng đơn vị.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh kết hợp thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” với việc “răn đe quân sự” thông qua các cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn, liên tục, bền bỉ của các tổ chức đảng, đảng viên trong quân đội; trong đó, việc bồi dưỡng lập trường chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Song, để mỗi đảng viên giữ vững lòng trung thành, củng cố niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, thì phải chú trọng trang bị cho họ những tri thức chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, kỹ năng quân sự, chuyên môn cần thiết, phù hợp với đặc thù của từng đơn vị.

Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, tăng cường kỷ luật, xây dựng môi trường dân chủ lành mạnh trong đơn vị.

Các cấp ủy trong quân đội cần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; trong đó, tự phê bình và phê bình phải trở thành nếp sinh hoạt thường xuyên với tinh thần nghiêm túc, thẳng thắn và đi đôi với thực hiện dân chủ rộng rãi; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chính trị các cấp trong việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và của nhân dân trong quản lý, giáo dục, kiểm tra, giám sát, phê bình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, qua đó, giúp đội ngũ này được rèn luyện về quan điểm, lập trường tư tưởng, tác phong, lối sống và đạo đức cách mạng.

Năm là, kết hợp giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

“Xây” đi đôi với “chống” là nguyên tắc trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ, đảng viên nói chung và đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên quân đội nói riêng, nhằm đạt được kết quả cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, đội ngũ đảng viên quân đội được Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho nhiều cương vị, chức trách khác nhau; trong đó, nhiều đồng chí được giao quản lý khối lượng cơ sở vật chất, tài sản… có giá trị kinh tế cao, nên nếu không nghiêm khắc với bản thân, cũng như thiếu chế độ kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt sẽ dễ nảy sinh tư tưởng, hành vi tham nhũng, lãng phí. Trên thực tế, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chưa nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không dám đấu tranh với những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị và trong xã hội; thậm chí, còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân... Thực trạng này đòi hỏi công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên quân đội trên thực tế cần phải kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và ngăn ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Kiên định mục tiêu lý tưởng, giữ vững lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn là lực lượng tiên phong trên mọi mặt trận, góp phần to lớn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vinh dự, trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, đội ngũ đảng viên luôn phải là lực lượng nòng cốt, gương mẫu, đi đầu, chịu trách nhiệm trước tiên và cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ đảng viên quân đội là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, để đội ngũ này thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó./. 

ST.

Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên trong quân đội thật sự mẫu mực, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, năng lực; góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với một đơn vị bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 _ Ảnh: TTXVN

Nội dung và biện pháp rèn luyện đạo đức cách mạng của người đảng viên quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vấn đề này được Người đề cập tới trong nhiều tác phẩm quan trọng như: Đường cách mệnh (năm 1927), Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Đời sống mới (năm 1947), Cần kiệm liêm chính (năm 1949), Đạo đức cách mạng (năm 1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (năm 1969) và bản Di chúc hoàn chỉnh lần cuối cùng (tháng 5-1969). Trong các tác phẩm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Bên cạnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên được biểu hiện cụ thể ở các nội dung, như trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Những nội dung của đạo đức cách mạng có mối quan hệ biện chứng với nhau, chỉ cần thiếu một nội dung thì người cán bộ, đảng viên không thể làm tròn nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đối với đội ngũ đảng viên trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đạo đức cách mạng được biểu hiện cụ thể ở những điểm như sau:

Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Đây là biểu hiện cao nhất ý thức đạo đức của người đảng viên nói chung, đặc biệt với những đảng viên là cán bộ, sĩ quan, công nhân viên, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Đó còn là biểu hiện cao nhất của lòng trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, là cơ sở để định hướng nhận thức và hành động, tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để mỗi đảng viên luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó. Người chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ” và “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc” lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; đảng viên cũng là con, em của nhân dân và cũng chính “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”; do đó, đối với mỗi đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trung với nước phải luôn gắn liền với trung với Đảng, hiếu với dân.

Đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội, gắn bó mật thiết với nhân dân. Đoàn kết, nhân ái luôn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Ở thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đó được hun đúc và phát triển lên một tầm cao mới, là cơ sở để tạo thành sức mạnh vô địch của dân tộc, giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, Người căn dặn: “...cần phải đoàn kết hơn nữa, đoàn kết chặt chẽ giữa chiến sĩ với nhau, giữa cán bộ với nhau, giữa chiến sĩ và cán bộ, giữa quân và dân. Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi. Người còn căn dặn: “Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên”, bởi trong quân đội, người đội trưởng, người chính trị viên là những người đảng viên trực tiếp, hằng ngày tiến hành công tác giáo dục, rèn luyện và quản lý bộ đội; vì thế, có tình cảm gắn bó đó mới lan tỏa tinh thần đoàn kết, xây dựng được sự tin tưởng, thương yêu của đồng chí, đồng đội, mới sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là một phẩm chất quan trọng, là nền tảng đạo đức của người quân nhân cách mạng nói chung, của người đảng viên trong quân đội nói riêng. Người chỉ rõ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính của ta là đạo đức của người quân nhân cách mạng. Các chú phải thực hiện đạo đức đó”; đồng thời, phải “Tu sửa mình cho kỳ giữ được chí công vô tư, đối với việc phải sáng suốt, đối vật không tham lam, gắng làm kiểu mẫu, làm kiểu mẫu cho bộ đội, cho nhân dân”. Người luôn đặt niềm tin và yêu cầu đội ngũ đảng viên trong quân đội phải rèn luyện toàn diện các phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng: “Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí”.

Tinh thần quốc tế trong sáng là một nội dung không thể thiếu của đạo đức cách mạng. Trong Thư gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng LàoNgười chỉ rõ “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”. Đồng thời, Người nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ, trong đó có đội ngũ đảng viên trong quân đội, phải luôn biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân, chính phủ và quân đội các nước anh em trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Thấm nhuần tư tưởng đó, nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vượt qua mọi khó khăn, tham gia chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào và Campuchia, viết nên những trang sử sáng ngời về đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội, trước hết là lý tưởng cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có giác ngộ sâu sắc lý tưởng đó, người đảng viên trong quân đội mới đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, dám hy sinh quyền lợi của bản thân và gia đình, đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên: “Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”. Đồng thời, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ đảng viên trong quân đội ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nâng cao kiến thức toàn diện. Người căn dặn: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”; và muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị, chức trách đảm nhiệm, đòi hỏi người đảng viên trong quân đội “Phải đoàn kết nội bộ, giữa cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết quân dân, đoàn kết với các nước anh em”.

Từ những nội dung trên, có thể thấy, để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người đảng viên quân đội cần phải thấm nhuần, thực hiện nghiêm túc những yêu cầu, nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nói đi đôi với làm.

Đây là hành động cơ bản nhất thể hiện uy tín và để rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên. Tuy nhiên, đối với người đảng viên trong quân đội, hành động đó phải được biểu hiện ở mức độ cao hơn, phải “Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên. Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, đội ngũ đảng viên trong quân đội phải nói ít làm nhiều, thân ái, đoàn kết đồng chí, đồng đội, phải là tấm gương trong rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí. Người cũng dành mối quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất, nhân cách của các tướng lĩnh trong quân đội. Người nhắc nhở: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”, đây vừa là mục tiêu để rèn luyện, tu dưỡng, vừa là phẩm chất đặc trưng nhất của người đảng viên là lãnh đạo trong quân đội.

Thứ hai, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Đây là yêu cầu cốt lõi trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của người cách mạng, bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Đảng viên giữ cương vị càng cao thì càng phải tích cực, liên tục học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Khi gặp việc thuận lợi không tự cao, tự đại, thỏa mãn dừng lại, khi gặp việc khổ, việc khó thì không chùn bước, nản chí; phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cấp cao, là tướng lĩnh, trong lúc gian khổ thì không sợ nguy hiểm, cực khổ, có công với cách mạng, song đến khi có quyền hạn trong tay thì nảy sinh kiêu ngạo, tự mãn, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, phải xử lý kỷ luật.

Thứ ba, “xây” đi đôi với “chống”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người đảng viên trong quân đội phải luôn rèn luyện, tu dưỡng lối sống trong sạch, lành mạnh; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn gương mẫu trong việc giữ gìn vũ khí, trang bị, tài sản của quân đội; trong quan hệ với nhân dân, không được lấy dù là cái kim, sợi chỉ của nhân dân; mua bán với nhân dân phải công bằng, sòng phẳng; mượn cái gì của dân phải hỏi, dùng xong phải trả, làm hỏng, làm mất phải đền. Đồng thời, Người khẳng định phải kiên quyết chống lại những tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng. Theo đó, việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục những phẩm chất, tấm gương tốt để lan tỏa, nhân rộng, với xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm để ngăn chặn sự lây lan của chúng./.

ST.

Chiến sĩ Ðồn Biên phòng Sóc Giang (huyện Pắc Bó, tỉnh Cao Bằng) tuần tra biên giới với đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng_Ảnh: TTXVN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận diện, phê phán và đấu tranh chống “bệnh hình thức” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên về “bệnh hình thức” - một trong những “căn bệnh” nguy hiểm có tác động tiêu cực đến uy tín và danh dự, thậm chí là phá hỏng cả sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Trong giai đoạn hiện nay, các tổ chức đảng, cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cần nhận diện sâu sắc những tác hại do “bệnh hình thức” gây ra, để không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “bệnh hình thức”

Thứ nhất, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn gốc sâu xa của “bệnh hình thức” xuất phát từ “căn bệnh mẹ”, “bệnh gốc” là chủ nghĩa cá nhân.

Người cho rằng: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”, trong đó có “bệnh hình thức”. Về bản chất, chủ nghĩa cá nhân là lối sống tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, đề cao sự tự do cá nhân một cách cực đoan, nhằm hướng tới thỏa mãn những nhu cầu, mục đích, hành vi vụ lợi, hưởng lạc theo chủ nghĩa vị kỷ, nuôi dưỡng tính hám lợi, hiếu danh, ích kỷ; “việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”. Do đó, những người mắc “bệnh hình thức” - “căn bệnh” phát sinh từ chủ nghĩa cá nhân - luôn tìm mọi cách mưu lợi cho bản thân, bất chấp việc làm tổn hại đến lợi ích của người khác, của cộng đồng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ những tác hại khôn lường nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng chưa thực hiện được “chí công vô tư” mà sa vào chủ nghĩa cá nhân. Người nhắc nhở: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (tháng 4-1959)_nguồn: hochiminh.vn

Bên cạnh nguyên nhân chủ quan do sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cá nhân nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ nguyên nhân khách quan, do hủ tục và những tàn dư đáng phê phán của xã hội cũ để lại: Vì Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Do đó, không tránh khỏi “những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”. Người cũng cho rằng: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa, v.v.. Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng”.

Thứ hai, “bệnh hình thức” biểu hiện đa dạng dưới nhiều dạng “bệnh” khác, như “bệnh hữu danh vô thực”, “bệnh khai hội”, “thói ba hoa”...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bệnh “hữu danh vô thực” là: “Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch” hay “báo cáo lông bông… Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Thành thử cấp trên không hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách cho đúng”.

Trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” (1-3-1947), Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tẩy sạch khuyết điểm, trong đó có tật “ham chuộng hình thức”: “Việc gì cũng không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ nhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”(8).

Một biểu hiện khá rõ ràng của căn bệnh hình thức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, đó là “bệnh khai hội”: “Khai hội không có kế hoạch, không sắp sửa kỹ lưỡng, không thiết thực. Khai hội lâu, khai hội nhiều quá”. Theo Người, chính vì cán bộ xa rời quần chúng, không xuất phát từ lợi ích của quần chúng, nên mới dẫn đến tình trạng trên.

“Thói ba hoa” trong cách nói và cách viết cũng là biểu hiện của “bệnh hình thức”. Thói ba hoa thể hiện ở: Dài dòng, rỗng tuếch; cầu kỳ; khô khan, lúng túng; báo cáo lông bông; lụp chụp, cẩu thả; bệnh theo “sáo cũ”; nói không ai hiểu; bệnh hay nói chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, mỗi đảng viên, mỗi cán bộ đều phải ra sức sửa chữa bệnh đó; nếu không, sẽ có hại to cho công việc của Đảng.

Từ những chỉ dẫn nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy biểu hiện của “bệnh hình thức” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là: Thói làm việc qua loa, cẩu thả, không thiết thực, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra..., làm lãng phí thời gian, công sức và tài sản công. Nguyên nhân của “căn bệnh” này cũng không ngoài hai nguyên nhân căn bản: Khách quan, là do tàn dư và hủ tục của xã hội cũ níu kéo, ảnh hưởng tới suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân, tập thể. Chủ quan, là do kém tu dưỡng, rèn luyện tư cách đảng viên... của mỗi cá nhân trong công việc cũng như trong cuộc sống thường ngày.

Thứ ba, “bệnh hình thức” có nhiều tác hại khôn lường.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những căn bệnh sinh ra từ chủ nghĩa cá nhân, trong đó có “bệnh hình thức”, gây ra nhiều tác hại. Người coi chủ nghĩa cá nhân là “kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Hệ lụy của chủ nghĩa cá nhân là vô cùng nguy hại, bởi đó là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự suy thoái, biến chất, làm giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bởi vì “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”; và “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, người mắc căn bệnh này thì “không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”. “Bệnh hình thức” cũng như các căn bệnh khác, chính là “địch nội xâm”, luôn ngăn cản người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc; là nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng.

Thứ tư, biện pháp để khắc phục, loại trừ “bệnh hình thức”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “thang thuốc” tốt nhất để chữa các bệnh tật đó là thông qua tự phê bình và phê bình để giúp nhau sửa chữa hết các khuyết điểm; có như thế, Đảng mới chóng phát triển, sự nghiệp cách mạng mới chóng thành công.

Theo Người, để chống “bệnh hình thức” thì “việc gì cũng phải từ việc dễ đến việc khó, từ việc gấp đến việc hoãn, từ việc ít tốn tiền đến việc tốn nhiều tiền. Nói tóm lại: Kế hoạch phải thiết thực, phải làm được. Chớ làm kế hoạch đẹp mặt, to tát, kể hàng triệu người nhưng không thực hiện được”.

Không chỉ thông qua các bài nói, bài viết mà thông qua hành động, việc làm, bằng cả cuộc đời giản dị của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một tấm gương mẫu mực cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân noi theo, với rất nhiều những việc làm thiết thực để chống lại “căn bệnh hình thức”. Người luôn nhấn mạnh: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.

Trong công tác thi đua - khen thưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, để chống “bệnh hình thức”, phải có kế hoạch tỉ mỉ, cụ thể, nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tránh đại khái, quá cao, gây phiền phức, miễn cưỡng khi thực hiện. Thi đua phải gắn liền với khen thưởng. Khen thưởng chính xác, kịp thời sẽ có tác dụng động viên, giáo dục, đồng thời, cổ vũ thi đua phát triển lên tầm cao mới. Ngược lại, nếu khen thưởng không đúng, không kịp thời sẽ triệt tiêu động lực, thậm chí còn gây hậu quả xấu đối với công tác thi đua. Khen thưởng phải đúng người, đúng việc, đúng với thành tích thì mới có tác dụng tốt với phong trào thi đua. Suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gương mẫu không nhận bất cứ danh hiệu hay tấm huân chương, huy chương nào.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc đấu tranh chống “bệnh hình thức” trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Thấm nhuần những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh chống “bệnh hình thức”, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Tuy nhiên, “căn bệnh hình thức” đã và đang len lỏi vào tất cả các lĩnh vực, từ đời sống xã hội đến mỗi gia đình và từng cá nhân. Trong hoạt động của hệ thống chính trị cũng như xã hội, “bệnh hình thức” vẫn biểu hiện trên nhiều mặt, ở nhiều nơi. Một số địa phương, đơn vị xây dựng những công trình quá tốn kém, không thiết thực, trong khi đời sống nhân dân còn khó khăn; những hội nghị, lễ tổng kết, khánh thành, khởi công,... rình rang, lãng phí. “Bệnh hình thức” trong công tác chính trị, tư tưởng thể hiện ở việc học tập, phổ biến các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được tiến hành một cách đại khái, qua loa; hoặc ngược lại, lại quá rườm rà, nhiêu khê về thủ tục, giấy tờ, mà không đi sâu vào nội dung cần quán triệt. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, hiệu quả”; “Công tác tư tưởng có nơi, có lúc chưa thực sự được cấp ủy coi trọng, chưa kịp thời, tính thuyết phục chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; một số vấn đề mới, khó, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”.

“Bệnh hình thức” trong công tác tổ chức, cán bộ và trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên biểu hiện ở việc thực hiện một số nội dung trong các khâu của công tác cán bộ còn hình thức. Công tác rèn luyện, quản lý đảng viên ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức, còn thiếu chặt chẽ; có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ không đúng định kỳ, thiếu nghiêm túc. Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số nơi còn chưa thực chất. Công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”; “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…, trong đó có “bệnh hình thức”, thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về trách nhiệm và đạo đức của người đảng viên.

Coi trọng việc giáo dục, nâng cao bản lĩnh, phẩm chất chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Mỗi cán bộ, đảng viên kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cơ hội, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... Các cấp ủy đảng cần có các biện pháp tăng cường giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu cao đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, gương mẫu đi đầu, kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, “nhóm lợi ích”, địa phương, cục bộ; từ đó, góp phần đấu tranh ngăn chặn, khắc phục “bệnh hình thức” gắn với đấu tranh phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tích cực thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Hai là, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, người đứng đầu cần “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”; gương mẫu đi đầu trong đấu tranh phòng, chống “bệnh hình thức”, gắn với chống “lợi ích nhóm”, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở địa phương, đơn vị, tổ chức, cơ quan mình trực tiếp lãnh đạo, phụ trách; không bao che, tiếp tay, dung dưỡng cán bộ cấp dưới có biểu hiện của “bệnh hình thức”, quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Người đứng đầu phải nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với tư duy khoa học, khách quan, công tâm, tận tụy trong công việc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; bảo đảm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, kỷ cương, kỷ luật; không chạy theo thành tích bằng mọi giá.

Ba là, các cấp ủy phải thường xuyên tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc.

Lý giải vì sao trong Đảng lại phải thực hành tự phê bình và phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. Theo Người, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Để tự phê bình và phê bình thực sự phát huy tác dụng và đạt hiệu quả cao trong phòng, chống “bệnh hình thức”, mỗi cán bộ và tổ chức đảng phải thực hành thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình một cách “triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”.

Cách thức, phương pháp tự phê bình và phê bình: Phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, mục đích là cốt để sửa chữa hạn chế, khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ; phải trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; thực hiện dân chủ từ trên xuống dưới, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu phải gương mẫu trong thực hành tự phê bình và phê bình. Đồng thời, phải kiên quyết chống những biểu hiện lệch lạc trong đấu tranh tự phê bình và phê bình; “phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngǎn cản quần chúng phê bình”. Trước nhiều ý kiến e sợ tự phê bình và phê bình là “vạch áo cho người xem lưng”, lo sợ kẻ địch lợi dụng phá hoại,… Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đối với những người cộng sản, người cán bộ cách mạng, “chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi”. Ở đâu văn hóa tự phê bình và phê bình bị “lép vế” hoặc tiến hành một cách “hình thức”, chiếu lệ thì ở đó chủ nghĩa cá nhân có điều kiện nảy nở, phát triển; do đó, “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khỏe mạnh vô cùng”.

Bốn là, tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; xây dựng các chế tài để phòng, chống “bệnh hình thức”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Vì thế, các cấp ủy đảng cần tập trung đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát; kiên quyết khắc phục tình trạng buông lỏng vai trò lãnh đạo, quản lý trong quá trình xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng; khắc phục những biểu hiện của “bệnh hình thức”, như ham thành tích, không bám sát nhiệm vụ thực tế, đề ra nhiệm vụ nhưng không quyết tâm thực hiện. Thực hiện tốt điều đó sẽ góp phần hạn chế và đẩy lùi “bệnh hình thức” trong hoạt động của hệ thống chính trị.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng và trong cả hệ thống chính trị ngay từ khâu xây dựng chương trình hành động của cấp ủy các cấp, sao cho nội dung chương trình hành động phải bám sát nhiệm vụ chính trị của đại hội đảng bộ các cấp, căn cứ vào các nguồn lực của địa phương, cơ quan, đơn vị để xây dựng chương trình phù hợp. Cần tập trung vào những khâu, những nội dung mấu chốt, dễ bị lợi dụng, những người có trách nhiệm và thẩm quyền quyết định để ngăn ngừa biểu hiện “bệnh hình thức”, đặc biệt là các lĩnh vực: tư tưởng chính trị, quản lý báo chí; kinh tế - tài chính; hành chính, tư pháp; việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng trong công tác tổ chức, cán bộ; việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên và công dân...

Bên cạnh đó, các cấp ủy cần có quy định cụ thể trong việc biểu dương, khen thưởng những nơi thực hiện tốt, có nhiều đổi mới, năng động, sáng tạo, khuyến khích nhân rộng những điển hình tiên tiến, phê phán, xử lý nghiêm minh những nơi thực hiện không tốt, có biểu hiện lệch lạc của “bệnh hình thức”; đồng thời, cần nghiên cứu hoàn chỉnh các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xử lý trách nhiệm đối với những tập thể, cá nhân, cán bộ, đảng viên có vi phạm về “bệnh hình thức”, gây hậu quả nghiêm trọng./.

ST.