Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Tình hình phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn 1991 đến nay

 


 Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thóai trào. Các thế lực thù địch đẩy mạnh cuộc tiến công toàn diện vào chủ nghĩa xã hội khoa học. Chúng ra sức xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, tìm cách chứng minh cho sự “lỗi thời”, “sự cáo chung” của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chúng ra sức truyền bá các quan điểm tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xã hội dân chủ và các quan điểm sai trái; đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các đảng cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, hòng làm tan rã hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thống trị của của hệ tư tưởng tư sản, chế độ tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Bởi vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng trở nên quyết liệt, phức tạp.

Hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nhất và là lực lượng chính trị quan trọng đang tiếp tục kiên trì cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại không những trụ vững trước những thử thách khắc nghiệt, mà còn lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại là một thực tế sinh động chứng minh cho sức sống và khả năng tự đổi mới của chủ nghĩa xã hội, là đóng góp quan trọng đối với việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện lịch sử mới. Cùng với đó, phong trào cộng sản và công nhân ở các khu vực khác trên thế giới cũng có những chuyển biến tích cực, từng bước lấy lại uy tín, ảnh hưởng trong đời sống chính trị - xã hội các nước.

Thực tiễn trên tác động nhiều chiều đến quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là cơ sở rất quan trọng để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới.

Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội giai đoạn 1991 đến nay

 


Sau năm 1991, nhất là từ những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã và đang tác động toàn diện và sâu sắc đến tất cả các nước. Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đem lại cả thuận lợi và thách thức đối với tất cả các quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển.

Trong giai đoạn hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung, là nguyện vọng tha thiết của nhân loại tiến bộ, là nhu cầu cơ bản của các quốc gia. Song, trong những năm qua, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Mặc dù, cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm, nhưng về cơ bản các nước lớn vẫn vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, song khía cạnh đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng trong quan hệ quốc tế.

Trong những năm qua, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã và đang điều chỉnh, thích nghi kéo dài sự tồn tại. Hiện tại, chủ nghĩa tư bản vẫn còn tiềm năng phát triển nhất định, tuy nhiên, bản chất và những mâu thuẫn xã hội không thay đổi mà ngày càng sâu sắc hơn. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinnh tế, chính trị, xã hội, vẫn tiếp tục xẩy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản”1.

Bên cạnh đó, loài người hiện đang đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu hết sức phức tạp cần phải giải quyết như: Dân số, môi trường, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, tệ nạn xã hội, khủng bố, xung đột, tội phạm... Những vấn đề toàn cầu tác động toàn diện, sâu sắc đến đời sống xã hội, đòi hỏi sự chung tay của tất cả các nước trong giải quyết, không một cuộc quốc gia nào có thể đứng ngoài.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.68-69

Lý luận về cách mạng vô sản ngày càng phát triển

 


 Từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nước thuộc địa, nửa thuộc địa giành được độc lập, lựa chọn con đường bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, trực tiếp tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trước thực tế đó, lý luận cách mạng vô sản được tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản như: truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin; tiến hành cách mạng vô sản ở nước thuộc địa, chậm phát triển, đang phát triển; xây dựng chủ nghĩa xã hội; mối quan hệ giữa phát triển và không phát triển. Nổi bật trong những nội dung này là tư tưởng của Mao Trạch Động; tư tưởng của Xamia Amin (Ai Cập) về nước đang phát triển tất yếu quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tư tưởng của Agiende (Chile) về quá độ hòa bình lên chủ nghĩa xã hội. Dù có một số đóng góp cụ thể, nhưng những nghiên cứu trên còn có những hạn chế nhất định, nhất là khi vận dụng vào thực tiễn phong trào cách mạng ở các nước.

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nổi bật là những sai lầm trong quá trình cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, gây tổn thất lớn cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tháng 3 năm 1985, sau khi Đảng Cộng sản Liên Xô bầu M.X.Gópbachốp làm Tổng Bí thư, Liên Xô bắt đầu tiến hành cải tổ, xem xét lại lý luận chủ nghĩa xã hội phát triển của thời kỳ trước. Sau Đại hội XXVII, Ông ta đưa ra khái niệm “chủ nghĩa xã hội đang phát triển” với hàm ý chủ nghĩa xã hội không ngừng phát triển, biến đổi. Giai đoạn này, trong làn sóng đánh giá lại I.Xtalin, giới lý luận Liên Xô đưa ra nhiều định nghĩa về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô như cho rằng nước này vẫn trong giai đoạn cuối của thời kỳ quá độ, phê phán mô hình Liên Xô khác biệt với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đến Đại hội XXVIII (tháng 7 năm 1990), Liên Xô chính thức phủ nhận hoàn toàn chủ nghĩa xã hiện thực đang tồn tại, tuyên bố tiến tới chủ nghĩa xã hội nhân đạo, dân chủ. Dưới sự chỉ đạo của lý luận sai lầm, công cuộc cải tổ của Liên Xô nhanh chóng từ “hoàn thiện chủ nghĩa xã hội” chuyển thành phủ nhận về căn bản chủ nghĩa xã hội, những sai lầm trong cải tổ chính trị, “tư duy mới” với quá trình “dân chủ hóa”, “công khai hóa” đã dẫn tới rối loạn về chính trị, Đảng Cộng sản Liên Xô từng bước nhượng bộ, góp phần dẫn đến Liên Xô sụp đổ.

Ý nghĩa sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1991

 


Trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong bối cảnh mới, các đảng cộng sản đã có những nghiên cứu, tìm tòi để bảo vệ, phát triển nhiều nội dung của chủ nghĩa xã hội khoa học. Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được bảo vệ, phát triển trong giai đoạn này, tiếp tục khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Việc phân tích sâu sắc nội dung, tính chất, mâu thuẫn, mục tiêu, lực lượng, chiến lược, sách lược cách mạng có ý nghĩa rất lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung và từng đảng cộng sản nói riêng.

Sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này trực tiếp góp phần thức tỉnh, khơi dậy, thúc đẩy, cổ vũ các phong trào yêu nước, cách mạng ở các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên giải phóng mình, giành lấy tự do và độc lập dân tộc, dẫn tới sự tan rã và sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa mà chủ nghĩa thực dân cũ đã tồn tại hàng trăm năm, góp phần to lớn làm thay đổi sâu sắc tình hình thế giới trong thế kỷ XX.

Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này là cơ sở để các đảng cộng sản chân chính đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản và chủ nghĩa cơ hội - xét lại dưới mọi màu sắc. Thông qua đó, không chỉ góp phần giúp các đảng cộng sản luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, đấu tranh làm thất bại các quan điểm sai trái, phản động; đảm bảo cho các đảng cộng sản đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, giúp cách mạng các nước đứng vững và đi lên.

Mặc dù, đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, công tác tư tưởng, lý luận của các đảng cộng sản và công nhân vẫn còn những hạn chế nhất định như: những hạn chế trong nghiên cứu, tìm tòi, bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học gắn với thực tiễn cách mạng mỗi nước; còn biểu hiện máy móc, giáo điều, tả khuynh, độc quyền chân lý trong nhận thức và thực hành chủ nghĩa Mác - Lênin ở một số người cộng sản và một số đảng cộng sản; sự trì trệ, bảo thủ cả về nhận thức tư tưởng lý luận và tổ chức thực hiện đường lối. Do vậy, để đảm bảo tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa xã hội khoa học, đòi hỏi các đảng cộng sản phải chủ động phòng, chống, khắc phục bệnh giáo điều, tả khuynh, biệt phái trong vận dụng, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây vừa là bài học lịch sử, vừa có ý nghĩa thời đại sâu sắc đối với những người cách mạng trong bối cảnh phong trào cộng sản, công nhân quốc tế hiện nay.

Chuyển đổi số - Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

 “Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển. Đó là cuộc cách mạng chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ nhằm tái cấu trúc quan hệ sản xuất phù hợp với sự tiến bộ vượt bậc của lực lượng sản xuất. Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế-xã hội, mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại - “phương thức sản xuất số”, trong đó đặc trưng của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng; đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số”

Cách mạng chuyển đổi số phải được thực hiện với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi do Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, đưa đất nước đi tắt đón đầu phát triển vượt bậc. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng nền tảng số kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ 3 trong ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số

Ý nghĩa việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học của V.I.Lênin

 


Cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin không chỉ góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên hoàn bị nhất, sâu sắc và triệt để nhất, xứng tầm là “công cụ nhận thức vĩ đại” để cải tạo thế giới mà còn làm cho mọi loại kẻ thù lớn và nhỏ của chủ nghĩa Mác căm giận đến tột độ, dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc, bôi nhọ với mục đích hạ bệ chủ nghĩa Mác, thực hiện cáo chung một học thuyết khoa học và cách mạng. Thực tế đã chứng minh rằng, chúng càng ra sức chống phá, xuyên tạc, thì chân lý khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin càng tỏa sáng với sức hấp dẫn kỳ lạ, tầm ảnh hưởng xuyên thế kỷ đã và đang được khẳng định. Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chinh phục nhiều thế hệ, mãi mãi soi đường, dẫn lối cho giai cấp công nhân toàn thế giới tiến lên vì đây là học thuyết duy nhất từ trước đến nay chỉ ra mục tiêu, con đường, lực lượng và phương thức đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc và giải phóng con người; đưa những người bị áp bức, bóc lột trở hành chủ nhân xây dựng chế độ mới.

Nghiên cứu, nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam luôn là vấn đề thời sự, có ý nghĩa thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần tiếp tục giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức dân chủ. Đây là hình thức bắt buộc đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, nếu không muốn làm tha hóa bản chất quyền lực của mình.

Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý nhằm tăng năng suất lao động. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI cần phải phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, trên cơ sở đó xây dựng đội ngũ công nhân tiên tiến, cách mạng, nắm vững sứ mệnh lịch sử của mình và từng bước xây dựng chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu như phác họa của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ba là, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thực hiện tốt liên minh công nông trên cơ sở đảm bảo lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội.

Bốn là, xác định đúng về thời đại. Đây là nội dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là một trong những cơ sở lý luận và thực tiễn hàng đầu, quan trọng nhất cho Đảng, Nhà nước Việt Nam hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại.

Cải tiến phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

 Cải tiến phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, bộ “tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Bảo đảm nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng không trùng với nhiệm vụ quản lý; phân biệt và quy định rõ nhiệm vụ cụ thể của các cấp lãnh đạo trong các loại hình tổ chức đảng, tránh tình trạng bao biện làm thay, hoặc tồn tại song trùng, hình thức. Đổi mới mạnh mẽ việc ban hành và quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thật sự là các “tế bào” của Đảng. Đồng thời, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động của Đảng. Ban hành Quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát gắn với phát hiện, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng kiểm tra, giám sát để tham nhũng, tiêu cực.

Liên minh giai cấp trong cách mạng vô sản

 


Trong giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen đề cao vai trò của liên minh công nông không chỉ trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền mà còn giai đoạn sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền. Vấn đề liên minh công nông được đề cập trong giai đoạn này rất phong phú như: Tư tưởng liên minh với các đảng của giai cấp công nhân; xác định cương lĩnh liên minh công nông; vấn đề mục đích của liên minh cũng được đề cập một cách rất cụ thể đó là liên minh để đi đến xóa bỏ sự khác biệt giữa hai giai cấp này, dẫn đến xóa bỏ giai cấp nói chung; một trong những vấn đề thuộc về đường lối, phương pháp là không được dùng bạo lực với nông dân, mà phải giáo dục thuyết phục để họ tự nguyện gia nhập vào hàng ngũ của những người vô sản.

Nhận thức về giai cấp nông dân trong giai đoạn này cũng có nhiều điểm mới. Nội dung này thể hiện rõ trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức” (1894). Trong tác phẩm này, Ph.Ăngghen tiếp tục làm rõ vai trò, tính hai mặt của người nông dân; các chính sách đối với nông dân của đảng cộng sản trong các giai đoạn cách mạng. Theo Ph. Ăngghen, không thể coi nông dân là một khối thống nhất mà có những tầng lớp nông dân khác nhau và mỗi tầng lớp ấy đều có những tư tưởng, đặc điểm khác nhau, và họ không ngừng bị phân hóa. Do vậy, các đảng xã hội chủ nghĩa cần phải có những sách lược cụ thể đối với từng đối tượng nông dân, để thu hút họ đứng về phía giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Ph.Ăngghen chỉ rõ đối với tầng lớp đại nông, họ chỉ có thể trở thành đồng minh của những người xã hội chủ nghĩa trong phạm vi nhất định chừng nào họ đấu tranh chống chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến. Còn đối với tiểu nông và trung nông không bóc lột lao động làm thuê, trong điều kiện xã hội tư bản chừng mực nào đó họ cũng bị bóc lột và không tránh khỏi bị diệt vong. Do vậy, nhiệm vụ của các đảng vô sản là phải tìm mọi biện pháp để thu hút bộ phận này về phía giai cấp công nhân trong đó đặc biệt chú ý tầng lớp tiểu nông. Về con đường cải tạo giai cấp nông dân trong tiến trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ cần phải tổ chức những người nông dân vào làm ăn trong hợp tác xã, đương nhiên ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của họ cũng phải chuyển thành tài sản của hợp tác xã. Đây là một quá trình phức tạp tuyệt đối không được dùng cưỡng bức mà phải bằng giáo dục, bằng nêu gương, và sự giúp đỡ của xã hội để những người nông dân tự giác vào hợp tác xã.

Nội hàm, đặc điểm kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

 

Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là thời kỳ phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.

Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Đến năm 2045, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Tư tưởng về chuyên chính vô sản

 


Tư tưởng về chuyên chính vô sản được C.Mác và Ph.Ăngghen bảo vệ, phát triển trong nhiều tác phẩm. Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C.Mác đã chỉ rõ điểm khác nhau căn bản của Công xã Pari với tất cả các cuộc cách mạng trước mà giai cấp vô sản Pháp tham gia là thủ tiêu quyền thống trị của bọn bóc lột trong xã hội tư bản và thực hiện cương lĩnh xã hội của giai cấp công nhân. Nếu như trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, tư tưởng của chuyên chính vô sản được thể hiện là giai cấp công nhân phải đấu tranh tự mình trở thành một giai cấp dân tộc, phải giành lấy dân chủ... thì sau Công xã Pari, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ giai cấp công nhân phải thủ tiêu bộ máy nhà nước tư sản và thiết lập bộ máy nhà nước vô sản... Năm 1879, trong tác phẩm “Chống Duyrinh”, Ph.Ăngghen đã phê phán vấn đề “nhà nước nhân dân tự do”, đồng thời phát triển lý luận về sự tiêu vong của nhà nước chuyên chính vô sản. Đến năm 1891, trong “Lời nói đầu viết cho tác phẩm của C.Mác “Nội chiến ở Pháp”, có bổ sung lý luận về nhà nước, phê phán mọi sự mê tín, sùng bái nhà nước, khẳng định nhà nước sẽ từng bước tiêu vong cùng với sự tiêu vong của giai cấp.

Nhiều nội dung về nhà nước vô sản, dân chủ vô sản, mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính được bổ sung trong giai đoạn này. Thông qua những tác phẩm như: “Nội chiến ở Pháp” (1871), “Chủ nghĩa thờ ơ chính trị” (1873), “Phái Bacunin và trong hành động” (1873), “Bàn về quyền uy” (1872-1873) không những có tác dụng lớn đến phong trào công nhân mà còn phát triển lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản trên những vấn đề cơ bản như chức năng, nhiệm vụ, quyền lực nhà nước; vấn đề dân chủ, nguyên tắc hoạt động của nhà nước; sự khác biệt căn bản giữa nhà nước vô sản với nhà nước tư sản.

Tư tưởng về nhà nước chuyên chính vô sản còn được C. Mác chỉ rõ hơn trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” (1875). Trong tác phẩm này, C.Mác chỉ rõ vai trò của nhà nước vô sản sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, chuyên chính vô sản phải tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Thích ứng với các thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó nhà nước không thể là cái gì khác hơn chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, những phân tích đối với quyền thừa kế tài sản tư hữu, những giải thích về vấn đề quyền uy và khẳng định đối với cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản đã làm phong phú tư tưởng về nhà nước của chủ nghĩa xã hội khoa học.

C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh quan điểm phải đập tan nhà nước tư sản mới có thể thiết lập nền thống trị chính trị vô sản. Ngay sau khi Công xã Pari ra đời, ngày 12/4/1871, C.Mác nhấn mạnh: “Nếu anh liếc đọc chương cuối trong quyển "Ngày 18 tháng Sương mù" của tôi anh sẽ thấy tôi tuyên bố rằng cố gắng tiếp theo của cách mạng Pháp không phải là chuyển bộ máy quân phiệt - quan liêu từ tay nhóm người này sang tay nhóm người khác, như vẫn xảy ra từ trước tới nay, mà là đập tan bộ máy đó, và đó chính là điều kiện tiên quyết của mọi cuộc cách mạng nhân dân thực sự ở lục địa.”[1]. Trong giai đoạn này, cơ sở thực tiễn cách mạng cho phép C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng đinh, muốn xóa bỏ mọi sự bóc lột giai cấp thì giai cấp vô sản coi quyền hành pháp, tức là bộ mát nhà nước là đối tượng lớn nhất, duy nhất cần phải đập tan trước hết, sau đó mới xây dựng chính quyền của mình; ý nghĩa của Công xã là sự phủ định tuyệt đối mọi hình thức thống trị của giai cấp tư sản.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 33, “Mác gửi Cu-Ghen-Man, 12 tháng tư 1871” (1871), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1997, tr.280

Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, văn minh, thật sự tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc, của thời đại.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là chân lý được đúc kết qua lịch sử vẻ vang gần một thế kỷ của Đảng, của dân tộc ta. Là người khởi xướng, lãnh đạo công cuộc kiến tạo kỷ nguyên mới, Đảng ta gánh trên vai sứ mệnh vinh quang, trọng trách nặng nề. Nhân dân đặt niềm tin và kỳ vọng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện: Bản lĩnh về chính trị, thống nhất về tư tưởng, cao về văn hóa, đẹp về đạo đức, khoa học về tổ chức, tiêu biểu về cán bộ, xứng đáng là “người cầm lái vĩ đại” đưa dân tộc đi đến phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân mong muốn và hy vọng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, đặc biệt cán bộ cấp chiến lược, thực sự có đức, có tài, biết lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, có năng lực thiết kế, truyền cảm hứng và làm gương để nhân dân noi theo trên cuộc hành trình dựng xây kỷ nguyên mới.

Sẽ có rất nhiều việc phải làm, phải làm quyết liệt nhưng vững chắc để có được một hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, của hệ thống chính trị tinh gọn, thống nhất, hợp lý, đồng bộ, thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc kết nối - tương tác - chia sẻ, có khả năng thích ứng cao với thời cuộc luôn thay đổi; để có được một đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm khiết, mẫu mực, tiêu biểu hết lòng vì Đảng, vì Dân. Đây thực sự là một cuộc cách mạng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Phương pháp luận khi nghiên cứu về tư tưởng xã hội chủ nghĩa

 


Nghiên cứu môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải quán triệt phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Cũng như nghiên cứu các môn học khoa học xã hội - nhân văn khác, môn học Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa lấy phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa luôn phải quán triệt quan điểm của Ph.Ăngghen: “Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội - cơ cấu do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại; cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử”1.

Nghiên cứu môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải quán triệt quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển và đấu tranh giai cấp; phải chú ý đến các điều kiện khách quan về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử, đồng thời đánh giá đúng vai trò chủ quan của mỗi đại biểu tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chỉ có như vậy mới nắm bắt được thực chất nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa gắn liền với bối cảnh không gian, thời gian đó.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 21, “Lời tựa cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.523.

Phát huy đến mức cao nhất các động lực phát triển đất nước, đặc biệt là tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân, của con người Việt Nam.

Kỷ nguyên mới với những mục tiêu lịch sử đòi hỏi khách quan phải phát huy đến mức cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của nhân dân - chủ thể đóng vai trò trung tâm của sự nghiệp kiến tạo kỷ nguyên mới. Cần chuyển hóa chủ trương, quyết sách, ý chí của Đảng thành nhận thức, thành cảm hứng hành động, sáng tạo của toàn dân, của mỗi người Việt Nam, khởi nguồn từ việc củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân theo nguyên lý: có niềm tin của nhân dân là có tất cả; mất niềm tin của nhân dân là mất tất cả. Niềm tin của nhân dân được bồi đắp, nhân lên từ nhận thức đúng đắn về con đường phát triển của dân tộc do Đảng dẫn đường, chỉ lối; từ sự tôn trọng của Đảng, hệ thống chính trị đối với vai trò làm chủ, quyền làm chủ thật sự của nhân dân; từ những thành quả thực tiễn của đất nước đem lại những lợi ích thiết thực có thể đo đếm được cho mỗi gia đình, mỗi con người Việt Nam; từ những tấm gương trong sạch, trong sáng, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên lý: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ; mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; cần lấy hạnh phúc, sự hài lòng của nhân dân làm tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên… mà Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết cần phải tiếp tục được thể chế hóa, cụ thể hóa và thực thi nghiêm túc trong thực tiễn.

Đột phá trong huy động, sử dụng tối ưu các nguồn lực còn rất tiềm tàng của đất nước.

 Việt Nam ta tài nguyên phong phú, các nguồn lực trong dân còn rất dồi dào, các nguồn lực từ bên ngoài theo các dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo chính sách đối ngoại, hội nhập đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta là rất lớn; nhân dân Việt Nam cần cù, sáng tạo; con người Việt Nam yêu nước, thông minh; nguồn lực vô hình tiềm ẩn trong lợi thế địa chính trị, địa kinh tế của đất nước là vô giá. Chính những nguồn lực to lớn này góp phần quan trọng tạo nên thành tựu vĩ đại của công cuộc đổi mới thời gian qua.

Do những hạn chế của hệ thống thể chế; năng lực lãnh đạo, quản lý và phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên; nhận thức chưa đến nơi của một bộ phận nhân dân…, nhiều nguồn lực của đất nước còn bị thất thoát, phí phạm, sử dụng kém hiệu quả; năng lực, trí tuệ của con người Việt Nam chưa được khởi phát đúng tầm; lợi thế của đất nước chưa được phát huy tương xứng. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn xã hội trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước. Từng đồng tiền, bát gạo; từng mét vuông đất rừng, ngư trường, biên cương; từng vỉa quặng; từng giờ, từng ngày lao động và khả năng của mỗi con người… cần phải được quý trọng, bồi đắp, khai phóng để tạo thành của cải vật chất. Tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát, cần kiệm xây dựng đất nước phải trở thành quốc sách; thành nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng, hệ thống chính trị; thành ý thức, tình cảm, việc làm tự giác của mỗi người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.


 

Nhận biết về tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là toàn bộ những quan niệm, quan điểm tư tưởng phê phán và ước muốn xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, thiết lập một chế độ xã hội công bằng, bình đẳng và hữu ái, đó mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện.

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, một loại hình tư tưởng của nhân loại nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử nhất định trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm trực tiếp và tất yếu của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Khi xã hội loài người chưa có sự phân chia giai cấp (xã hội công xã nguyên thuỷ), con người đều tự do, bình đẳng về mọi mặt một cách tự nhiên, nên xã hội chưa xuất hiện ý niệm, tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi xã hội có của cải dư thừa, một số người chiếm đoạt của cải dư thừa đó, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra trong các thành viên xã hội, giai cấp xuất hiện và nhà nước ra đời. Cuộc đấu tranh giữa người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột, chống lại kẻ thống trị, áp bức bóc lột diễn ra ngày càng quyết liệt. Sự hình thành và phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa qua các thời kỳ lịch sử phản ánh mâu thuẫn xã hội dưới các chế độ tư hữu với tính cách là sự phản kháng tình trạng áp bức, bóc lột và quan hệ xã hội bất công, bất bình đẳng. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “Vì chủ nghĩa xã hội là sự phản kháng và đấu tranh chống sự bóc lột người lao động, một cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ toàn bộ sự bóc lột ấy[1]. V.I.Lênin còn nhấn mạnh: “Xóa bỏ sự khác nhau giữa người giàu và người nghèo. Đó là một nguyện vọng có tính chất xã hội chủ nghĩa. Tất cả mọi người xã hội chủ nghĩa đều muốn như thế”[2].

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng chịu sự quy định của tồn tại xã hội, trước hết là của sự phát triển kinh tế - xã hội, của cơ cấu xã hội - giai cấp, của các quan hệ chính trị và trình độ dân trí của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.



1 V.I.Lênin toàn tập, Tập 1, “Những ʺngười bạn dânʺ là thế nào” (1894), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.346.

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 1, “Vấn đề ruộng đất và cuộc đấu tranh cho tự do” (1906), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.159.

Đột phá về tư duy, nhận thức trong kỷ nguyên mới

 Bước vào kỷ nguyên thống nhất, đổi mới, phát triển (1975 - 2025), Đảng ta bắt đầu bằng đổi mới tư duy, nhận thức lại một cách đúng đắn hơn, khoa học hơn quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đột phá lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với những nhận thức rất mới mẻ mà trước đổi mới còn hoàn toàn xa lạ. Chính đột phá tư duy lý luận đã khai mở con đường đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, tạo ra những thành tựu vĩ đại.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc diễn ra song hành với kỷ nguyên số, kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo mà tiếng nói chung của nhân loại là “không có gì là không thể”. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo đang và sẽ làm đảo lộn phương cách suy nghĩ, sản xuất, sinh hoạt của các quốc gia, cộng đồng và của mỗi con người. Một lần nữa, thực tiễn lại đòi hỏi và tạo điều kiện để chúng ta đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức. Trên cơ sở kế thừa những tư duy khoa học đã tích lũy được qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta cần cởi mở, chăm chú, mạnh dạn tiếp thu những tư duy mới, những xu hướng phát triển mới của nhân loại với phương châm tiến kịp, tiến cùng thời đại. Cần có những đột phá lý luận với cách tiếp cận mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về lộ trình và bước đi; về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với cuộc cách mạng số, kỷ nguyên số; về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc trong kỷ nguyên mới…; trên cơ sở đó, đột phá trong định hướng phát triển các lĩnh vực quan trọng của đất nước, đặc biệt là phát triển đột phá về khoa học - công nghệ, về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, phát huy nhân tài; về phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam; về quản trị quốc gia; về hiện đại hóa quốc phòng, an ninh, nâng tầm đối ngoại, ngoại giao… Chúng ta kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng trên tinh thần không ngừng sáng tạo; không chủ quan, duy ý chí, nhưng kiên quyết không để chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ kìm trói tư duy, nhận thức của chúng ta. “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”(3). Đây thực sự là một cuộc cách mạng - cuộc cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân là chân lý(4). Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thống nhất nhận thức, quyết tâm đổi mới tư duy, lấy đó làm kim chỉ nam cho hành động, chúng ta nhất định sẽ tạo ra bước phát triển chưa từng có cho dân tộc ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu từ Đại hội lần thứ XIV của Đảng

 Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu từ Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đây “là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao”(1). Mục tiêu của kỷ nguyên thứ ba là sự tích hợp ở tầm cao mới, trình độ mới những mục tiêu của hai kỷ nguyên trước, phản ánh sự phát triển về chất của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, của sự vận động biện chứng độc lập - tự do - hạnh phúc. Kỷ nguyên mới đặt ra những yêu cầu lịch sử đặc biệt, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nhận thức sâu sắc, quyết tâm, quyết liệt hành động để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển (1975 - 2025)

 Kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển (1975 - 2025), mục tiêu hàng đầu của Việt Nam là phải chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân, xác lập vị thế quốc tế xứng đáng. Mục tiêu chiến lược đó đặt ra yêu cầu lịch sử phải đổi mới toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc tế. Sau gần 50 năm đất nước thống nhất, 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thực hiện thắng lợi các yêu cầu lịch sử, đổi mới thành công, vượt thoát khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế mới.

Kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975)

 Kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975)mục tiêu sống còn của Việt Nam là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, tiến lên xây dựng chế độ xã hội mới. Mục tiêu chiến lược đó đặt ra yêu cầu phải tập hợp rộng rãi nhất, phát huy mạnh mẽ nhất sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, đập tan ách thống trị của đế quốc, phong kiến, giành và giữ độc lập, tự do; xây dựng những tiền đề ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, dân tộc Việt Nam đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giải quyết thành công yêu cầu lịch sử và hoàn thành xuất sắc mục tiêu chiến lược.

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM - SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA LỊCH SỬ!

     Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân. Thực tiễn cũng cho thấy, chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hoàn toàn không phù hợp với bối cảnh lịch sử-xã hội ở Việt Nam!

Những nghịch lý và hệ lụy của chế độ đa đảng
Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là một khuynh hướng tổ chức đời sống chính trị-xã hội xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 với xu hướng tuyệt đối hóa sự đa dạng, đối kháng của các đảng chính trị. Chế độ đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.

Lịch sử chính trị thế giới cho chúng ta một số bài học để thấy rằng hệ thống đa đảng đối lập nhiều khi không dẫn các quốc gia theo con đường này đến hòa bình, ổn định và phồn vinh, mà ngược lại nó dẫn đến sự bất hòa, phân lập, thậm chí là tê liệt của bộ máy công quyền. Trở lại bối cảnh lịch sử của nước Đức cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Nước Đức thời kỳ này tồn tại nhiều đảng phái chính trị, mỗi đảng đại diện cho những lợi ích xã hội được xác định rõ ràng, tranh giành quyền lực và lợi lộc từ quyền lực, thỏa hiệp và ký kết thỏa hiệp với nhau khi nào có thể. Sự chia rẽ trong đời sống chính trị không chỉ dẫn đến hậu quả đau đớn cho Đức vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà hiện vẫn còn dẫn tới sự bất ổn chính trị, làm gia tăng nghèo đói và bạo loạn ở nhiều nước trên thế giới.

Nhìn lại cuộc cách mạng “mùa xuân Ả Rập” diễn ra năm 2011 cho thấy điều đó. Phân hóa giàu nghèo, tham nhũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự nổi dậy lật đổ chính quyền tại một loạt quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhưng sau khi lật đổ chính quyền, điều mà người dân trông chờ là một nền chính trị ổn định, ít tham nhũng, quan tâm đến đời sống của đại đa số người dân, những gì mà các thế lực bên ngoài rao giảng đã không được thực thi trên thực tế. Thay vào đó là sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái và thế lực chính trị. Cho đến hiện tại, ở các quốc gia này, không có một đảng chính trị hay một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thống nhất, lãnh đạo đất nước khiến xã hội vẫn chưa đi vào ổn định và phát triển.

Thể chế đa đảng với cách thức tổ chức cho phép các đảng đối lập phản đối chính sách của đảng cầm quyền nhằm thực hiện dân chủ, nhưng nghịch lý của nó là khiến chính phủ trở nên phân rã và chia rẽ. Sự phân cực chính trị làm phân tán nguồn lực và các chính sách đem lại lợi ích cho đa số người dân thường sẽ khó được thực thi. Bởi khi không nắm chính quyền, các đảng chính trị sẽ có nhiệm vụ là tìm mọi cách phê phán chính sách của đảng đối lập; mục đích chính của việc làm này không phải là để có tiếng nói phản biện nhằm làm cho chính sách được thực thi một cách tốt hơn mà là để giành giữ lá phiếu cho đảng mình trong các lần bầu cử tiếp theo.

Nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia tổ chức theo chế độ đa đảng đối lập, chúng ta sẽ thấy các đảng chính trị để tranh giành quyền lực, họ không dựa trên lợi ích của đông đảo người dân nhằm giải quyết các vấn đề mà xuất phát từ lợi ích của đảng phái, thậm chí là lợi ích cá nhân hẹp hòi. 

Sự lựa chọn cho ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam
Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.

Tại Việt Nam, vào cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ nguồn lực, các đảng công kích lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng. Sự chia rẽ, công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.

Để chấm dứt sự chia rẽ và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là minh chứng lịch sử cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.

So với thể chế đa đảng đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).

Tuy nhiên phải hiểu rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán, lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.

Lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia theo chế độ đa đảng, đặc biệt là hệ thống đa đảng đối lập đã được phân tích cụ thể ở phần trên. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua "cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó, họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động cho đúng.

Cho đến hiện nay, chế độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”. Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây, thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo, khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam./.
Yêu nước ST.