Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỚ LẠI “TIẾNG BOM TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI”!

     Tôi còn nhớ vào năm 1986, khi ấy bố tôi đang công tác nên thường xuyên mang báo về nhà. Hôm ấy, tôi thấy ông lẳng lặng mở tủ cất riêng một tờ báo vào trong. Với bản tính tò mò lại yêu thích báo chí, tôi đã "lén" lấy ra xem; thì ra đó là tờ báo Tiền Phong số ra ngày 25/3/1986. Giở trang nhất, tôi sững sờ thấy bài thơ: “Mùa xuân nhớ Bác” của tác giả Phạm Thị Xuân Khải - sinh viên năm thứ hai khoa Ngữ văn, K21 Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Tôi đọc ngấu nghiến, hớp từng câu, từng chữ cho đến khi thuộc làu. Lần đầu tiên tôi được đọc một tác phẩm hay đến thế, chân thật và dũng cảm đến thế. Đó là một sự kiện hiếm có của cả người viết lẫn tòa soạn lúc bấy giờ. Xem xong, tôi nhẹ nhàng gấp tờ báo định đút vào cặp mang đến lớp khoe với bạn bè, nhưng nhớ đến cử chỉ cẩn thận của bố, tôi lại không dám. Đành lấy bút nắn nót sao chép bài thơ lên trang giấy trắng.

Sáng hôm sau, lòng tôi thấp thỏm chờ đến giờ ra chơi để mang “trái bom” này làm nóng sân trường. Ai dè, vừa rút ra khoe, thằng bạn đi học cùng đường (dưới tôi một lớp) đã bô bô:

• Làm đếch gì có báo nào dám đăng bài phản động như vậy! Công an xích cổ ngay. Mày cẩn thận đấy, tội lưu hành, sao chép tài liệu phản động có ngày đi tù như chơi!

Tôi gân cổ cãi nhau với nó đến mức suýt "tặng" cho nó viên gạch, vậy mà nó vẫn oang oang: “Mày nói phét!”. Lý lẽ của nó cũng làm tôi hơi dờn dợn, nhụt chí khoe khoang. Tôi bấm bụng: "Ngày mai tao sẽ mang hẳn tờ báo đến cho chúng mày sáng mắt ra".

Thế nhưng khi đến lớp, tôi đã thấy từng tốp chụm đầu thì thầm bàn tán về một mảnh giấy. Tôi chạy lại xem và nhận ra mình đã quá muộn trong "công tác thông tin". Bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” đã được phát tán rộng rãi. Người xem, kẻ bình luận thì thầm như đang “buôn bạc giả”. Có bạn lại hí hoáy tốc ký lại lời thơ. Ai cũng có vẻ sợ sệt, lén lút, dường như vẫn chưa thể tin một bài thơ như thế lại hiện diện trên trang nhất báo Tiền Phong – cơ quan ngôn luận của Trung ương Đoàn.

Ngày ấy, trong tôi luôn thường trực câu hỏi: “Bà Phạm Thị Xuân Khải là ai mà dũng cảm thế?”. Tôi ngưỡng mộ chị, háo hức được gặp người mà trong mắt tôi là một "thần tượng" đầy hào quang, giống như cách đám trẻ bây giờ đam mê những ngôi sao ca nhạc.

Năm 1989, khi đang học tại Hà Nội, một buổi chiều ngồi uống trà đá vỉa hè cùng thầy giáo Đặng Xuân Giao trên phố Hàng Đậu, tôi bắt gặp một người phụ nữ nước da ngăm đen, tóc ngắn ngang vai, dáng vẻ nhanh nhẹn đi vào. Thầy tôi đứng dậy chào rồi nhiệt tình kéo ghế mời. Một giọng miền Trung đặc sệt cất lên:

• Cảm ơn anh, em đi với mấy người bạn ạ!

Chị nhẹ nhàng ngồi xuống bàn bên cạnh. Tôi đoán chị phải là nhân vật quan trọng lắm nên thầy mới nhiệt tình thế. Khi chị đứng lên ra về, chị vẫn không quên quay lại bàn chúng tôi nở nụ cười thân thiện. Như một cái máy, tôi đứng dậy cúi đầu chào lễ phép. Thầy khẽ hỏi:

• Em cũng biết chị Khải hả?

• Em không ạ! – Tôi ngơ ngác.

• Người nổi tiếng thế, các em nên biết! Chị ấy là tác giả bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” đấy.

Tôi bật dậy reo lên khiến mọi người xung quanh giật mình:

• Chị Phạm Thị Xuân Khải phải không thầy? Sao thầy không bảo em sớm!

• Chị ấy giờ sống khép kín, không muốn ai nhận ra đâu. Mình cùng học chung trường nên mình biết.

Tôi thốt lên đầy tiếc nuối. Vì quá ngưỡng mộ, tôi kéo ngay thầy đến quán vịt om sấu gần đó "hầu rượu" để nghe chuyện về chị. Qua lời thầy, tôi mới biết chị là con gái ông Phạm Chấn Hưng – một cán bộ cao cấp của Ban Tổ chức Trung ương Đảng khi đó. Chị từng là Thanh niên xung phong tại chiến trường B. Sau khi xuất ngũ, chị được Tỉnh ủy Bình Định tuyển chọn đi học để bồi dưỡng lãnh đạo. Tương lai đang rạng rỡ, vậy mà tất cả đã thay đổi sau “tiếng bom” trước thềm Đại hội VI – bài thơ gây chấn động cả nước.

Ngày ấy, tôi không hình dung nổi làm sao bài thơ lại "trèo" qua được "bức tường sắt" của sự bảo thủ, trì trệ lúc bấy giờ. Mãi sau này, những tình tiết ấy mới được hé lộ qua lời tự thuật của chị.

Bài thơ được viết vào đầu xuân Bính Dần, khi chị là sinh viên năm hai, trăn trở trước vận mệnh đất nước. Thời điểm đó, nền kinh tế đang gặp vô vàn khó khăn, sự quan liêu, biến chất của một bộ phận cán bộ làm cuộc sống người dân thêm chồng chất gian truân. Quên sao được những bát cơm đầy sắn, những tấm áo vá chằng vá đụp, hay nạn trộm cắp nổi lên khắp nơi.

Trong một đêm thức trắng, chị đã trút bầu tâm huyết vào những vần thơ mộc mạc. Và chỉ chị mới đủ can đảm gửi bài thơ đó cho ông Lê Đức Thọ (lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị). Chính những vần thơ ấy đã làm lay động vị lãnh đạo cao cấp. Ông đã chuyển lời cho ông Vũ Mão (Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn) gợi ý báo Tiền Phong đăng bài. Tổng biên tập Đinh Văn Nam khi ấy đã rất thận trọng, cử nhà báo Nguyễn Xuân Ba đi xác minh danh tính tác giả trước khi đưa ra quyết định "động trời": Cho "nổ" trái bom ấy vào rạng sáng 25/3/1986.

Hiệu ứng của nó như một cơn sóng thần. Báo bán sạch trong buổi sáng, hàng vạn bản photocopy được chuyền tay nhau. Người dân Việt lần đầu tiên thấy nỗi lòng mình được bày tỏ công khai trên mặt báo.

Song, “Trực ngôn nghịch nhĩ” (lời thẳng khó nghe). Làn sóng phản đối chị cũng rất dữ dội từ những người nắm quyền bính. Những "cái đầu nóng" quy chụp chị là phản động, đòi kỷ luật, đòi tống giam. Ngay cả quê nhà Bình Định – nơi cử chị đi học – cũng không còn trải thảm đỏ. Họ chờ đón chị bằng những lời đe dọa. Ông Lê Đức Thọ đã phải khuyên: “Cháu ra trường đừng về Nghĩa Bình vội, để tình hình tạm lắng xuống đã”.

Chị phải sống cảnh "du mục" tại Hà Nội, lương bị cắt, ký túc xá không được ở, xa chồng con trong nỗi nhớ nhung đau thắt. Nhưng chị không cô đơn. Độc giả và bạn bè luôn dang tay bao bọc chị. Chị sống ẩn dật giữa sự náo nhiệt của thời kỳ Đổi mới mà chính chị là một trong những người "phát hỏa". Sau này, chị được nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng ân cần bảo: “Chính phủ đã nghe và đang sửa”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng mời chị đến dùng cơm và đàm đạo thế sự.

Phải là người trong cuộc mới hiểu hết nỗi đau của người dũng cảm. Bản thân tôi cũng từng đứng lên phản ánh sai phạm để rồi nhận lại sự đe dọa, điêu đứng. Tôi thấu hiểu cái giá của sự thật lớn đến nhường nào.

Mười năm tha hương, chị mới dám trở về Bình Định, rồi lại vào TP. Hồ Chí Minh lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Người phụ nữ ấy đã tự tay đánh vữa, đặt từng viên gạch xây nên tổ ấm cho mình và các con. Trời không phụ người có tâm, ngôi nhà hạnh phúc đã hình thành từ chính mồ hôi và nhân cách của chị.

Đã hơn 30 năm trôi qua, đất nước đã lột xác vươn mình. Chúng ta từ một nước thiếu ăn đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Thế nhưng, nỗi lo về một bộ phận cán bộ tự chuyển hóa, trở thành những "ông quan cách mạng" vẫn còn đó.

Lời thơ của chị Phạm Thị Xuân Khải vẫn còn nguyên giá trị thời đại:

“Đồng chí không bằng đồng tiền / Bằng lòng còn hơn bằng cấp / Có ai thấu chăng và ai phải sửa?”

Sự “cầu an”, “thụ động” của một bộ phận giới trẻ và trí thức hôm nay là một điều đáng ngại. Nếu ai cũng chọn bình yên, ai cũng hẹp hòi ích kỷ, thì ai sẽ đấu tranh với cái xấu?

Hôm nay, trong không khí đổi mới và quyết tâm làm sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, tôi lại nhớ về bài thơ ấy. Mong rằng tinh thần của “Mùa xuân nhớ Bác” sẽ tiếp tục tiếp thêm sức mạnh để chúng ta xua tan mây mù, hướng tới một mùa xuân khải hoàn mãi mãi./.

QV-ST!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét