Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - VỐN QUÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC!

     Đối với đất nước ta, ổn định chính trị là tài sản vô giá. Điều này đã được minh chứng qua kết quả của gần 40 năm đổi mới, ổn định chính trị là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế đất nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân!
Trong đánh giá của quốc tế về các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam thì ổn định chính trị luôn là yếu tố hàng đầu.  

Điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế
Ổn định chế độ chính trị là một hình thái đặc biệt của vận động xã hội-sự vận động trong trật tự, kỷ cương, bảo đảm các cấu trúc, chức năng cấu thành bản chất chế độ chính trị được giữ vững, tăng cường, không dẫn tới rối loạn, bất ổn. Ổn định chính trị là một nội dung cấu thành phát triển bền vững đất nước.

Trái lại, bất ổn chính trị có thể đe dọa lợi ích của mọi thành viên xã hội cũng như khả năng phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, các bất ổn về kinh tế có thể được khắc phục thông qua kế hoạch ngắn hạn hoặc trung hạn, còn việc khắc phục bất ổn chính trị khó khăn hơn rất nhiều, không chỉ cần thời gian dài hơn, nguồn lực lớn hơn mà còn phải xử lý các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cực kỳ phức tạp.

Đằng sau các bất ổn chính trị là sự rạn nứt các khối đoàn kết xã hội, thậm chí các lực lượng chính trị, các giai tầng xã hội bị cuốn vào xung đột, chiến tranh, làm hao tổn nguồn lực quốc gia, ly tán lòng người, đất nước chia cắt, các thế lực ngoại bang nhân cơ hội can thiệp, ảnh hưởng đến độc lập và chủ quyền dân tộc, đất nước không chỉ bỏ lỡ các cơ hội phát triển mà còn đứng trước nhiều rủi ro. Phần lớn các cuộc xung đột tàn phá các quốc gia trong những năm gần đây đều khởi nguồn từ những bất ổn chính trị trong nước. Trong đó, có những cuộc xung đột đã kéo dài nhiều năm, không biết bao giờ mới kết thúc. 

Khi đổ vốn vào bất cứ quốc gia nào, nhất là những khoản đầu tư lớn, dài hạn, nhà đầu tư phải tìm hiểu cặn kẽ về môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, dân cư của quốc gia đó. Mọi nguy cơ về bất ổn chính trị đều phải được nhà đầu tư phát hiện từ sớm, để từ đó có biện pháp ứng phó hoặc chọn quốc gia khác để đầu tư. Bởi vì những bất ổn về chính trị dễ dẫn tới những bất ổn về kinh tế, bất ổn về xã hội, gây rủi ro lớn cho nhà đầu tư. Thực tế cho thấy trong các cuộc biểu tình lớn trên thế giới, người biểu tình sẵn sàng tấn công, đập phá cơ sở sản xuất, kinh doanh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp. Đầu tư vào một quốc gia có môi trường chính trị bất ổn chẳng khác nào ném tiền vào một canh bạc mà nhà đầu tư gần như cầm chắc phần thua.

Trải qua nhiều năm chiến tranh đau thương, đất nước bị chia cắt, bị tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu rất rõ giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, giá trị của ổn định chính trị để phát triển đất nước, mang lại cuộc sống bình yên. Đối với Việt Nam, ổn định chính trị là điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, ứng phó với các thách thức bên trong và bên ngoài. Bảo vệ Tổ quốc có nội dung cơ bản là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị.

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến động với những lò lửa chiến tranh, xung đột, căng thẳng địa chính trị giữa các nước trên thế giới, nhiều quốc gia bất ổn với những điểm nóng về sắc tộc, tôn giáo... gây e ngại cho nhà đầu tư thì Việt Nam có sức hút lớn nhờ luôn giữ được ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, có vị trí đắc địa trong giao thương và có chính sách ngoại giao đúng đắn, mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh tế. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), quý I-2024, có hơn 6,17 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt hơn 4,77 tỷ USD, tăng 57,9% so với cùng kỳ năm 2023. Vì thế, ổn định chính trị chính là một thành tựu quan trọng từ sự lãnh đạo của Đảng ta.

Ổn định chính trị vì Đảng có uy tín cao với nhân dân
Vậy nguyên nhân nào để đất nước ta có được ổn định chính trị trong suốt bao năm qua?

Có thể nói, Việt Nam luôn giữ được ổn định chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững vị thế lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chính là vì Đảng có uy tín cao gần như tuyệt đối với nhân dân. Đạo đức của Đảng, trí tuệ của Đảng đã được minh chứng từ sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong hơn 94 năm qua, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển kinh tế. Chính vì tin Đảng, yêu Đảng mà nhân dân Việt Nam luôn theo Đảng, dù thử thách, gian lao đến mấy, khó khăn đến mấy cũng không sờn lòng. Sự lãnh đạo của Đảng không nhằm mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu cao đẹp là phấn đấu đưa đất nước ta thành nước phát triển, có thu nhập cao, sánh vai với các cường quốc năm châu, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Cũng vì niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng nên dù các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ, tiến hành các hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây bất ổn chính trị, bất ổn xã hội, mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, nhưng các mưu đồ ấy đều thất bại.

Sự ổn định chính trị có được còn là vì Đảng ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, đoàn kết dân tộc và đoàn kết trong Đảng. Cả hệ thống chính trị, xã hội, nhân dân đoàn kết quanh Đảng tạo thành một khối gắn kết vững chắc. Mọi giai cấp, tầng lớp, lực lượng, thành phần đều hiểu rõ giá trị của mình, từ đó đóng góp vì giá trị chung, mục tiêu chung. 

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Cán bộ, đảng viên cần gương mẫu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta quyết liệt thực hiện cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để loại bỏ các biểu hiện suy thoái, làm trong sạch Đảng, trong sạch bộ máy Nhà nước để giữ vững niềm tin của nhân dân, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cuộc đấu tranh ấy được đại bộ phận nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ và đã mang lại những hiệu quả rất tích cực. Tuy nhiên, trong xã hội thời gian qua cũng xuất hiện những lo ngại về việc “đánh chuột làm vỡ bình” khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Các thế lực thù địch đang tăng cường rêu rao các thông tin xuyên tạc rằng: “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua chẳng qua là tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng”, họ gieo rắc những đồn đoán, suy luận thiếu căn cứ rằng sắp tới sẽ có thêm lãnh đạo A, lãnh đạo B bị xử lý... hòng gây hoang mang trong nhân dân. Rồi họ kết luận xằng bậy rằng “nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng bị kỷ luật, bị vướng vào lao lý do tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ Đảng có lỗi hệ thống không thể khắc phục”. Từ đó, họ kêu gọi rằng “chỉ có thay đổi chế độ tại Việt Nam mới giải quyết được tận gốc vấn đề”.

Đáng tiếc là có những cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tin theo những luận điệu sai trái ấy. Đã có những người bày tỏ tâm trạng bi quan, lo lắng cho sự tồn vong của chế độ ta. Cũng có những người vì tò mò, hiếu kỳ, muốn cập nhật các thông tin “nóng sốt”, những việc "thâm cung bí sử”, những "bí mật cung đình” mà không thể tìm thấy các loại thông tin ấy trên báo chí chính thống nên đã lên mạng xã hội để "hóng" và đã vô tình mắc bẫy kẻ xấu, thế lực thù địch.

Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần hết sức tỉnh táo. Thứ nhất là, cần phải thấy rõ những thành tựu nổi bật của Việt Nam trên tất cả lĩnh vực, cùng với đó là uy tín quốc tế rất cao của đất nước ta trong những năm qua, từ đó hiểu được giá trị và vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình hiện nay, phổ biến, lan tỏa ra quần chúng nhân dân. Thứ hai là, nhận thức được ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đối với sự bền vững của Đảng, của đất nước, từ đó thêm kiên trì, quyết tâm và tin tưởng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh này. Thứ ba là, cán bộ, đảng viên cần phải gương mẫu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ. Cần loại trừ mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Cũng rất cần tránh mọi biểu hiện “cua cậy càng, cá cậy vây”, hành động không vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân mà chỉ vì lợi ích cục bộ ích kỷ của bộ, ngành, cơ quan của mình và cá nhân mình. Nhân dân ta rất tinh tường, luôn phân biệt được rất rõ tốt-xấu, thật-giả. Cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng: Sức mạnh vô song của Đảng ta, của đất nước ta chính là nhờ niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, từ đó đoàn kết được toàn thể dân tộc, toàn thể nhân dân. Thứ tư là, cần nhận thức rõ giá trị của ổn định chính trị đối với sự phát triển của đất nước; từ đó, trong mọi lời nói và việc làm nên hết sức cân nhắc, tránh tạo những tác động bất lợi. Thứ năm là, không xem, không tin, không tán phát thông tin trên các trang mạng của thế lực thù địch, phản động, các thông tin chưa được kiểm chứng. 

Cần khẳng định rằng, ổn định chính trị là vốn quý để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ổn định chính trị không phải là thứ tài nguyên trời ban mà là nhờ năng lực và uy tín lãnh đạo của Đảng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ vấn đề này để có hành động đúng đắn nhằm giữ vững ổn định chính trị vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân./.
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN VỀ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

 



Thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB) ngày càng gay gắt, quyết liệt, mà Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của chúng. Trong khi đó, không ít cán bộ, đảng viên vì mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, bị tác động bởi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cũng như ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, lối sống phương Tây, dẫn đến các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất và các biểu hiện của chiến lược DBHB của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay có vai trò rất quan trọng, là cơ sở để xem xét, phân tích, vạch trần và có biện pháp phòng, chống hiệu quả, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN và Nhân dân ta.

HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ MẠNG XÃ HỘI TỚI ĐỘI NGŨ SĨ QUAN TRẺ HIỆN NAY

 

 

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, những năm gần đây, internet nói chung và mạng xã hội (MXH) nói riêng với ưu thế nổi trội về phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, tốc độ thông tin nhanh, nội dung phong phú, đa dạng… đã đem lại rất nhiều tiện ích cho người sử dụng, trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống con người. Không chỉ là phương tiện kết nối cá nhân, hiện nay nhiều cơ quan, đoàn thể chính trị - xã hội cũng đã ứng dụng những tính năng vượt trội của mạng xã hội để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo điều kiện thuận lọi cho Nhân dân thực hiện các giao dịch trên Cổng thông tin điện tử của Nhà nước...

Phê phán quan điểm: “Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại sẽ thay thế cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”

 


 

Xã hội loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều có sự thay đổi sâu sắc về bản chất của trình độ sản xuất, do các phát minh đột phá của khoa học và công nghệ. Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, dựa trên những thành tựu khoa học và công nghệ đột phá trên nhiều lĩnh vực, tác động toàn diện tới tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh của Việt Nam.

HUY ĐỘNG SỰ THAM GIA ĐÔNG ĐẢO CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH VÀ NHÂN DÂN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

                                      

                                

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không phải đến thời điểm này mới đặt ra mà đây là cuộc đấu tranh bền bỉ kể từ khi Đảng ta ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo Nhân dân thực hiện các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Nền tảng tư tưởng của Đảng ta chính là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay diễn ra ngày càng phức tạp và khó khăn. Yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh này ngoài sự vào cuộc kịp thời, quyết liệt của cả hệ thống chính trị còn đòi hỏi có sự tham gia đông đảo của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh và Nhân dân nhằm huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân đối với lĩnh vực này.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GẮN VỚI BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


 

Trong những năm gần đây, công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế của nước ta đã đạt được những thành tựu phát triển vượt bậc, góp phần củng cố lòng tin, xây dựng mối quan hệ hữu nghị, tốt đẹp với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của nước ta hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng các hoạt động đối ngoại, khuyến khích đầu tư để phá hoại nội bộ. Một mặt, chúng thông qua các quan hệ kinh tế, giáo dục… để chi phối, chuyển hóa về chính trị, đặt điều kiện trong các thỏa thuận về kinh tế để vi phạm chủ quyền của Việt Nam, đồng thời dùng kinh tế làm biến chất, sa đọa đội ngũ cán bộ; mặt khác, chúng ra sức cổ vũ cho các phần tử thù địch khác thâm nhập về nước để hoạt động chống phá từ bên trong.

NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang tăng cường tán phát các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, đẩy mạnh công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng xã hội vừa là vấn đề có tính cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài của cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên.

Những dấu hiệu cơ bản nhận biết thông tin xấu độc trên mạng xã hội

 


 

Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa, trước sự bùng nổ của hệ thống mạng xã hội, bất kỳ cá nhân nào cũng có thể dễ dàng tham gia sử dụng mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau. Ngày 15/7/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, trong đó tại Điều 5, khoản 1 quy định các hành vi đưa thông tin lên mạng bị cấm, Điều 10 quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet. Sử dụng mạng xã hội giống như một con dao hai lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khôn lường. Do đó ngoài những lợi ích mà mạng xã hội mang lại, mỗi cá nhân chúng ta khi tham gia cần phải trang bị cho mình những kỹ năng, kiến thức nhằm nhận diện đúng những thông tin xấu độc để tránh xảy ra những hệ lụy không đáng có.

VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 


 

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch vững mạnh chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, xây Đảng là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò là chiến sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc và nhân dân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thời đại, dự báo trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước sẽ có nhiều khó khăn, thử thách, tác động trực tiếp, nhiều chiều đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong bài viết, tác giả đã đề xuất 07 giải pháp góp phần tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

 

TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ"  CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Trong những năm gần đây, “Bất tuân dân sự” đã hiện diện trên thực tế tại Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, “Bất tuân dân sự” đã trở thành một trào lưu nguy hiểm trong xã hội khi nó đã và đang kháng cự lại sự quản lý củạ chính quyền các cấp. Đặc biệt nguy hiểm hơn, khi “Bất tuân dân sự” đã có dấu hiệu sự can dự, hướng lái của các thế lực thù địch, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những giải pháp sau đây:

Một là, Nhận thức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; giữ vững bản lĩnh chính trị; nâng cao cảnh giác cách mạng. Nêu cao tinh thần tự giác trong chấp hành các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước và kỷ luật của Quân đội; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong đơn vị, góp phần tham gia phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hai là, Chấp hành nghiêm các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong Quân đội, không để bị tác động bởi các hoạt động tuyên truyền, chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch; không đăng tải, in ấn, tán phát, chia sẻ, bình luận cổ vũ, tuyên truyền các nội dung tài liệu về “bất tuân dân sự” và quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, “dân sự hóa hoạt động quân sự”; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch ừên không gian mạng.

Ba là, Nắm chắc và thực hiện nghiêm quy định trong quá trình quan hệ, tiếp xúc, làm việc với các tổ chức, cá nhân người nước ngoài, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị móc nối, lôi kéo tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Bốn là, Thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, phòng chống lộ lọt bí mật. Tích cực tham gia các phong trào xây dựng môi trường văn hóa, tinh thần lành mạnh trong đon vị; phát huy trách nhiệm, tích cực đâu tranh phê phán các biểu hiện tiêu cực, xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân; xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn, tích cực tham gia tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở địa bàn đóng quân, người thân trong gia đình, bạn bè nhận thức đúng về bản chất “Bất tuân dân sự” và âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nâng cao ý thức cảnh giác, không tin, làm theo sự kích động, lôi kéo của các đối tượng xấu tham gia vào hoạt động vi phạm pháp luật./.

 

 

NHỮNG BIỂU HIỆN CHỦ YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ"  DO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TIẾN HÀNH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Trong những năm gần đây, “Bất tuân dân sự” đã hiện diện trên thực tế tại Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, “Bất tuân dân sự” đã trở thành một trào lưu nguy hiểm trong xã hội khi nó đã và đang kháng cự lại sự quản lý củạ chính quyền các cấp. Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành có thể nhận diện những biểu hiện chủ yếu của hoạt động“Bất tuân dân sự” do các thế lực thù địch tiến hành chống phá Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên những nội dung chủ yếu sau đây:

- “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là những hoạt động nhằm vô hiệu hóa một hoặc nhiều quyết sách của chính quyền bằng “sức mạnh hòa bình” của quần chúng; vô hiệu hoặc làm giảm khả năng sử dụng công cụ bạo lực của chính quyền; thường được bắt đầu một cách “tự phát”, “vô hại”, nhỏ lẻ, nhưng sau đó lây lan và được tổ chức khá chặt chẽ.

- “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hệ quả của quá trình tác động, thẩm thấu, “chuyển hóa” lâu dài. Trong đó, các thế lực thù địch đã thẩm thấu các giá trị, tư tưởng trái ngược khiến cho quần chúng nhân dân “nhờn luật”, hình thành tư tưởng “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc xung đột về lợi ích và sự nhũng nhiễu của một bộ phận tha hóa trong bộ máy công quyền.

- Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “Bất tuân dân sự” nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản. Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”...

- Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân quyền”,“dân tộc, tôn giáo” hoặc lợi dụng các sự kiện chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động, như: “Bất tuân cưỡng chế” của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắk Nông, Gia Lai...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật Au ninh mạng, Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (sau đây gọi tắt là Luật Đặc khu, năm 2018); các hình thức “bất tuân” phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài; đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, chống đối các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19... thực chất là để thực hiện “Bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam….

 

 

VAI TRÒ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH TRONG NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đã lựa chọn dùng cán bộ cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ”. Lý luận đóng vai trò quan trọng vì nó là hệ thống tư tưởng chủ đạo được hình thành trên cơ sở tổng hợp các tri thức và kinh nghiệm của loài người tích lũy được trong quá trình lịch sử. Lý luận được đem ra giáo dục cho cán bộ, đảng viên trước hết chính là lý luận chính trị - tư tưởng, lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lý luận liên quan trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng, tới việc củng cố lập trường tư tưởng và nhân sinh quan của người cán bộ lãnh đạo.

Những người cộng sản muốn vươn đến tầm cao văn hóa chính trị thời đại, thực hiện thành công vai trò lịch sử của mình phải có nhiệm vụ nhận thức đầy đủ và phát triển nó trong những điều kiện mới với tư cách là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng.

Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là học tập tư tưởng lý luận mà còn là học tập cả phương pháp, phong cách, đạo đức và lối sống. Đối với người cán bộ lãnh đạo nước ta, việc không ngừng nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là một điều kiện cơ bản để nâng cao trình độ lý luận, khả năng công tác và đạo đức cách mạng, một điều kiện cơ bản để nâng cao văn hóa chính trị./.

 

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ"  CỦA CÁC 
THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành “Bất tuân dân sự”, có thể rút ra: “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hành động phản kháng của người dân khi quyền và lợi ích bị xâm hại, bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động tạo thành mâu thuẫn đối kháng giữa người dân với chính quỵền, từ đó hình thành các phong trào phản kháng Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam hiện nay đã ở mức nguy hiểm, có xu hướng phát triển thành phong trào, trở thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Đối với Quân đội, thể hiện trên các mặt cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, chống đối chính trị tìm cách móc nối, lôi kéo cán bộ Quân đội nghỉ hưu, cán bộ, chiến sĩ đang công tác để tạo dựng “ngọn cờ” cho các hoạt động “bất tuân dân sự” trong phản kháng ý thức hệ

Thứ hai, mạo danh, giả danh cán bộ cấp cao Quân đội nghi hưu và cán bộ, chiến sĩ ỉực lượng vũ trang để tuyên truyền kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt động “bất tuân dân sự”.

Thứ ba, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm dễ gây bức xúc trong đời sổng xã hội liên quan đến Quân đội, các đối tượng tán phát tài liệu nói xấu nội bộ, lãnh đạo, chi huy Quân đội, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội ta, gây hoài nghi, bức xúc trong xã hội, tác động xẩu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ./.

 

 

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGƯỜI TÙ CỘNG SẢN BỊ CAI NGỤC MỔ BỤNG XEM “GAN TO ĐẾN ĐÂU”!

     Vì muốn xem gan của người tù cộng sản “to đến đâu”, cai ngục nhà tù Phú Quốc đã mổ bụng chiến sĩ Trần Huy Mộc, sau đó khâu lại bằng gần 20 mũi chỉ inox để tù binh phải chết dần, chết mòn trong đau đớn. Thế nhưng, người tù binh ấy vẫn sống cho đến ngày đất nước được giải phóng...

Tìm đến gia đình anh Trần Huy Hương (xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương) và được nghe kể những câu chuyện rất xúc động về cha anh: Ông Trần Huy Mộc, sinh năm 1949 tại thôn Quý Cao, xã Nguyên Giáp, nhập ngũ tháng 12-1967, là chiến sĩ thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, Tỉnh đội Hải Dương. Tháng 3-1968, ông biên chế thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140, Mặt trận Quảng Đà.

Tháng 11-1969, khi đang thực hiện nhiệm vụ vận chuyển vải về căn cứ may quần áo cho bộ đội thì ông bị địch phát hiện và bắt giữ. Chúng giam ông tại nhà tù Phú Quốc. 

Tại đây, dù bị địch tra tấn đủ loại hình tàn khốc nhưng ông kiên quyết không khai báo ai chỉ huy? Đơn vị? Quân số bao nhiêu? Làm nhiệm vụ gì? Phương thức hoạt động của bản thân như thế nào? Gia đình ở đâu? Địa chỉ?

Ngước nhìn di ảnh của người cha, anh Hương nghẹn ngào: “Năm 1969, gia đình nhận được giấy báo tử nên tưởng rằng ông đã hy sinh. Đến tháng 3-1974, bố tôi trở về với chằng chịt vết thương trên người, trong đó kinh khủng nhất là 17 vết khâu bằng inox. 

Tôi được đồng đội của bố nói rằng, địch làm như vậy là muốn thử nghiệm loại hình tra tấn mới để khiến tù binh không chết ngay mà phải chịu cảnh đau đớn hành hạ mỗi ngày do vết thương hoại tử. Khi không chịu nổi, tù binh buộc phải khai thông tin. Nhưng dù đau đớn thế nào, bố tôi cũng quyết không cung khai”.

Tháng 3-1973, ông Trần Huy Mộc được trao trả theo Hiệp định Paris và về Tuyên Quang để điều trị vết thương. Tháng 3-1974, ông Trần Huy Mộc là thương binh hạng 1/4 được xuất ngũ về sinh sống tại quê nhà.

Những ngày mới trở về quê, gia cảnh vô cùng khốn khó, ông Mộc phải đi mò cua, bắt ốc sống qua ngày. Trong một lần do ngâm nước ao quá lâu, vết khâu bị lở loét, mưng mủ, ông được đưa đi trạm y tế xã và tháo được 2 mũi khâu. Năm 1987, ngôi nhà mái rạ bị cháy làm mất hai mũi khâu và giấy báo tử của ông. Đến tháng 12-2011, do tuổi cao, sức yếu, lại bị vết thương tái phát thường xuyên, ông Trần Huy Mộc đã qua đời.

Ngày 5-8-2008, sau khi đọc Báo Quân đội nhân dân có đăng bài “Dù chết không đổi tên quê” của tác giả Phạm Xưởng kể về câu chuyện người thương binh anh dũng, trung kiên Trần Huy Mộc dù bị tra tấn dã man trong tù vẫn không đổi tên quê hương xã Nguyên Giáp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã rất quan tâm đến thương binh Trần Huy Mộc. 

Ngày 8-12-2008, Đại tướng ký tặng ông Mộc cuốn sách “Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng”. Vào dịp Tết, Đại tướng cũng đã gửi thiếp chúc Tết đến gia đình ông.

Tháng 11-2017, mộ phần của ông Trần Huy Mộc được cải táng. Điều thật lạ khi trực tiếp tiến hành bốc mộ, chúng tôi cùng anh Hương và gia đình đã đếm đủ 17 mũi chỉ inox cùng hài cốt của ông Mộc. Tuy nhiên, có 15 mũi ở bụng và 2 mũi ở hai bên xương cánh tay. Như vậy có thể khẳng định những ngày ở Phú Quốc, ông Mộc còn bị cai ngục khâu ở hai bên cánh tay.

Với mong muốn lưu giữ, tuyên truyền cho các thế hệ về tội ác của thực dân, đế quốc và khí tiết của các chiến sĩ cách mạng bị tù đày, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã đặt vấn đề sưu tầm 17 mũi chỉ khâu bằng inox và được gia đình chấp thuận. 

Trao hiện vật cho đoàn cán bộ bảo tàng, anh Hương xúc động: “Những mũi chỉ này là bằng chứng rõ ràng nhất về tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. 

Gia đình mong muốn bảo tàng lưu giữ và phát huy giá trị của những hiện vật này nhằm giúp thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của các chiến sĩ cách mạng bị tù đày trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời mong muốn đồng bào mình cảnh giác, phản bác những luận điệu của những kẻ đòi xét lại lịch sử, hòng gỡ gạc, chạy tội cho cái chế độ tay sai tàn ác ngụy quân ngụy quyền. 
Kính cẩn nghiêng mình cảm ơn ông và các anh hùng liệt sĩ đã cống hiến tuổi xuân, hy sinh xương máu cho Tổ Quốc có ngày hôm nay./.

Ảnh: Di ảnh ông Mộc và những mũi chỉ inox địch khâu vào bụng ông tại nhà tù Phú Quốc.
Yêu nước ST.

Cảnh giác trước các âm mưu lôi kéo, kích động

 

Xem thông tin kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; khủng bố; tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; che giấu tội phạm” xảy ra tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk), nhiều bác nghỉ hưu ở khu phố 7, phường Xuân Khanh (Sơn Tây, Hà Nội) không khỏi bất ngờ. Trong giờ uống trà buổi tối, chuyện này được bàn luận sôi nổi.

- Tôi nghĩ với tính chất, hành vi khủng bố dã man, tàn bạo, nguy hiểm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án các bị cáo phải chịu nặng hơn. Thực tế, không chỉ người dân nước ta mà cả thế giới đều lên án mạnh mẽ hành vi khủng bố. Các nước đều đấu tranh kiên quyết và triệt để, không khoan nhượng với tội phạm khủng bố...

Cựu chiến binh Sơn vừa dứt lời, bác Mẫn cũng bày tỏ bức xúc:

- Đúng thế! Đó là chưa kể, những kẻ khủng bố hoạt động có tổ chức nhằm thực hiện mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân, chống phá đất nước, làm xáo trộn cuộc sống bình yên của cả huyện, cả tỉnh. Tại phiên tòa, tất cả bị cáo và luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đều đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngay một số trang mạng phản động lần này cũng không thể có ý kiến phản đối tội danh của các bị cáo, bởi những hành vi nguy hiểm và tội lỗi các bị cáo gây ra đã quá rõ ràng. Đáng lẽ tòa phải tuyên phạt thích đáng hơn. 

Thấy các “bạn hưu” đều không đồng tình với mức án “nhẹ” mà tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk vào đêm 10-6, rạng sáng 11-6-2023, bác Hòa, nguyên là cán bộ ngành tư pháp, giải thích:

- Các bác nói cũng hợp lý, vì với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội khủng bố gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án pháp luật quy định rất nặng. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình đối với 2 bị cáo, tù chung thân đối với 11 bị cáo, các bị cáo khác đề nghị mức án từ 12 tháng đến 20 năm tù giam. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều bày tỏ đã nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, xin được Đảng, Nhà nước, pháp luật, nhân dân và Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộc đời. Đồng thời, các bị cáo cũng xin lỗi những gia đình người bị hại và mong được tha thứ; mong mọi người không nghe theo kẻ xấu, không làm những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Nhận thấy hầu hết bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết còn hạn chế, dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, kích động làm những việc trái pháp luật; sau khi xem xét khách quan, toàn diện vụ án, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo mức án thấp hơn Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị. Cụ thể là tuyên phạt 10 bị cáo mức án tù chung thân, các bị cáo khác bị phạt từ 9 tháng đến 20 năm tù. Như vậy, mức án này thể hiện rõ chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, hợp lý và hợp tình. Nếu các bị cáo có trình độ hiểu biết mà phạm tội thì chắc sẽ bị xử phạt nặng hơn, các bác ạ!

Nghe ông Hòa phân tích thấu đáo, mọi người đều gật gù bày tỏ sự đồng tình. Cựu chiến binh Thắng tiếp lời:

- Tôi thấy bài học rút ra là mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác để không bị lôi kéo, kích động. Các cấp chính quyền cần tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu biết pháp luật, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước. Mỗi gia đình, từng khu dân cư cũng phải thường xuyên quan tâm làm tốt việc này để chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Kẻ xấu sẽ không dụ dỗ, lôi kéo được người dân làm những việc trái pháp luật nếu cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở sâu sát bám nắm, làm cho nhân dân hiểu và có tinh thần cảnh giác, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, các ông nhỉ?

Công bằng xã hội ở Việt Nam là “không để ai bị bỏ lại phía sau”

 

Trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã có sự phát triển lý luận về mô hình phát triển KTTT định hướng XHCN để hướng tới mục tiêu của CNXH, trong đó có bảo đảm công bằng xã hội. Đảng ta khẳng định, thực hiện công bằng xã hội không chỉ dừng lại ở mục tiêu hướng đến mà còn trở thành động lực, tức là thành tố nội tại của phát triển kinh tế, để mỗi bước phát triển kinh tế là một bước thực hiện công bằng xã hội. Đó là nét đặc sắc, ưu việt của chế độ kinh tế mà nước ta đang xây dựng.

Sở dĩ phải định hướng XHCN trong nền KTTT, bởi KTTT chỉ góp phần thực hiện công bằng xã hội trong giới hạn của các quy luật thị trường, thực hiện phân chia lợi nhuận dựa trên lao động, hiệu quả kinh tế và mức góp vốn. Theo đó, người đóng góp nhiều thì hưởng nhiều, đóng góp ít thì hưởng ít.Tự thân KTTT không thể giải quyết triệt để những vấn đề bất công bằng xã hội. Để khắc phục những “thất bại” của thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội, “bàn tay vô hình” của KTTT tất yếu phải gắn với “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, KTTT định hướng XHCN là tất yếu để có thể phát huy mặt ưu điểm, khắc phục được mặt hạn chế của KTTT trong thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.

Để thực hiện tốt công bằng xã hội, Đảng ta chỉ rõ điều kiện căn bản là phải bảo đảm công bằng trong phân phối. Theo đó, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Như vậy là vừa thực hiện phân phối theo quy luật KTTT, vừa thực hiện phân phối theo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn (KTTT) chính là nhằm mục đích tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, giải phóng sức sản xuất, khơi mở, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và năng lực chủ quan của mỗi con người. Đồng thời và cùng với đó, thực hiện phân phối thông qua các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội (định hướng XHCN) nhằm bảo đảm mức bình đẳng có thể cho những nhóm người dễ bị tổn thương và yếu thế trong xã hội.

Cách thức phân phối theo các nguồn lực khác thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội khắc phục được những điểm yếu cốt tử của KTTT, nắn KTTT phục vụ các mục tiêu của CNXH. Đó cũng là phương thức để vừa phát triển kinh tế mạnh mẽ, vừa “giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân”(2) bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phòng ngừa xu hướng tự phát chệch quỹ đạo phát triển kinh tế. Có như vậy mới bảo đảm được tính thực tiễn và bền vững của chính sách phát triển kinh tế-xã hội, phát triển kinh tế và công bằng xã hội mới được thực hiện đúng nghĩa.

Hiện nay, Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những quốc gia điển hình về giảm nghèo đa chiều bền vững, đầu tư hiệu quả cho phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, việc làm, xây dựng môi trường sinh thái, cải thiện an sinh xã hội, bảo đảm phúc lợi xã hội, không những làm cho kinh tế phát triển mà còn bảo đảm thực hiện tốt công bằng xã hội. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, các chỉ tiêu đều đạt và vượt mục tiêu nghị quyết đề ra. Trong tổng số 26 chỉ tiêu có 5 chỉ tiêu vượt và hoàn thành trước thời hạn; 16 chỉ tiêu đạt mục tiêu vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022; tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng từ 86USD năm 1986 lên 4.110USD năm 2022. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, như về nhà ở, đến năm 2020, Nhà nước đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Trong 3 năm phòng, chống dịch Covid-19 (2020-2022), Chính phủ và các cấp, các ngành, các địa phương đã hỗ trợ với số tiền hơn 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo hỗ trợ cho hơn 68 triệu lượt người dân, người lao động gặp khó khăn. Hiện có trên 1,2 triệu người có công và thân nhân đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình trên địa bàn. 

Liên hợp quốc cũng đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu thiên niên kỷ.Những thành tựu đạt được đã khẳng định bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Đảng, Nhà nước ta nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là người trực tiếp được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế-xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Để bảo đảm công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Tập trung hoàn thiện quan hệ phân phối, khuyến khích làm giàu chính đáng, thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người. Bảo đảm tính thực tiễn và tính ổn định, tính bền vững, phù hợp của chính sách xã hội, tạo địa bàn và nguồn lực thuận lợi cho kinh tế phát triển. 

Tựu trung lại, nhận thức về công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay cần có quan điểm khách quan, cái nhìn lịch sử, cụ thể trong đánh giá, không mắc vào cái nhìn phiến diện, méo mó, lệch lạc và các mưu đồ chính trị của các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, những người "mượn" cớ đấu tranh cho công bằng, tiến bộ xã hội nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Chỉ có trên quan điểm như vậy mới có thể so sánh, đánh giá thành tựu, khẳng định tính ưu việt trong phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.