Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong xây dựng, chỉnh đốn tổ chức đảng tại đơn vị cơ sở quân đội

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, quy luật tồn tại và phát triển của Đảng; công cụ sắc bén để giáo dục, rèn luyện đảng viên thực hiện tốt hơn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Thấm nhuần di huấn của Người, các đơn vị cơ sở quân đội xem công tác tự phê bình và phê bình thường xuyên là góp phần xây dựng và chỉnh đốn tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

Thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa những khuyết điểm”. Theo Người, bản chất của tự phê bình và phê bình phải coi trọng cả hai mặt ưu điểm và khuyết điểm, tự phê bình mình trước, phê bình người sau; tự phê bình và phê bình có mối quan hệ biện chứng không tách rời nhau, nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm “cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Người có ưu điểm thì phải cố gắng thêm, và người khác phải cố gắng bắt chước. Mọi người phải tích cực sửa chữa khuyết điểm của mình và giúp anh em sửa chữa khuyết điểm của họ. Mọi người phải nhớ rằng: cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm to, sẽ rất có hại. Cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành một ưu điểm lớn, rất có lợi cho Đảng và công cuộc kháng chiến”. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ: “Phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phê bình người”. Do đó, “ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, đảng viên, mỗi ngày, mỗi người phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ Thủ đô (năm 1966)_Ảnh: Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tự phê bình và phê bình là nguyên tắc và là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, là biện pháp cơ bản để tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, vũ khí sắc bén cần thiết cho sự tiến bộ trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên như cơm ăn, nước uống, như không khí để thở hằng ngày. Người yêu cầu: “Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng”. Bởi lẽ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”. Cho nên, để thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng mất đoàn kết trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải mở rộng dân chủ, không được để: “Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực”, và khắc phục tình trạng: “Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”. Theo Người, những điều trên dễ dẫn đến “cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau. Quần chúng với Đảng xa rời nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì cái gì cũng không dám nói rõ ra; họ không nói vì sợ bị “trù”. Chỉ có những người dám dũng cảm, giàu nghị lực, tận tâm, tận lực cống hiến cho Đảng, cho cách mạng mới dám tự phê bình và tiếp thu phê bình.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình để xây dựng, chỉnh đốn tổ chức đảng tại đơn vị cơ sở trong quân đội, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, quân đội vững mạnh

Quán triệt và thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong xây dựng, chỉnh đốn tổ chức đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và năng lực cầm quyền của Đảng nói chung, Đảng bộ Quân đội nói riêng; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng, đem lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” được coi là giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Thời gian qua, nhiều tổ chức đảng tại đơn vị cơ sở quân đội thường xuyên giáo dục cho đảng viên thấy rõ sự cần thiết phải tăng cường tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt để các đảng viên thống nhất tư tưởng và hành động, khắc phục những biểu hiện buông lỏng sinh hoạt Đảng, tăng cường công tác kiểm điểm, đánh giá xếp loại chất lượng hằng năm để các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và từng cá nhân tự soi, tự sửa lại mình, từ đó đề ra chủ trương, giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ. Qua công tác tự phê bình và phê bình, các đảng viên đã thấy được những điểm mạnh để phát huy, những điểm hạn chế để sửa chữa, khắc phục.

Tuy nhiên, công tác tự phê bình và phê bình trong một số ít tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở trong quân đội vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Đó là, bên cạnh các cán bộ đảng viên mạnh dạn tự phê bình và phê bình thì cũng có một số ít đảng viên khi phê bình chỉ thiên về vạch khuyết điểm của người khác theo kiểu “bới lông tìm vết” để công kích, nói xấu, tìm cách “hạ bệ” nhau, làm giảm uy tín của nhau mà không chú ý tìm ra những ưu điểm của họ; thiên về phê bình người khác mà không nghiêm khắc tự phê bình mình, nhất là ở thời điểm trước khi tiến hành đại hội, trước khi cấp uỷ xem xét, cất nhắc, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Trái lại, cũng có người khi phê bình cấp trên hay nhấn mạnh ưu điểm theo kiểu “tâng bốc” để được lòng cấp trên mà không dám mạnh dạn chỉ rõ khuyết điểm của họ. Nhiều chi bộ né tránh hoặc làm qua loa, hình thức và có xu hướng đổ lỗi cho sự hạn chế về nhận thức, dẫn đến nhiều vi phạm. Qua đó cho thấy tính chủ động, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự phê bình và phê bình của một số đảng viên chưa cao...

Vì vậy, để đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong quân đội, các cấp, các ngành, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh. Nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Các đơn vị cơ sở quân đội xem công tác tự phê bình và phê bình thường xuyên là góp phần xây dựng và chỉnh đốn tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh_Ảnh: Tư liệu

Để nêu cao tinh thần tự phê bình, phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên khởi động, dưới chậm chuyển động” và tiến tới thực hiện văn hóa tự giác tự phê bình, “tự soi”, “tự nhận khuyết điểm vi phạm”, “tự nhận trách nhiệm”, “tự xử” của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong thời gian tới, các đơn vị cơ sở trong quân đội cần thực hiện đồng bộ một số nội dung:

Thứ nhất, tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng theo chương trình toàn khóa và chủ đề hằng năm. Định kỳ, các tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở trong quân đội cần tiến hành sơ kết rút kinh nghiệm, để kịp thời khắc phục những sai sót, lệch lạc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình… Đồng thời, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cấp ủy, người đứng đầu và trách nhiệm của cả hệ thống tổ chức đảng trong quân đội tiến hành tự phê bình và phê bình trên tinh thần: thực hiện từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cấp ủy, người đứng đầu đến cán bộ, đảng viên. Theo đó, cấp trên phải nêu gương, mẫu mực tự kiểm điểm trước để cấp dưới tích cực noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp ủy viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau. Mỗi tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở trong quân đội và mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng, để tự phê bình và phê bình bảo đảm tính dân chủ, khách quan, trung thực, đầy đủ, đạt chất lượng, hiệu quả, góp phần làm tăng uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cơ sở trong quân đội.

Thứ hai, các cấp ủy, tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở trong quân đội, nhất là chính ủy (chính trị viên) và người chỉ huy cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về tự phê bình và phê bình bằng nhiều hình thức cụ thể, thiết thực. Thường xuyên tổ chức cho cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt và vận dụng thực hiện sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên, về các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhận thức đúng về tự phê bình và phê bình của từng cán bộ, đảng viên. Thấy rõ mục đích, ý nghĩa, tác dụng của tự phê bình và phê bình không phải là “bới lông tìm vết, mà là “trị bệnh cứu người”, giúp tổ chức đảng và đảng viên thấy rõ ưu điểm để phát huy; sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, bao che cho thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của tổ chức và đồng chí mình. Khi thực hiện tự phê bình và phê bình phải nghiêm túc và tự giác, chân thành, thẳng thắn.

Thứ ba, duy trì và thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, hiệu quả các nguyên tắc xây dựng Đảng, Điều lệ Đảng, chú trọng thực hiện công tác tự phê bình và phê bình gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, với các đợt sinh hoạt Đảng. Trong khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải nêu được điểm tốt, điểm mạnh của cá nhân và tập thể trước; tiếp đó, góp ý những điểm yếu, điểm hạn chế cần khắc phục, sửa chữa trong cả thời gian trước mắt và lâu dài. Trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức; phát huy dân chủ; đề cao tính tự giác, trách nhiệm, thái độ và phương pháp tự phê bình và phê bình đúng đắn, phù hợp, bảo đảm tính văn hóa, tính khoa học, tính nhân văn của mỗi cán bộ, đảng viên. Cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác cho cán bộ, đảng viên để bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai với tâm trong sáng, trung thực, bản lĩnh, làm cho ý kiến góp ý phê bình vừa chính xác, chất lượng, vừa có tính thuyết phục cao, đúng người, đúng việc.

Thứ tư, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và hội đồng quân nhân ở đơn vị cơ sở trong quân đội tham gia phê bình cấp ủy, tổ chức đảng. Hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đều liên quan đến đời sống mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở trong quân đội. Thực tế cho thấy, chỉ khi nào cấp ủy, tổ chức đảng thực sự gắn bó với quần chúng thì mới khuyến khích, cổ vũ quần chúng phê bình cấp ủy, tổ chức đảng. Do đó, để tự phê bình và phê bình ở đơn vị cơ sở trong quân đội đạt chất lượng thì từng cấp ủy viên phải mạnh dạn tự phê bình trước quần chúng gắn với việc tổ chức cho quần chúng thẳng thắn tham gia phê bình mình. Cấp ủy, tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở phải khắc phục tư tưởng, tâm lý e ngại quần chúng, không công tâm, không khách quan khi phê bình. Trước khi tổ chức cho quần chúng phê bình, cấp ủy, tổ chức đảng cần phải thông qua các tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ ở cơ sở phổ biến cho hội viên, đoàn viên nắm vững và hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, nội dung, phương châm của tự phê bình và phê bình để mọi người có thái độ phê bình đúng đắn, nêu rõ ưu điểm, khuyết điểm, tránh hiện tượng phê bình thiếu xây dựng. Hình thức tổ chức để đảng viên và quần chúng tham gia phê bình cấp ủy và tổ chức đảng cũng như từng cấp ủy viên phải đa dạng, bên cạnh hội nghị với đoàn viên, hội viên trong các đoàn thể, hội đồng quân nhân ở đơn vị, cần tổ chức nhiều hòm thư để tạo thuận lợi cho quần chúng góp ý, phê bình. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở với phương châm bộ đội biết, bộ đội bàn, bộ đội làm, bộ đội kiểm tra, bộ đội thụ hưởng. Muốn vậy, cần gắn tự phê bình và phê bình của cấp ủy và cán bộ, đảng viên với lấy ý kiến góp ý phê bình của quần chúng ở đơn vị cơ sở. Sau đó, cấp ủy cơ sở tập hợp, phân loại và chuyển đến tập thể và cá nhân được quần chúng góp ý để tiếp thu ý kiến phê bình của quần chúng; kịp thời thông báo kết quả xử lý, kế hoạch, biện pháp sửa chữa khuyết điểm của các tổ chức đảng và từng cấp ủy viên trước cán bộ, đảng viên và quần chúng. Đồng thời, cấp ủy đảng ở đơn vị cơ sở phải có biện pháp ủng hộ, bảo vệ người phê bình.

Việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng của cấp ủy cơ sở phải gắn với công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan chức năng, nếu phát hiện có liên quan đến kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội đã rõ thì phải xử lý thích đáng để giáo dục làm gương./.

ST.

Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Tính văn hóa trong môi trường quân đội vừa thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa trở thành nhu cầu tự thân, tất yếu khách quan trong quá trình phấn đấu xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Theo đó, việc xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIII hiện nay có tính cấp thiết, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính động viên cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 tham gia chữa cháy rừng tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh _ Ảnh: baoquankhu4.com.vn

Tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội

Sức mạnh chiến đấu của quân đội ta là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng xét đến cùng, con người là yếu tố quyết định. Trong nhân tố con người thì yếu tố chính trị - tinh thần có một vai trò đặc biệt. V.I. Lê-nin đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh hiện đại cũng như kỹ thuật hiện đại đòi hỏi phải có nhân lực chất lượng cao và "trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. Xây dựng môi trường văn hóa là một trong những động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy yếu tố chính trị - tinh thần của quân nhân.  

Môi trường văn hóa trong quân đội là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần hợp thành một chỉnh thể trong không gian và thời gian xác định, tác động đến quá trình hình thành, nuôi dưỡng và hoàn thiện những phẩm chất văn hóa của quân nhân; có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng. Chính trong môi trường văn hóa mà mỗi cán bộ, chiến sĩ, bằng hoạt động thực tiễn xã hội, tiếp nhận các giá trị văn hóa quân đội để phát triển, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách. Thực tế cho thấy, môi trường văn hóa quân đội tốt đẹp, lành mạnh sẽ là nhân tố thuận lợi để giáo dục, bồi dưỡng, phát triển nhân cách người quân nhân cách mạng, xây đắp nên tình đồng chí, đồng đội cao cả; vừa tạo ra động lực động viên, thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ rèn luyện, phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn; đồng thời, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh là bức tường thành vững chắc vô hiệu hóa sự tấn công của những yếu tố phản văn hóa, bảo vệ “trận địa” tư tưởng văn hóa của Đảng trong môi trường quân đội. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa quân đội là vấn đề cơ bản và cấp thiết trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đây chính là quá trình xây dựng các nhân tố cấu thành môi trường văn hóa trong quân đội, với việc bồi đắp các phẩm chất chính trị, đạo đức tốt đẹp; mối quan hệ đoàn kết, hài hòa giữa cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị; xây dựng cảnh quan môi trường sạch, đẹp…

Nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của môi trường văn hóa quân đội, góp phần phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân cách cao đẹp của người quân nhân cách mạng, tạo động lực tinh thần to lớn để mỗi cán bộ, chiến sĩ biết vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, ngay từ những năm 1992, Tổng cục Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 143/CT, ngày 12-5-1992, “Về thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị quân đội”; Tổng cục Chính trị ban hành Chỉ thị số 353/CT, ngày 9-11-1996, “Về tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị quân đội”; năm 1996, Cục Tư tưởng - Văn hóa (nay là Cục Tuyên huấn), có Hướng dẫn số 290/TT-VH, ngày 4-12-1996, “Về thực hiện tiêu chuẩn “Đơn vị có môi trường văn hóa tốt”; năm 2000, Tổng cục Chính trị tiếp tục có Hướng dẫn số 934/HD-CT, ngày 15-11-2000, “Về việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội, thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; ngày 18-1-2017, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết 25 năm thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (1992 - 2017).

Gần 30 năm triển khai Chỉ thị số 143/CT, ngày 12-5-1992, của Tổng cục Chính trị, với nhiều lần sơ kết, tổng kết, gắn với việc thực hiện các phong trào thi đua, các đợt học tập, sinh hoạt chính trị, công tác xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội đạt được những thành công nhất định. Nhận thức của các cấp ủy, của toàn quân về vai trò, tầm quan trọng của môi trường văn hóa được nâng lên. Các đơn vị đều coi trọng việc đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, văn hóa, tuyên truyền đầy đủ, nghiêm túc các chuyên đề về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; các quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên trong quân đội. Tổ chức đăng ký phấn đấu theo 5 nội dung “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới theo Hướng dẫn số 202/HD-CT, ngày 3-2-2019 của Tổng cục Chính trị, cụ thể: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; Hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; Ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; Bốn là, đẩy mạnh thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; Năm là, tích cực chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Đồng thời, tổ chức có nền nếp chế độ sinh hoạt dân chủ ở cơ sở, Ngày “Chính trị và văn hóa tinh thần” ở cơ sở, Ngày thành lập Đảng (ngày 3-2), Ngày Pháp luật Việt Nam (ngày 9-11); qua đó, kịp thời giải quyết tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị quân đội đề cao tự phê bình và phê bình; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng làm tốt việc gợi ý kiểm điểm, xây dựng kế hoạch khắc phục, sửa chữa khuyết điểm trong các cuộc họp, sinh hoạt đơn vị; đặc biệt là sau kiểm tra của đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị.

Các đảng viên trẻ thi đua giành kết quả cao trong diễn tập ở Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 (Quân khu 2) _ Ảnh: qdnd.vn

Các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc các cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị quân đội”; qua đó, đã hình thành nên các đơn vị, tổ chức quân đội vững mạnh; đội ngũ cán bộ, chiến sĩ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng hy sinh vì lợi ích quốc gia, dân tộc; xuất hiện nhiều mô hình doanh trại chính quy hài hòa với cảnh quan; mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và nhân dân được củng cố chặt chẽ, bền vững, trực tiếp góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; giữ vững truyền thống “quân đội là một trường học lớn đào luyện con người”.

Tuy vậy, quá trình xây dựng môi trường văn hóa quân đội ở một số đơn vị vẫn còn không ít lúng túng trên nhiều phương diện. Về nhận thức, ở nhiều đơn vị, lãnh đạo và chỉ huy chưa nhận thức rõ phạm vi, tính chất và đặc trưng của môi trường văn hóa quân sự. Cá biệt, có nơi chỉ coi môi trường văn hóa quân sự là “cảnh quan doanh trại sạch, đẹp, gọn gàng”, nên chỉ tập trung đầu tư xây dựng doanh trại; về chỉ đạo, chưa thật cụ thể và kịp thời. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa quân đội mới chỉ dừng lại ở những nội dung hoạt động cụ thể, như văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao… Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ, viên chức quốc phòng có nơi còn chưa hiểu sâu sắc về mục tiêu xây dựng môi trường văn hóa quân đội; còn máy móc trong vận dụng tiêu chuẩn chung vào xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị mình. Bên cạnh đó, việc sử dụng các văn hóa phẩm, như sách, báo, đài, phim, ảnh… phục vụ đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ chưa thật hiệu quả. Hệ thống thiết chế văn hóa hoạt động chưa thực sự đi vào nền nếp, chưa phát huy hết tiềm năng bộ đội vào xây dựng môi trường văn hóa quân sự ở các đơn vị cơ sở…

Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội

Trong những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi nhanh, phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức. Để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại, tinh nhuệ, chính quy, từng bước hiện đại đáp ứng được yêu cầu mới thì một trong những nhiệm vụ quan trọng là cần đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng”(2) và “Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(3).

Một là, nâng cao trình độ hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và quân đội.

Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng đó do Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh xây dựng và giáo dục cho Quân đội ta; từ đó tạo nên sự thống nhất chặt chẽ không thể tách rời giữa mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, nâng cao trình độ hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và quân đội là làm cho mỗi quân nhân luôn nhận thức sâu sắc rằng, chiến đấu cho mục tiêu, lý tưởng của quân đội cũng chính là chiến đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng - vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Tuyên truyền đến cán bộ, chiến sĩ quan điểm của Đảng về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, nắm chắc nội dung các chỉ thị, quy định và quy chế về “xây dựng môi trường văn hóa”, “tiêu chuẩn đơn vị có môi trường văn hóa” của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, chiến sĩ những giá trị và truyền thống văn hóa tiêu biểu của dân tộc và quân đội, như chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, lòng thương người, chủ nghĩa nhân đạo… Đây là những giá trị làm nên sức sống, cội nguồn sức mạnh, bản lĩnh con người và dân tộc Việt Nam, mà Quân đội nhân dân Việt Nam cần phát huy trong bối cảnh hiện nay.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng giúp đồng bào gặt lúa_Ảnh: qdnd.vn

Quá trình nâng cao trình độ hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và quân đội; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cần phải thực hiện thông qua giảng dạy các môn lý luận chính trị, văn hóa trong các nhà trường, các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị; qua các buổi sinh hoạt chính trị, tổ chức thi tìm hiểu truyền thống của đơn vị, quân đội; qua hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, như nhà văn hóa, câu lạc bộ, phòng Hồ Chí Minh của các đơn vị, thư viện, bảo tàng… Cần nâng cao vai trò của các cấp ủy; đội ngũ chính ủy, chính trị viên; sử dụng các hình thức và biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng, từng khu vực; trong đó, đặc biệt chú ý đến hình thức nêu gương, tự tu dưỡng; phát huy và nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động, chấp hành kỷ luật; qua chương trình phát thanh nội bộ, bình xét thi đua khen thưởng hằng tuần, tháng, quý, năm, thông tin rộng khắp trong toàn đơn vị và toàn quân để mọi người học tập, noi theo.

Hai là, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó quân nhân.

Mối quan hệ giữa cán bộ, chiến sĩ có tốt đẹp thì mới tạo nên môi trường văn hóa tốt đẹp. Mối quan hệ này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động chung của đơn vị. Một tập thể có mối quan hệ thuận hòa, với những tình cảm tích cực, dựa trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ chung sẽ góp phần tăng cường đoàn kết trong đơn vị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách, năng lực của cán bộ, chiến sĩ. Trái lại, một đơn vị mà thiếu sự đoàn kết trong mối quan hệ giữa các cán bộ, chiến sĩ sẽ tạo ra tâm trạng tiêu cực, dẫn đến quân nhân ít gắn bó với tập thể, ít có sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, nảy sinh nhiều mâu thuẫn nội bộ. Do đó, cần hướng mọi người xây dựng mối quan hệ, tình đồng chí đoàn kết, gắn bó, nhân văn, giúp nhau cùng tiến bộ. Trong quá trình này, cần chú ý đấu tranh khắc phục hiện tượng “trung bình chủ nghĩa” trong sinh hoạt, công tác của cán bộ, chiến sĩ và tư tưởng “quan liêu, độc đoán, gia trưởng” trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Cần phát huy tính dân chủ trong các hoạt động của đơn vị, mọi người đều được bày tỏ ý kiến; tôn trọng và bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Đó là tình thương yêu đồng chí, đồng đội, là kỷ luật nghiêm minh và tự giác, tác phong chính quy, là “tình quân dân cá nước” trong chiến tranh cũng như trong hòa bình đã trở thành nhân cách của người quân nhân cách mạng.

Ba là, xây dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp.

Cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp thể hiện tính kỷ luật, tình yêu lao động, bảo vệ môi trường thiên nhiên trong phát triển bền vững của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Do vậy, việc xây dựng và bảo vệ cảnh quan môi trường cần được coi là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội. Để cảnh quan môi trường được sáng, xanh, sạch, đẹp, bền, trong quá trình xây dựng, khai thác cảnh quan môi trường, cần quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ tư tưởng giữ tốt, dùng bền, tiết kiệm nhiên vật liệu, giữ gìn vệ sinh môi trường; sử dụng đi đôi với bảo trì và nâng cấp. Thường xuyên động viên mọi quân nhân trong đơn vị tích cực tham gia đóng góp trí tuệ, sức lực vào quá trình xây dựng và bảo vệ cảnh quan môi trường của đơn vị.

Bốn là, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội.

Việc bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội không chỉ là thường xuyên nâng cao đời sống, mà còn là bảo đảm sự công bằng. Thực hiện tốt điều này lại là cơ sở để gia tăng sự gắn bó giữa các quân nhân với nhau, hình thành tâm lý tích cực, thuận hòa, đoàn kết. Ngược lại, nếu không thực hiện tốt vấn đề công bằng thì sẽ tạo nên sự thờ ơ với nhiệm vụ, làm phai nhạt ý chí chiến đấu của bộ đội, gây nên bầu không khí nghi kỵ lẫn nhau. Vì vậy, việc bảo đảm đúng, đủ các chế độ, tiêu chuẩn của cán bộ, chiến sĩ là nội dung cần quan tâm để người chiến sĩ có đủ sức khỏe, độ vững vàng về tâm lý, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trong điều kiện khoa học - kỹ thuật phát triển, thông tin bùng nổ như hiện nay, cần nâng cao “sức đề kháng” và “khả năng miễn dịch” cho bộ đội trước các yếu tố phản văn hóa, thông tin xấu, độc. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, tạo sân chơi lành mạnh cho cán bộ, chiến sĩ, duy trì đời sống văn hóa lành mạnh, ngăn ngừa các sản phẩm độc hại xâm nhập đơn vị.

Đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện tốt quy định, chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Việc bảo đảm đời sống văn hóa, tinh thần cho các đối tượng theo đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn quy định, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Đồng thời, đẩy mạnh triển khai thực hiện 3 chương trình trọng điểm: văn hóa, văn học - nghệ thuật, báo chí quân đội, tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật phục vụ bộ đội và nhân dân. Các cấp ủy cần chú ý kiện toàn, củng cố các thiết chế văn hóa, như phòng Hồ Chí Minh, nhà văn hóa, phòng sinh hoạt chung, thư viện, phòng đọc, nhà truyền thống, phòng truyền thống, bảo tàng, đơn vị nghệ thuật quân đội…; bổ sung sách báo, hiện vật lịch sử truyền thống vẻ vang của quân đội. Hoạt động của các thiết chế văn hóa, các đoàn văn công, tổ (đội) tuyên truyền văn hóa,… phải được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; đổi mới nội dung, hình thức hoạt động, sát yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa mới và nhu cầu thưởng thức của bộ đội. Đặc biệt, các đơn vị phải gương mẫu trong thực hiện các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội; xây dựng lối sống văn minh, ứng xử có văn hóa, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, đề cao tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân - dân, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật./.

ST.

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội thích ứng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Những năm qua, các nhà trường, đơn vị trong Quân đội nhân dân Việt Nam đạt thành tựu quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra những thời cơ, thách thức mới, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quân đội, nhằm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.

Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm: công nghệ sinh học, kỹ thuật số và vật lý. Những yếu tố cốt lõi của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là: trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối (IoT) và dữ liệu lớn (big data). Cuộc Cách mạng này đã và đang tác động mạnh mẽ, tạo ra sự biến đổi to lớn, toàn diện trong xã hội, nhất là lĩnh vực kinh tế, khoa học và quân sự, quốc phòng. Việt Nam đã chủ động triển khai hàng loạt các chủ trương, biện pháp nhằm tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Ngày 4-5-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg, “Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Ngày 27-9-2019,  Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52- NQ/TW, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Những chủ trương, chính sách trên là cơ sở cho hoạt động của cả hệ thống chính trị thích ứng với những đòi hỏi mới của thực tiễn.

Lực lượng thông tin Lữ đoàn 601, Quân khu 1 làm chủ phương tiện hiện đại sẵn sàng chiến đấu_Ảnh: Tư liệu

Trong lĩnh vực quân sự, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động mạnh mẽ, toàn diện, mang đến những bước phát triển cao hơn cùng những thách thức lớn hơn. Nhiều thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được đưa vào ứng dụng rộng rãi; tạo ra các hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, như vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô-bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất. Song, sự phát triển các loại vũ khí công nghệ cao với sức hủy diệt lớn, vừa tạo ưu thế tác chiến, vừa gây tâm lý hoang mang, lo sợ, xuất hiện tư tưởng “vũ khí luận”, coi trọng vũ khí và xem nhẹ vai trò của con người trong chiến đấu. Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng làm xuất hiện các hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới, đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cần đặc biệt quan tâm. Từ đó, việc tăng cường các tiềm lực và sức mạnh quân sự đã được các quốc gia đề cao, nhất là năng lực toàn diện của sĩ quan trong quá trình tác chiến với các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại.

Nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã nghiêm túc quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về vấn đề này. Cụ thể, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Kết luận số 16-KL/TW, ngày 7-7-2017, của Bộ Chính trị khóa XII, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021 và những năm tiếp theo; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 2523/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhất là Quyết định số 737/QĐ-BQP, ngày 13-3-2018, của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, về việc ban hành Kế hoạch của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng; quyết định và kế hoạch hành động của hệ thống nhà trường quân đội trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư giai đoạn 2018 - 2020 và những năm tiếp theo.

Trong những năm qua, các nhà trường và cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh, toàn diện, từng bước thích ứng và nâng cao năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tích cực triển khai mô hình “Nhà trường thông minh”, đổi mới đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được kiện toàn về cơ cấu, số lượng; nâng cao về phẩm chất, năng lực, nhất là trình độ tin học, ngoại ngữ. Hiện có 98,07% nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở các nhà trường quân đội có trình độ đại học, trong đó có 8,9% là tiến sĩ, 40,51% là thạc sĩ; nhiều đồng chí đạt chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, giảng viên giỏi cấp quốc gia và cấp Bộ Quốc phòng.

Các đơn vị trong toàn quân cũng tăng cường công tác huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ trẻ. Công tác bồi dưỡng, tập huấn đã tập trung vào việc nâng cao năng lực làm chủ vũ khí, trang bị cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp phân đội nhằm phát huy cao nhất khả năng tác chiến, ứng phó với mọi tình huống, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Theo đó, “các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 765- NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo. Chỉ đạo tổ chức tốt các cuộc diễn tập, luyện tập ở các cấp và tổ chức bắn kiểm tra các loại vũ khí trang bị, hỏa lực, đặc biệt là các cuộc diễn tập quy mô lớn với nhiều nội dung, phương pháp mới. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào huấn luyện, diễn tập ở các cấp; chỉ đạo các cuộc hội thi, hội thao, nhất là tham gia hội thao quân sự quốc tế đạt thành tích tốt, được đánh giá cao”.

Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội thời gian qua vẫn còn tồn tại những bất cập. Một số nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về trình độ tin học, ngoại ngữ, năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc xây dựng “Nhà trường thông minh” còn gặp khó khăn về năng lực quản lý, vận hành hệ thống các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Năng lực làm chủ vũ khí trang bị hiện đại và quản lý, chỉ huy bộ đội của một số cán bộ trẻ, cán bộ mới ra trường còn hạn chế. “Chất lượng công tác huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị mới, huấn luyện đêm, huấn luyện ứng phó với an ninh phi truyền thống có nội dung hạn chế; một số nội dung, chương trình huấn luyện, đào tạo ở nhà trường chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị; chất lượng dạy, học ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và làm việc trong môi trường quốc tế; khả năng khai thác, làm chủ và nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí mới, vũ khí công nghệ cao còn nhiều hạn chế, nhất là làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi; chậm cụ thể hóa và triển khai thực hiện chủ trương xây dựng Tổ hợp công nghiệp quốc phòng”.

Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 167, Vùng 2 Hải quân trong buổi huấn luyện đêm_Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp trong thời gian tới

Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quân đội nhằm thích ứng với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để tận dụng thời cơ, hạn chế tác động tiêu cực của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các cơ quan, nhà trường và đơn vị trong toàn quân cần tích cực thực hiện các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn quân về mục tiêu, yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội chất lượng cao.

Đây là giải pháp rất quan trọng bởi con người là nhân tố quyết định trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ. Yêu cầu về chất lượng nguồn cán bộ quân sự thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng cao, trong đó, quan trọng nhất là phát huy được tính sáng tạo và khả năng tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến của vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Quân đội ta sở hữu số lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự tiên tiến, hiện đại, do đó cần xây dựng đội ngũ sĩ quan chất lượng cao mới đủ sức làm chủ và phát huy được sức mạnh của vũ khí, trang bị kỹ thuật trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tác chiến.

Để đáp ứng yêu cầu đó, cần nâng cao nhận thức cho các tổ chức, lực lượng trong nhà trường quân đội về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đào tạo cán bộ chất lượng cao. Quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về các chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhất là Chỉ thị số 16/CT-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Các nhà trường quân đội cần quán triệt và thực hiện quan điểm đổi mới trong giáo dục và đào tạo, thực sự coi người học là trung tâm. Tập trung đào tạo, huấn luyện học viên sĩ quan về tin học, ngoại ngữ; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng mở, người thầy đóng vai là “người dẫn dắt”, “huấn luyện viên”. Khác với giáo dục truyền thống, giảng viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người hướng dẫn, bồi dưỡng tư duy, óc sáng tạo, giúp người học tự định hướng học tập. Vai trò của giảng viên thay đổi từ người dạy sang người thiết kế, cố vấn, huấn luyện, khơi dậy sự sáng tạo cho người học và xây dựng môi trường học tập thông minh. Vì thế, giảng viên phải trau dồi những kiến thức và kỹ năng mới để có thể áp dụng “giảng dạy thông minh” (Smart Teaching) trong môi trường giáo dục hiện đại. Trong đó, kỹ năng tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông là quan trọng, tạo sự cộng tác, kết nối hiệu quả, dễ dàng chia sẻ tài nguyên học tập và giảng dạy.

Hai là, nâng cao năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường.

Lãnh đạo, chỉ huy ở các cơ quan, đơn vị và nhà trường trong toàn quân là chủ thể trong bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội. Nếu họ có nhận thức tốt, có năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Do đó, cần tăng cường các lớp tập huấn nhằm nâng cao trình độ tin học và ngoại ngữ cho đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Khuyến khích tự học mọi lúc, mọi nơi, học ở mọi người. Duy trì nghiêm chế độ tự học ngoại ngữ ở các cơ quan, nhà trường và đơn vị. Đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp phải nêu gương, trở thành tấm gương tự học và sáng tạo; đồng thời lan tỏa, truyền cảm hứng học tập theo đúng tinh thần “Trên nêu gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Đưa tiêu chí về trình độ tin học, ngoại ngữ vào đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, xét thăng quân hàm, nâng lương, nâng ngạch, nâng bậc.

Trong công tác cán bộ, lựa chọn những cán bộ trẻ, có năng lực, được đào tạo bài bản, đủ phẩm chất và năng lực để đề bạt, bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị. Chú trọng tiêu chí về trình độ, năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, khả năng nghiên cứu khoa học, làm chủ phương tiện, trang thiết bị vũ khí kỹ thuật quân sự hiện đại. Qua đó, tạo động lực cho đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy tích cực nâng cao trình độ tiếp cận và làm chủ khoa học - kỹ thuật, thích ứng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng như những yêu cầu mới trong nhiệm vụ quân sự, quốc phòng hiện nay.

Các sĩ quan của nhiều quân, binh chủng, cơ quan trong quân đội tham gia khóa huấn luyện sĩ quan tham mưu Liên hợp quốc theo hình thức trực tiếp và trực tuyến_Ảnh: TTXVN

Ba là, gắn chặt huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng với nghiên cứu phát triển khoa học quân sự.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu đào tạo phải gắn với nghiên cứu phát triển khoa học quân sự nhằm tạo nên đội ngũ sĩ quan có trình độ cao, đáp ứng nhiệm vụ trong điều kiện mới. Bởi, một mặt, đặc trưng của cuộc cách mạng này là rút ngắn khoảng cách thời gian giữa nghiên cứu và ứng dụng; mặt khác, sự kết hợp giữa huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng với nghiên cứu phát triển khoa học quân sự giúp cho phát huy tốt nhất năng lực đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung nghiên cứu lý luận nghệ thuật quân sự cần tập trung vào đặc điểm của chiến tranh công nghệ cao; phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân đối phó với các hình thái chiến tranh xâm lược mới; hình thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ huy, điều hành tác chiến. Do đó, cần “đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận về quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghiên cứu, đề xuất ban hành và thực hiện hiệu quả Đề án xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại trong giai đoạn mới”. Hiện tại, cần chú trọng nghiên cứu lý luận tổ chức, xây dựng lực lượng tác chiến, nhất là về cơ cấu, tổ chức các đơn vị thích ứng với điều kiện đất nước và trang bị vũ khí, phương tiện mới cho các lực lượng này. Tiến hành nghiên cứu làm chủ khoa học công nghệ hiện đại, tiệm cận trình độ các nước trong khu vực và trên thế giới. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện, đào tạo theo phương thức đưa ngay các sản phẩm khoa học vào ứng dụng trong thực tiễn huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo cần gắn chặt với nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của chiến tranh hiện đại, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Gắn chặt sự phối hợp, kết hợp giữa nhà trường với đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Coi trọng thực tiễn quân sự, luân phiên cử cán bộ, giảng viên ở nhà trường và các cơ quan công tác thực tế ở các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Bốn là, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ theo hướng tiếp cận và ứng dụng hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Toàn quân quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, thực hiện “đổi mới chương trình, nội dung đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phù hợp với từng đối tượng, cấp học; chú trọng rèn luyện bản lĩnh, phương pháp, tác phong chỉ huy, quản lý đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo cho học viên. Tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác bảo đảm huấn luyện đáp ứng yêu cầu “Khoa học - Hiệu quả - Kịp thời” phù hợp với tổ chức biên chế, vũ khí trang bị và cách đánh, sát thực tế chiến đấu”.

Nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự kết nối giữa thế giới thật và ảo thông qua phần mềm công nghệ thông tin, kỹ thuật số và kết nối mạng. Do vậy, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin và kỹ thuật số có vai trò quan trọng đối với các nhà trường quân đội cũng như người học. Các nhà trường quân đội phải tích cực trang bị cho học viên kiến thức kỹ thuật số và kỹ năng sử dụng phần mềm trên các thiết bị trinh sát, đo đạc hiện đại để nâng cao khả năng quan sát, xác định chính xác mục tiêu, tăng khả năng tiêu diệt địch. Vũ khí hiện đại hầu hết nhập khẩu từ các nước tiên tiến, do đó, cần tập trung đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho sĩ quan để nắm chắc tính năng, tác dụng kỹ - chiến thuật của vũ khí, trang thiết bị; làm chủ vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật trong mọi tình huống.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khiến khái niệm “Học” (Learning) được thay thế bằng “Học tập suốt đời” (Lifelong learning). Do đó, các đơn vị cần thường xuyên tạo điều kiện để cán bộ gặp mặt, trao đổi và thảo luận trau dồi kiến thức, học hỏi các mô hình hay, những sáng kiến tốt. Trong giảng dạy cần tăng cường các nội dung tạo ra tình huống có vấn đề để người học, người được huấn luyện dân chủ tranh luận, mở rộng hiểu biết, lĩnh hội kiến thức khoa học quân sự mới. Coi kiến thức trang bị ở nhà trường là nền tảng, là tiền đề để đội ngũ cán bộ tiếp tục trau dồi, bồi dưỡng trong hoạt động thực tiễn sau khi tốt nghiệp.

Môi trường sư phạm quân sự rất quan trọng cho quá trình nhận thức nên việc thiết kế và bố trí các không gian huấn luyện quân sự đặc thù giúp người học hình thành phong cách tư duy quân sự. Do đó, không gian học tập cần đa dạng hơn, thay vì những phòng thí nghiệm hay phòng mô phỏng truyền thống, thì người học cần trải nghiệm học tập bằng không gian ảo, có thể tương tác trong điều kiện như thật thông qua các phần mềm và hệ thống mạng. Các kịch bản huấn luyện mô phỏng cần linh hoạt, từ các dữ liệu thu thập được trên hệ thống, giảng viên liên tục đưa ra những tình huống huấn luyện sát với thực tế, phù hợp với năng lực của sĩ quan, tính năng của từng vũ khí, trang thiết bị, giúp nâng cao hiệu quả huấn luyện chiến đấu.

Năm là, tích cực huy động các nguồn lực, tăng cường đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất huấn luyện.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là yếu tố quan trọng, cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học. Trong những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng hạ tầng, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị dạy học, quản lý đào tạo trong các nhà trường quân đội, như: Hệ thống quản lý, điều hành, phần mềm quản lý giáo dục, các trung tâm mô phỏng huấn luyện, đào tạo, hệ thống giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, dữ liệu thông tin, tài liệu... Đây là những cơ sở nền tảng ban đầu để các nhà trường quân đội tiếp cận, ứng dụng triển khai xây dựng mô hình nhà trường thông minh.

Để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ giáo dục và đào tạo trong tình hình mới, Quân đội cần tiếp tục ưu tiên đầu tư, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng và đổi mới trang thiết bị phục vụ dạy học, nhằm tạo sự đột phá về vấn đề này; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2045. Các nhà trường quân đội cần chủ động khảo sát kỹ, đánh giá đúng thực trạng, xây dựng phương án, dự án, kế hoạch đầu tư, báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc đầu tư phải thiết thực, hiệu quả, bảo đảm tính kế thừa, có trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở kế hoạch tổng thể của từng trường và các nhà trường trong toàn quân, phù hợp với khả năng kinh phí, tiếp cận công nghệ mới, tránh đầu tư dàn trải kém hiệu quả, thất thoát.

Trước những thay đổi mới của thực tiễn, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp về phát triển khoa học, đổi mới giáo dục - đào tạo sĩ quan và ứng dụng các thành tựu khoa học vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời, kịp thời ban hành các nghị quyết nhằm lãnh đạo hệ thống chính trị chủ động tham gia và thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng, đổi mới tư duy, tiến hành đồng bộ các nội dung, giải pháp nêu trên là phương cách để các nhà trường quân đội tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại”, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước trong tình hình mới./.

ST.

Chuyển dịch cấu trúc xã hội mới trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của con người. Mỗi cuộc cách mạng đánh dấu một giai đoạn phát triển sâu sắc toàn diện về kinh tế, văn hoá và xã hội theo những hình thức rất khác nhau. Điều đáng quan tâm là về mặt xã hội, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ thay đổi mạnh mẽ về phương thức sản xuất, mà còn đang tạo ra sự thay đổi diện mạo của cấu trúc xã hội mới.

Một số chiều cạnh về chuyển dịch cấu trúc xã hội trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Một là, hình thành cơ cấu việc làm và nhóm nhân lực mới.

Về mặt xã hội, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm chuyển đổi cơ cấu việc làm và nguồn nhân lực trong các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và nhóm xã hội. Chẳng hạn, đối với dịch vụ giao thông, thế hệ xe không người lái ra đời, hay dịch vụ Grab, Uber; trong lĩnh vực y tế, việc quản lý bệnh án điện tử được thực hiện một cách hiệu quả nhờ khả năng lưu trữ và tổng hợp dữ liệu khổng lồ, cùng tốc độ xử lý mạnh mẽ đường truyền thông tin. Thực tế, nhiều ý tưởng ứng dụng công nghệ thông minh vào đời sống đang tác động đến cơ cấu việc làm, nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống ở khắp mọi nơi trên thế giới. Sự hiện diện của công nghệ dẫn đến những thay đổi trong cấu trúc xã hội. Không ít chuyên gia khẳng định, một bộ phận không nhỏ nhân lực trong các doanh nghiệp sẽ bị thay thế bởi tự động hoá, các máy móc và thiết bị hiện đại. Trong hai thập kỷ tới, với sự tự động hoá, tất yếu dẫn tới không ít ngành nghề truyền thống sẽ biến mất khi xã hội phổ dụng công nghệ mới. Chẳng hạn, nếu như năm 1998, hãng máy ảnh Kodak tuyển dụng 170.000 người lao động, chiếm 85% thị trường giấy ảnh trên thế giới, thì gần đây, lĩnh vực kinh doanh này đã không còn hoạt động...

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ thay đổi mạnh mẽ về phương thức sản xuất, mà còn đang tạo ra sự thay đổi diện mạo của cấu trúc xã hội mới_Ảnh: S.T

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những ngành nghề, các loại hình kinh doanh mới như các việc làm kỹ thuật số và số hóa... Tuy nhiên, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đánh giá là tạo ra ít việc làm hơn trong các ngành công nghiệp mới so với các cuộc cách mạng trước đó. Theo ước tính của Chương trình Công nghệ và Việc làm Oxford Martin, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chỉ tạo ra khoảng 0,5% việc làm mới, thấp hơn nhiều so với cách mạng tự động hoá trước đây (12,5% việc làm mới đã được tạo ra trong giai đoạn 1980 -1990). Nhiều việc làm mất đi đồng nghĩa với việc một bộ phận người lao động sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp do không tìm được việc làm trong khu vực đòi hỏi trình độ và công nghệ cao, dẫn đến sự xuất hiện của “những người lao động bấp bênh” - là những người làm việc bán thời gian, người nhận lương tối thiểu, lao động phổ thông, người cao niên... Một tầng lớp những người lao động chuyển từ việc này sang việc khác để kiếm sống trong khi không có quyền thương lượng và an toàn nghề nghiệp. Hệ quả là sự chia tách, cô lập và loại trừ trong xã hội giữa những người bắt nhịp được với dòng chảy công nghệ và những người yếu thế hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể sẽ dẫn đến nhiều “mặt tối” trong lĩnh vực việc làm ở tương lai.

Do tốc độ thay đổi công nghệ chóng mặt, đòi hỏi người lao động phải có năng lực, kỹ năng, tay nghề để thích ứng nhanh với sự phát triển của các công nghệ đó. Những kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp, kỹ năng xã hội và kỹ năng hệ thống sẽ được yêu cầu nhiều hơn so với các kỹ năng liên quan đến thể chất và kỹ thuật. Nói cách khác, xu hướng việc làm trong kỷ nguyên số là sự đề cao lợi suất của kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng thúc đẩy và bổ trợ cho tự động hoá và số hoá. Các kỹ năng truyền thống như thể chất, quản lý nguồn lực từng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn trước đây đang bị máy móc thay thế nên lợi suất sẽ giảm mạnh.

Đối với Việt Nam, thách thức lớn nhất là khoảng cách phát triển không đồng đều giữa các lĩnh vực và còn cách khá xa so với mặt bằng ở các quốc gia phát triển, khi chúng ta vẫn là một quốc gia đang phát triển, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển, khi hình thức sản xuất người điều khiển máy đơn giản là phổ biến, việc áp dụng trí tuệ nhân tạo hạn chế. Làn sóng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam sẽ tiếp tục tạo ra sự phát triển không đồng đều, một số lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế tạo có thể sẽ bị tụt lại xa hơn so với các ngành như công nghệ thông tin hay viễn thông. Trong bối cảnh đó, yêu cầu về nâng cao kỹ năng lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là hết sức gay gắt. Những kỹ năng giúp người lao động làm việc được trong các dây chuyền tự động hoá, các nhà máy thông minh là yêu cầu bắt buộc, trong khi đây lại là điểm hạn chế của lực lượng lao động Việt Nam.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể lấy đi nhiều việc làm, nhưng cũng sẽ tạo thêm nhiều việc làm và đội ngũ nhân lực mới tham gia vao thị trường lao động toàn cầu. Theo phân tích của một số chuyên gia, việc làm trong các nhóm ngành năng lượng, công nghiệp chế tạo, dịch vụ và nông nghiệp sẽ chứng kiến nhiều biến động mạnh(3). Thực tế hiện nay, nhiều lĩnh vực, ngành nghề đang ứng dụng mạnh công nghệ như giáo dục, y tế, dịch vụ kinh doanh…, tạo ra nguồn nhân lực mới thích ứng với bối cảnh công nghệ số. Những ngành nghề công nghiệp điện tử, dệt may vốn là thế mạnh của Việt Nam và tạo ra nhiều việc làm trong vài thập kỷ qua có thể đứng trước nguy cơ phải cắt giảm nhân lực và việc làm trong quy trình sản xuất. Những tiến bộ về tự động hoá, số hoá giúp giảm chi phí sản xuất cộng với nền tảng công nghiệp phát triển có thể tăng khả năng các nhà máy điện tử và dệt may quay trở lại các nước phát triển để gần hơn với thị trường tiêu thụ lớn. Viễn cảnh cắt giảm việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có thể xảy ra do đại bộ phận người làm nông nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn ở trong tình trạng chưa cơ giới hoá sản xuất và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ số trong một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại.

Mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nam Hightech ứng dụng hệ thống công nghệ nhà màng, điều khiển lưu lượng tưới, dinh dưỡng qua smartphone_Ảnh: TTXVN

Hai là, gia tăng bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm xã hội.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ mở ra nhiều cơ hội làm giàu hơn cho nhóm nhân lực sở hữu và khai thác tốt được công nghệ mới. Trong đó, nhóm nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn cao sẽ có nhiều lợi thế hơn các nhóm nhân lực trung và cao niên, học vấn thấp, ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ mới, công nghệ số hóa. Điều này vô hình trung làm cho khoảng cách thu nhập và tích lũy tài sản giữa các nhóm xã hội ngày càng doãng ra mạnh hơn, giữa một bên là nhóm nhân lực thất thế do ít kỹ năng, chậm thích ứng với công nghệ, dễ bị người máy và tự động hoá thay thế và một bên là những người kiếm được tiền nhờ các ý tưởng và sử dụng thành thạo công nghệ mới. Diễn biến trên tất yếu khiến cho khoảng cách bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội, thậm chí giữa các quốc gia có xu hướng tăng. Hơn nữa, bất bình đẳng về thu nhập trong hầu hết các nước đang tăng lên, thậm chí ở cả các quốc gia đạt nhiều thành tựu lớn về giảm nghèo. Điều này đặt ra bài toán đối với các quốc gia trong quản lý phát triển, hướng đến khai thác hiệu quả các cơ hội mới về thành tựu khoa học - kỹ thuật, giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển.

Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ nhằm làm thay đổi cơ cấu việc làm và giảm nghèo cho các cộng đồng, hộ gia đình nghèo. Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giữa nông thôn - đô thị, nhất là vùng sâu, vùng xa về việc tiếp cận các dịch vụ xã hội vẫn tiếp tục tăng trong thời gian qua. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể tăng cơ hội cho mọi người nhưng không phải ai cũng có kỹ năng và năng lực cần thiết để khai thác triệt để cơ hội này. Những người nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thường thiệt thòi trong tiếp cận thông tin, kỹ năng và công nghệ mới, vì vậy sẽ có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với người dân ở khu vực thành thị.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng có thể dẫn đến việc nữ giới thua thiệt hơn nam giới về cơ hội phát triển trên phạm vi toàn cầu. Trong thực tế, nam giới ngày càng có ưu thế hơn so với nữ giới ở các nghề liên quan đến khoa học máy tính, toán học, kỹ thuật sản xuất và tự động hoá. Nam giới có khả năng tìm được việc làm cao hơn nữ giới trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và điều này có thể tiếp tục đẩy một bộ phận nhân lực nữ rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp, nhất là nhóm nữ đang sinh sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hệ quả là các hộ gia đình có nguồn thu nhập duy nhất từ nhân lực phụ nữ sẽ gặp khó khăn và có thể ngày càng nới rộng khoảng cách bất bình đẳng về giới trong gia đình và bên ngoài xã hội. Điều đáng quan tâm là thực tế này có thế dẫn đến phụ nữ khó cải thiện các cơ hội tham gia chính trị, tiếp cận các nguồn lực kinh tế, xã hội, đặc biệt là giảm tiềm năng đóng góp của phụ nữ vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội ở mỗi địa phương, quốc gia.   

Thực tiễn ở Việt Nam, bất bình đẳng giới vẫn đang là vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển xã hội. Người phụ nữ vẫn bị quy chiếu bởi hệ chuẩn mực xã hội truyền thống và trong định hướng lựa chọn việc làm, phụ nữ thường được hướng vào các công việc truyền thống trả lương thấp để dành thời gian cho hoạt động chăm sóc gia đình. Thực trạng này có thể dẫn đến mất đi các cơ hội về việc làm, thăng tiến của phụ nữ, rơi vào nguy cơ thất nghiệp cao, đặt ra nhiều thách thức mới về bình đẳng giới, đòi hỏi các chính sách liên quan đến Cách mạng công nghiệp 4.0 phải hướng đến thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nam giới và nữ giới trong quá trình phát triển.

Ba là, hình thành mạng lưới và chuẩn mực xã hội mới.

Trong cuộc sống thường ngày, các cá nhân tham gia vào các nhóm mạng lưới xã hội như gia đình, trường học, cơ quan, phường, hội cùng các nhóm sở thích, nhóm bạn bè… Hình thức tương tác truyền thống này thường bị giới hạn trong một không gian xã hội nhất định do khó khăn về khoảng cách địa lý, khả năng di chuyển và các chuẩn mực nhóm.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ thông minh ngày càng phổ biến; các phương tiện truyền thông kỹ thuật số đang kết nối con người với nhau theo những cách hoàn toàn mới, các tương tác gián tiếp qua phương tiện, công nghệ và không gian mạng. Trong một thời điểm, dù ở không gian và vùng địa lý rất xa, nhưng con người có thể gia nhập các nhóm mạng lưới để tương tác và không cần phải gặp gỡ trực tiếp. Các thiết bị như điện thoại di động thông minh, máy tính có kết nối internet cho phép con người xây dựng và tham gia vào mạng lưới, thực hiện các tương tác xã hội mà ít phụ thuộc hơn vào khoảng cách không gian, chênh lệch thời gian. Có thể nói, các công nghệ hiện đại đã và đang tạo điều kiện cho con người thay đổi hình thức, cách thức tương tác và mở rộng các mạng lưới xã hội với quy mô vô cùng lớn, vượt qua các rào cản văn hóa, xã hội, kinh tế, tôn giáo...

Từ khi các phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến xuất hiện cho đến nay, kênh tương tác này đã nhanh chóng trở thành một phương tiện giao tiếp chính của con người, mang lại nhiều lợi ích, mở ra cơ hội học tập, tương tác, phát triển không giới hạn. Tuy nhiên, mặt trái là không ít người, nhất là giới trẻ, đắm chìm vào thế giới ảo, “cô lập với xã hội thực tại”, sao lãng các quan hệ trong đời sống hiện thực vô cùng quan trọng như các quan hệ trong gia đình, trường học và cộng đồng. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân, người thân trong gia đình và cộng đồng. Thực tế xã hội thời gian qua cho thấy không ít thanh, thiếu niên có hành vi lệch chuẩn xã hội, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Tình trạng này nếu không có sự điều chỉnh phù hợp sẽ khiến sự cố kết xã hội ngày càng bị rạn nứt sâu sắc, đặt ra nhiều khó khăn và thách thức trong hoạt động quản lý các phương tiện truyền thông xã hội và việc xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian mạng.

Tóm lại, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang lan rộng trên phạm vi toàn cầu và có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Sự hiện diện của công nghệ hiện đại như tự động hoá, điện toán, số hoá đang dần chiếm ưu thế trong cuộc sống tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và các dịch vụ của đời sống xã hội. Cuộc cách mạng này mang đến nhiều cơ hội cho sự đột phá trong phát triển của mỗi quốc gia, nâng cao chất lượng tăng trưởng, thu nhập quốc dân và đời sống người lao động, nhưng cũng tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh được xem là thế mạnh của quốc gia đó, dẫn đến hiện tượng thất nghiệp và khủng hoảng kinh tế.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động mạnh đến cấu trúc xã hội, quá trình tái cơ cấu ngành nghề, việc làm và hình thành nhóm nhân lực mới ở mỗi quốc gia và địa phương. Song hệ quả của quá trình này có khả năng nối dài sự gia tăng khoảng cách thu nhập, khác biệt và bất bình đẳng giữa các nhóm trong xã hội. Nhóm nhân lực trẻ, có học vấn, chuyên môn cao, nhóm người giàu, nhân lực sống ở các thành phố, nam giới có thể hưởng lợi nhiều hơn từ thành quả của công nghệ số khi tham gia thị trường lao động. Trong khi đó nhóm người nghèo, phụ nữ, người dân sống ở vùng sâu, xa sẽ gặp nhiều bất lợi và nhân lên gấp bội những khó khăn trong việc thích ứng với công nghệ số.

Cuộc cách mạng cộng nghiệp lần thứ tư cũng đang tác động đến sự tương tác, tham gia của các cá nhân vào mạng lưới xã hội và sự chia sẻ các giá trị xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều mạng lưới xã hội trực tuyến và hệ giá trị, chuẩn mực đang được cá nhân tiếp nhận và thực hành đóng vai trò phù hợp với mong đợi xã hội trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, không ít hiện tượng cá nhân tham gia mạng lưới ảo, thể hiện hành vi sai lệnh ảnh hưởng đến sức khỏe thể, tâm, trí lực của cá nhân, hơn thế làm phương hại đến sự lành mạnh của môi trường văn hóa nói chung và tính cố kết xã hội.

Phiên chợ 0 đồng phục vụ công nhân có hoàn cảnh khó khăn bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN  

Có thể nói, bên cạnh những tác động tích cực thì Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đang làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống cá nhân và các cộng đồng, từ cộng đồng nhỏ nhất là gia đình cho đến cộng đồng lớn là thôn, bản và cả mỗi quốc gia. Điều đáng quan tâm là chính cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những động năng mới phá vỡ các định chế kinh tế, chính trị và hệ giá trị, chuẩn mực xã hội truyền thống, đòi hỏi mỗi quốc gia phải sớm định hình lại những định chế và thông lệ mới thích ứng với thời đại mới.

Việt Nam đang hướng đến mục tiêu là quốc gia đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, đạt thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo nhiều cơ hội để Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu này, đồng thời thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, nhóm xã hội và giải quyết các vấn đề nan giải như thiếu việc làm và nghèo đói, phát triển con người, hướng đến một quốc gia phồn vinh, hạnh phúc. Để hiện thực hóa các mục tiêu và khát vọng này, Việt Nam cần có một lộ trình chính sách phù hợp để tiếp tục giải quyết các vấn đề xã hội đang bức thiết đặt ra hiện nay, đồng thời khai thác triệt để các cơ hội và vượt lên các thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chú trọng xây dựng xã hội học tập để mỗi cá nhân, thành viên trong gia đình, cộng đồng không ngừng học tập tiếp thu công nghệ mới; có những hình thức học tập phù hợp để các nhóm yếu thế trong xã hội tham gia học tập và thích ứng với xã hội để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển./.

ST.