Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Lý luận về chuyên chính vô sản

 


Tư tưởng về chuyên chính vô sản được C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung nhiều vấn đề mới. Trong giai đoạn trước, hai ông chưa nêu thuật ngữ chuyên chính vô sản. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, tư tưởng về chuyên chính vô sản đã được đề cập, nhưng mới chỉ dừng lại ở quan điểm: “tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”[1]. Đến giai đoạn này, lần đầu tiên C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên thuật ngữ chuyên chính vô sản, luận giải tính tất yếu, tính quá độ lịch sử của chuyên chính vô sản. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư tưởng của hai ông về chuyên chính vô sản.

Tổng kết cách mạng 1848 - 1849, trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”, tư tưởng về chuyên chính vô sản có sự phát triển. Ở tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra các thuật ngữ: “chuyên chính của giai cấp công nhân”, “Chuyên chính của những người bạn đồng minh của nông dân”, “chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản”. Cùng với đó, C.Mác và Ph. Ăngghen còn bổ sung, phát triển lý luận về cách mạng không ngừng, cách mạng vô sản trên những nội dung chính trị, kinh tế và những biện pháp kinh tế - xã hội sẽ tạo ra những biến đổi căn bản trong các quan hệ xã hội gắn với thời kỳ chuyển biến lên chủ nghĩa cộng sản. Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 -1850”, hai ông chỉ rõ, việc cải thiện hết sức nhỏ trong phạm vi nền cộng hòa tư sản là không tưởng, do vậy, khẩu hiệu đấu tranh của công nhân phải là “lật đổ giai cấp tư sản, chuyên chính của giai cấp công nhân”[2]. Quan niệm về chuyên chinh vô sản giai đoạn này đã rõ ràng và chính xác hơn so với tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”.

Đến năm 1852, tư tưởng về chuyên chính vô sản được bổ sung thêm nhiều nội dung mới. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chuyên chính vô sản là bước quá độ tất yếu để đi đến xã hội không có giai cấp; chuyên chính là giai cấp vô sản phải nắm lấy bộ máy nhà nước, đồng thời đại biểu cho lợi ích của nông dân. Trong “Thư gửi Vâyđơmaie đề ngày 05 tháng 3 năm 1852”, C.Mác đã khái quát rõ hơn quan niệm, tính tất yếu, bản chất, quá độ lịch sử của chuyên chính vô sản. C.Mác khẳng định: “Cái mới tôi đã làm là chứng minh rằng: Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ để tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không có giai cấp”[3].

C.Mác và Ph.Ăngghen nêu rõ hơn tư tưởng về nhiệm vụ chuyên chính vô sản, vạch ra phương hướng cho phong trào công nhân thế giới. Theo đó, nhiệm vụ của chuyên chính vô sản được hai ông xác định là: “Xóa bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xóa bỏ tất cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở cho những sự khác biệt ấy, và xóa bỏ tất cả những quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, đồng thời cũng cải biến tất cả tư tưởng nảy sinh từ những quan hệ sản xuất đó”[4]. Nhiệm vụ của chuyên chính vô sản đã thể hiện rõ tính chất triệt để của cuộc cách mạng vô sản. Những tư tưởng về chuyên chính vô sản của C.Mác và Ph.Ăngghen, giai đoạn này đã tiến một bước dài so với “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Những quan điểm về chuyên chính vô sản được C.Mác và Ph.Ăngghen rút ra giai đoạn này là điểm căn bản trong học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước, thể hiện rõ một trong những tư tưởng đặc sắc nhất và trọng yếu nhất của chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước.

Tư tưởng về đập tan nhà nước tư sản là một trong những đóng góp quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn này. Từ tổng kết thực tiễn các cuộc cách mạng giai đoạn này, lần đầu tiên, hai ông nêu luận điểm cách mạng vô sản phải đập tan bộ máy nhà nước cũ của giai cấp tư sản. Theo C.Mác và Ph.Ăng ghen đã chỉ rõ thái độ của giai cấp công nhân đối với nhà nước tư sản là phải “đập tan” nó, chứ không thể sử dụng bộ máy bóc lột vào những lợi ích kinh tế - xã hội và chính trị của mình được, mà phải xây dựng bộ máy nhà nước của riêng mình. Trong tác phẩm “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapactơ”, C.Mác phát triển lý luận về quan hệ cách mạng vô sản đối với bộ máy nhà nước tư sản trong đấu tranh giai cấp ở Pháp, lần đầu tiên ông rút ra kết luận phải đập tan nhà nước tư sản, góp phần làm phong phú và phát triển học thuyết mác xít về nhà nước. Ở đây, vấn đề nhà nước nêu ra một cách cụ thể và kết luận rút ra hết sức chính xác, dứt khóat về mặt thực tiễn: tất cả các cuộc cách mạng trước đây đều chỉ làm cho bộ máy nhà nước thêm hoàn bị, nhiều điều cần làm là phải phá hủy, phải đập tan nó đi. Ông khẳng định: “Tất cả các cuộc cách mạng đã hoàn bị bộ máy đó chứ không đập tan nó, các chính đảng nối gót nhau đấu tranh giành chính quyền đều coi việc đoạt lấy toà lâu đài nhà nước đồ sộ ấy là chiến lợi phẩm chủ yếu của thắng lợi của mình”[5]. V.I.Lênin sau này đã nhận xét: “Kết luận án là cái chính, cái căn bản trong học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước”[6]. Tuy nhiên, V.I. Lênin cũng nhận xét rằng lấy cái gì để thay thế cho bộ máy nhà nước tư sản đã bị đập tan thì vào năm 1852, C. Mác chưa có kinh nghiệm lịch sử cung cấp tài liệu để giải đáp vấn đề đó. Tư tưởng về “đập tan” cũng chưa được C.Mác và Ph.Ăngghen cụ thể hóa rõ ràng, chưa chỉ rõ yếu tố nào của bộ máy nhà nước phải phá huỷ (đập tan) và những yếu tố nào, bộ phận nào có thể được sử dụng tiếp. Lời giải đáp đó chỉ có thể đến Công xã Pari mới được giải đáp chính xác.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 1995, tr.615.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850” (1850), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 1993, tr.48.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 28, “Mác gửi Vâyđơmaiơ 5 tháng 3 1852” (1852), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996, tr.662

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850” (1850), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 1993, tr. 126

[5] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 8, “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bôn na pác tơ” (1852), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.236.

[6] V.I.Lênin toàn tập, Tập 33, “Nhà nước và cách mạng” (1917), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.35.

 

NHẬN THỨC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 
TRONG THỜI KỲ MỚI

 Quan hệ là sự liên đới tác động giữa hai chủ thể (trở lên). Mà hai chủ thể thì chức năng, đặc điểm, tính chất của tồn tại là khác biệt. (Đến gan nằm liền với mật nhưng không lẫn lộn chức năng). Nó chỉ có thể tác động theo cách khác nhau nhưng không lẫn lộn chức năng bằng những vận hành cụ thể. Đảng và nhà nước là hai thực thể chính trị và công quyền khác biệt. Vậy tồn tại những biểu hiện nào của quan hệ. Theo tôi đó là những biểu hiện sau:

Thứ nhất đó là quan hệ giữa lực lượng chính trị và bộ máy công quyền. Lực lượng chính trị là một nhóm người trong dân cư và nó đại diện cho những người đó. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện cho hơn ba triệu đảng viên của Đảng. Nhà nước là cơ quan công quyền đại diện cho toàn dân. Nói cách khác nó là công bộc của dân (làm những gì vì lợi ích cho dân). Giữa đảng và nhà nước là quan hệ mục đích nắm quyền (mục đích của Đảng) và hoạt động quản lý xã hội (của nhà nước). Nếu một đảng cầm quyền, họ sẽ ''thâu tóm” mọi thực quyền của nhà nước bằng chính những người của Đảng nắm các vị trí trong bộ máy công quyền. Nhà nước là công cụ quản lý đại diện cho công dân nhưng chịu sự chi phối của đảng cầm quyền. Chi phối bằng chủ trương, quyết sách, định hướng, hành động đưa chúng vào đời sống qua luật pháp, điều hành hoặc phán quyết của tòa án.

Như thế trong điều kiện một đảng nào đó cầm quyền, họ không có lý do gì phải ''làm thay nhà nước'' cả, vì họ nắm hết các vị trí quan trọng rồi. Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam có biểu hiện làm thay thì phải tìm cho được. Quyết khắc phục thì có thể khắc phục được. Như vậy có quan hệ mật thiết nhưng không có lý do dẫn đến việc lẫn lộn chức năng.

Thứ hai, có sự đan xen chức năng trong một cá nhân giữ vị trí trong bộ máy nhà nước một khi họ là đảng viên của đảng cầm quyền. Đó là sự chuyển tải tinh thần chính trị qua điều hành xã hội. Họ làm việc của công quyền nhưng phải quán triệt tinh thần chính trị của đảng cầm quyền. Thông qua những người này đảng cầm quyền nhà nước và định hướng đối với xã hội.

Nếu họ làm kém, tùy từng mức độ mà họ bị trừng phạt ở những mức khác nhau như khiển trách, cách chức... (ở những nước đa đảng chính trị, bộ máy của đảng cầm quyền yếu kém, làm mất lòng tin của xã hội thì khả năng mất vị trí cầm quyền là rất lớn như chúng ta đã biết). Như thế cũng không có quan hệ nào để dẫn đến lẫn lộn chức năng. Liệu Tổng thống Mỹ Đ. Trăm đương nhiệm mà yếu kém thì liệu nay mai Đảng Cộng hòa còn tín nhiệm ông ta nữa hay không. Đây cũng chính là điều đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam: ''Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về Đảng cầm quyền. Vì vậy các nhà khoa học cần làm rõ qua phân tích, đánh giá, ''mổ xẻ'' căn nguyên và lý giải một cách thoả đáng và trách nhiệm để cùng tìm ra giải pháp hiệu quả và khoa học, khả thi nhất.

Chất lượng của công quyền phản ánh năng lực chính trị của đảng cầm quyền. Một bộ máy công quyền yếu kém, năng lực không hoàn thành được nhiệm vụ, tham nhũng, mắc lỗi tác phong trong điều hành (hách dịch, chây lười, cẩu thả) thì đảng cầm quyền không thể ''vô can” được. Tất nhiên đó là trách nhiệm chính trị của đảng (uy tín với xã hội, cơ hội và niềm tin trong nhân dân...). Bộ máy công quyền đưa xã hội phát triển, tình hình ổn định thì vị thế chính trị của đảng được củng cố.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả, hiệu năng của bộ máy Nhà nước pháp quyễn xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới, kỷ nguyên mới, mỗi cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng mối quan hệ, chức năng của Đảng và Nhà nước là quan trọng, cần thiết.

 

C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử cung cấp phương pháp luận khoa học, cách mạng để nhận thức, cải tạo xã hội loài người


Trong quá trình nghiên cứu lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen trên cơ sở kế thừa có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật do C.Mác và Ph.Ăngghen sang lập không chỉ để giải thích thế giới mà quan trọng hơn là nhằm cải tạo thế giới: đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Nếu các học thuyết triết học duy vật trước C.Mác đã tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng, thì C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm một cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học, nâng triết học lên một trình độ mới: chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà trong nó đã có sự gắn kết chặt chẽ thế giới quan duy vật và phép biện chứng. V.I.Lênin đã đánh giá: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất”[1].

Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã mở ra và làm thay đổi căn bản tư duy, quan niệm của nhân loại mang tính cách mạng về sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”[2].

Quan niệm duy vật lịch sử là phát kiến vĩ đại thứ nhất của C.Mác và Ph.Ăngghen. Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử là học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Học thuyết đó đã chỉ ra quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người là sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao như một quá trình lịch sử tự nhiên. Hai ông đã trình bày cơ cấu của hình thái kinh tế - xã hội và sự vận động, phát triển của nó một cách rõ ràng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng nên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”[3].

Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập nên đã vạch ra quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội, chỉ ra nguồn gốc, động lực sâu xa thúc đẩy sự phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác.

Sử dụng lý luận học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu, mổ xẻ xã hội tư bản chủ nghĩa và đã đi đến khẳng định chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển của xã hội loài người và tất yếu sẽ bị thay thế bằng một xã hội cao hơn - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Rõ ràng, chủ nghĩa duy vật lịch sử mà cốt lõi của nó là học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa C.Mác ra đời là một cuộc cách mạng mang tính đột phá trong toàn bộ quan điểm về xã hội loài người, trang bị phương pháp luận khoa học để phân tích, làm rõ quá trình hình thành, vận động và phát triển của các phương thức sản xuất. Cơ sở khoa học của hệ thống luận điểm mà học thuyết này chỉ ra, cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

Với việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới. “Lần đầu tiên, lịch sử đã được đặt trên cơ sở hiện thực của chính nó. Cái sự thật hiển nhiên mà cho mãi đến lúc đó người ta vẫn bỏ quên mất, là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học v.v.., cái sự thật hiển nhiên ấy giờ đây rốt cuộc đã giành được vị trí thích đáng của nó trong lịch sử”[4].



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 23, Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.53.

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 23, Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.54.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 13, “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” (1859), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.14.

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 19, “C.Mác” (1878), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.166. 

Quá trình hình thành các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen chuyển hẳn sang lập trường duy vật và cộng sản chủ nghĩa, hai ông đã hợp tác chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn để hình thành nên học thuyết của mình.

Tháng 10 năm 1843, C.Mác quyết định rời nước Đức sang Pari, nơi có nền công nghiệp phát triển và một giai cấp vô sản đang trưởng thành với một khí thế cách mạng sôi sục. Mục đích của C.Mác là đi vào phong trào công nhân và hoạt động cách mạng chứ không phải chỉ để xem xét.

Cuối năm 1844, Ph.Ăngghen từ Luân Đôn trở về Đức, gặp C.Mác tại Pari lần thứ hai, từ đây hai ông đã cộng tác gắn bó với nhau chẳng những trong công tác lý luận, hoạt động thực tiễn mà cả trong cuộc sống gần 40 năm.

Trong thời gian từ năm 1844 đến năm1847, thông qua những tác phẩm viết chung và viết riêng, người ta nhận thấy diễn ra quá trình chín muồi dần những quan điểm duy vật về lịch sử, về kinh tế chính trị và về chủ nghĩa xã hội khoa học.

Về chủ nghĩa xã hội khoa học, những phạm trù cơ bản như: vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản; cách mạng vô sản; vấn đề giai cấp vô sản giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản; vấn đề xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, xóa bỏ giai cấp, áp bức, bóc lột; xây dựng một phương thức lao động liên hiệp của những người lao động tự do và sáng tạo... dần được hình thành và hoàn thiện trong nhận thức và lý luận. Những tư tưởng và quan điểm cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng bước được thể hiện trong các tác phẩm viết chung và viết riêng của hai Ông.

Đầu năm 1844, trong lời nói đầu cuốn “Góp phần phê phán triết học Pháp quyền của Hêghen” C.Mác đã trình bày nhiều tư tưởng quan trọng về phương diện xã hội chính trị. C.Mác cho rằng, chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng đất nước khỏi tình trạng lạc hậu, xấu xa hiện nay và lực lượng duy nhất có khả năng tiến hành cuộc cách mạng đó là giai cấp vô sản. Trong tác phẩm này, C.Mác đã phân tích sự ra đời của giai cấp vô sản, vai trò của cách mạng bạo lực, tầm quan trọng của lý luận và sự cần thiết phải kết hợp lý luận với phong trào quần chúng. C.Mác viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê phán vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng bằng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[1].

Lý giải về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, theo C.Mác chính con người đã sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo đã sáng tạo ra con người. “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[2]. Do đó, xóa bỏ tôn giáo là xóa bỏ hạnh phúc hư ảo của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân. Việc phê phán tôn giáo đang làm cho con người thóat khỏi ảo tưởng, để con người suy nghĩ hành động, xây dựng tính hiện thực của mình với tư cách là con người thóat khỏi ảo tưởng, trở nên có lý tính, để con người xoay quanh bản thân mình với các mặt trời thật của mình.

Vì vậy, nhiệm vụ của lịch sử - sau khi cái chân lý của thế giới bên kia mất đi - là xác lập chân lý của thế giới bên này... Phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị.

Về giai cấp vô sản, C.Mác khẳng định nó là kết quả của sự phát triển công nghiệp đang bắt đầu tự mở đường cho mình, vì “không phải sự nghèo khổ hình thành một cách tự phát mà là sự nghèo khổ được tạo ra một cách nhân tạo”. Cho nên, khi tuyên bố giải thể của trật tự của thế giới hiện hành, giai cấp vô sản chỉ làm cái việc là vạch ra điều bí mật của sự tồn tại của chính nó, vì nó chính là sự tan rã thực tế của trật tự thế giới ấy, và “giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”3. Với một niềm tin sắt đá, C.Mác kết luận: “Sự giải phóng người Đức là sự giải phóng con người. Đầu não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của sự giải phóng ấy là giai cấp vô sản”[3].

Tuy nhiên, vào lúc đó, C.Mác vẫn chưa nhận thức một cách rõ ràng chế độ tư bản do mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp gay gắt dẫn đến cách mạng xã hội như thế nào và chỉ thấy rằng cách mạng vô sản mới có thể giải phóng được con người nói chung chứ con đường, điều kiện, biện pháp vẫn còn là những vấn đề chưa được đề cập một cách đầy đủ. Cho nên, C.Mác còn phải đi sâu thêm về triết học, kinh tế, lịch sử, xã hội học, đặc biệt là tìm hiểu sâu phong trào công nhân để nhận thức rõ hơn về chế độ tư bản và những quy luật phát sinh, phát triển của nó.

Một trong những tác phẩm quan trọng của C.Mác là “Bản thảo kinh tế - triết học” ra đời năm 1844. Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm này là vai trò quyết định của lao động, của sản xuất vật chất trong sự sáng tạo ra chính bản thân con người và tiếp tục phát triển con người và xã hội loài người nói chung. Trong khi sáng tạo và phát triển con người, lao động đồng thời chiếm mất tất cả sức lực và thời gian của con người, nô dịch con người, dẫn đến sự xuất hiện sở hữu tư nhân, bóc lột và các giai cấp. Theo C.Mác, đó là “lao động bị tha hóa”. Muốn xóa bỏ sự tha hóa, phải xóa bỏ nguyên nhân đẻ ra nó, đó là chế độ tư bản. Bởi vì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, lao động không còn là hoạt động tự do sáng tạo cho mình và cho người khác mà lao động chủ yếu tạo ra giá trị trao đổi, trong đó quan hệ trực tiếp giữa người lao động và sản phẩm lao động của họ không còn nữa. Sản phẩm lao động của họ trở thành xa lạ đối với họ, mối quan hệ giữa vật chất và người trong sản phẩm không còn nữa, những sản phẩm ấy đã mất nhân tính. Nên sự trao đổi sản phẩm cũng không thể là một quan hệ thực sự mình vì mọi người mà biến thành trao đổi hàng hóa, thành việc mua bán, vì vậy, các quan hệ xã hội cũng mất nhân tính, theo nguyên tắc “trả tiền ngay, lạnh lùng, không tình nghĩa”.

C.Mác đã chia những nghịch lý trong sự tha hóa của công nhân với vật phẩm của họ: Công nhân càng sản xuất nhiều, càng tiêu dùng ít; họ càng tạo ra giá trị thì bản thân họ càng mất giá trị, sản phẩm của họ càng hoàn chỉnh thì họ càng méo mó; vật phẩm càng văn minh thì công nhân càng dã man... lao động càng tinh tế thì công nhân càng mụ mẫm và càng trở thành nô lệ của tự nhiên... lao động đã tạo ra bao nhiêu thứ tuyệt đẹp cho bọn giàu có, nhưng đối với người lao động thì nó chỉ tạo ra sự xơ xác...

Theo C.Mác, sự tha hóa của người lao động không phải là hiện tượng tư tưởng mà là một hiện tượng lịch sử - xã hội. Vì vậy, không phải không khắc phục được tình trạng tha hóa, cũng không phải là khắc phục nó chỉ bằng lý luận, mà phải bằng hoạt động thực tiễn. Việc xóa bỏ sự tha hóa không phải là nhận thức chủ quan mà người ta có thể tuỳ ý tán thành hay phản đối. Sự tha hóa không tự nó mất đi chỉ vì người ta nhận thấy nó là bất hợp lý. Nhưng nó sẽ biến đi khi chế độ tư bản đẻ ra nó tiêu vong do những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản tất yếu phải chuyển sang chủ nghĩa cộng sản.

Nếu như trước kia C.Mác còn quan niệm chủ nghĩa cộng sản như là một học thuyết giáo điều, thì sau hai năm từ 1843 - 1844 đi sâu nghiên cứu các trào lưu chủ nghĩa xã hội không tưởng, kinh tế chính trị và phong trào hiện thực của giai cấp công nhân Pháp, C.Mác đã quan niệm rõ hơn về giai cấp vô sản và về chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản, theo C.Mác, không còn là một sáng kiến tinh thần theo kiểu những nhà không tưởng, mà là kết quả tất yếu của sự phát triển biện chứng của bản thân chế độ tư hữu. Chủ nghĩa cộng sản là sự xóa bỏ một cách triệt để quyền tư hữu vốn là sự tha hóa con người và đánh mất bản chất con người. Chủ nghĩa cộng sản là sự hoàn thiện của chủ nghĩa nhân đạo, là giải quyết một cách căn bản sự đối lật giữa con người và tự nhiên, giữa con người và con người, giữa bản chất và thực tại; giữa chủ thể và khách thể... Tuy nhiên, về chủ nghĩa cộng sản, C.Mác vẫn quan niệm và diễn đạt nhận thức của mình dưới góc độ triết học nhiều hơn và sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như sự tất yếu ra đời của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn những hạn chế, chưa có tính thuyết phục cao.

Cũng vào thời gian này, năm 1844, Ph.Ăngghen viết xong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”, “Tình cảnh nước Anh thế kỷ XVIII” và tình cảnh nước Anh, Hiến pháp Anh”. Trong các tác phẩm này có nhiều quan điểm tương đồng với quan điểm của Mác trong tác phẩm “Lời góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen” và “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”.

Ph.Ăngghen phân tích cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra ở Anh, cũng như những thay đổi sâu sắc về mặt xã hội và chính trị do cuộc cách mạng Công nghiệp đó gây ra. Ph.Ăngghen phê phán gay gắt chế độ chính trị ở Anh, vạch trần tính chất giả dối của hiến pháp Anh và nền dân chủ tư sản. Cuối cùng Ph.Ăngghen đi đến kết luận về vai trò cách mạng của giai cấp vô sản, về sự cần thiết đưa lý luận vào phong trào vô sản, về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản, tất yếu của cách mạng vô sản và vai trò của cách mạng bạo lực.

Ngoài những tác phẩm viết riêng, từ năm 1844 - 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã hoàn thành hai tác phẩm viết chung nổi tiếng “Gia đình thần thánh” và “Hệ tư tưởng Đức”.

Trong “Gia đình thần thánh”, hai ông xác định mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội, phê phán một cách hệ thống triết học duy tâm Hêghen, qua đó hoàn thiện những quan điểm duy vật lịch sử mà nổi bật là vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử; vai trò cách mạng, bản chất sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và con đường thực hiện sứ mệnh đó chỉ có thể bằng cách mạng vô sản.

Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” đã phát triển sâu, rộng những quan điểm duy vật về lịch sử của hai ông. Trong tác phẩm này hai ông tiếp tục phê phán triết học duy tâm, tư biện của Hêghen và phái “Hêghen trẻ”. Đồng thời phân tích một cách có phê phán chủ nghĩa duy vật Phơ Bách, chỉ ra tính chất thuần tuý của chủ nghĩa duy vật và những quan điểm duy tâm về xã hội của Phoi ơ bắc. Hai ông chỉ rõ vai trò của lực lượng sản xuất là động lực phát triển và là nội dung cơ bản nhất của phương thức sản xuất xã hội. Nếu ở các tác phẩm trước, chủ nghĩa cộng sản còn được quan niệm như một thứ chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và ở góc độ triết học nhiều hơn, thì ở tác phẩm này, hai ông khẳng định, xây dựng chủ nghĩa xã hội về thực chất là có tính chất kinh tế, là tạo ra những điều kiện vật chất để thực hiện được một phương thức lao động sản xuất liên hiệp.

Trong tác phẩm này, những quan điểm duy vật về lịch sử được trình bày lần đầu tiên một cách tương đối có hệ thống:

Sản xuất vật chất là cơ sở của lịch sử chứ không phải sự sản xuất ra các ý niệm. Quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là cơ sở tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội, nhằm xác lập lại sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Đời sống quyết định ý thức chứ không phải ý thức quyết định đời sống. Muốn cải tạo xã hội phải cải tạo hiện thực vật chất, chứ không phải phê phán hiện thực tinh thần. Sự phát triển của kinh tế - xã hội quyết định sự phát triển của tất cả các biểu hiện về đời sống tinh thần; Sự phát triển của lịch sử là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác, diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên. Cho đến nay, lịch sử đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội.

Sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản đều tất yếu như nhau. Quá trình đó đòi hỏi một trình độ phát triển cao về vật chất và tinh thần, một giai cấp có tổ chức và có ý thức về những mục đích cần thực hiện, đó là giai cấp vô sản.

 Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng triệt để nhất, là con đường duy nhất đúng đắn thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản. Chủ nghĩa cộng sản là sự phản ánh về mặt lý luận phong trào giai cấp vô sản và là mục đích của phong trào ấy. Nó không còn là những học thuyết được sáng tạo ra từ đầu óc, mà phải đặt nó trên mảnh đất hiện thực.

Cùng thời gian này, C.Mác còn viết “Luận cương về Phơbach” (1845) và “Sự khốn cùng của triết học” (1846 - 1847). Trong Luận cương, khái niệm thực tiễn được coi như hạt nhân của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận điểm: “Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một cách hợp ý khi coi đó là thực tiễn cách mạng.”1 là những cơ sở lý luận quan trọng để C.Mác xây dựng và hoàn thiện học thuyết của mình gắn liền với thực tiễn và phục vụ thực tiễn, bảo đảm cho học thuyết của C.Mác chẳng những để nhận thức thế giới mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới.

Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, C.Mác vừa phê phán những quan điểm kinh tế tiểu tư sản vừa phê phán khuynh hướng xã hội chủ nghĩa không tưởng và bảo thủ của Pruđông. Theo nhận xét của V.I.Lênin, đây là tác phẩm đầu tiên chín muồi về chủ nghĩa xã hội khoa học. Từ chỗ phê phán sự không tưởng về kinh tế của Pruđông, C.Mác đã chuyển sang phân tích một cách có phê phán phương pháp luận của ông ta, chỉ rõ phương pháp nghiên cứu của Pruđông là phương pháp Hêghen được xào nấu một cách sống sượng, lại bị tước mất “hạt nhân hợp lý”. Trong cuộc đấu tranh chống Pruđông, C.Mác đã phát triển những nguyên lý về chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Tóm lại, đến những năm 1847 - 1848, khi những điều kiện lịch sử cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học đã chín muồi, thông qua hoạt động lý luận và thực tiễn của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 1, “Lời nói đầu góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” (1927), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.580.

[2] Sđd, tr.588.

 

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 1, “Lời nói đầu góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” (1927), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.589.

1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 2, Luận cương về Phơbach” (1845), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.10.

Phương pháp lịch sử khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa

 


Phương pháp lịch sử trong nghiên cứu môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tôn trọng khách quan. Khi nghiên cứu các sự kiện, các ý tưởng, các quan điểm tư tưởng xã hội chủ nghĩa... ở mỗi thời kỳ, phải chân thực như nó đã diễn ra, nó vốn là như vậy. Khách quan cũng có nghĩa là không được hiện đại hóa lịch sử, khuôn lịch sử đã diễn ra theo ý muốn chủ quan, không được mô tả một cách sơ lược, cắt xén, lắp ghép, bổ sung thậm chí áp đặt tư tưởng của người nghiên cứu. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải nhận định, đánh giá một cách chân thực, khách quan, chính xác, sâu sắc nội dung tư tưởng của từng đại biểu, của mỗi thời đại và thời kỳ lịch sử.

Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải xem xét tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong một quá trình: phát sinh, hình thành, phát triển của nó, nghĩa là phải đặt nó trong trạng thái vận động gắn với hoàn cảnh lịch sử về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử không gian, thời gian nhất định. Chỉ có như vậy mới thấy được những nấc thang phát triển của tư tưởng, mới có thể so sánh đánh giá đúng đắn những giá trị lịch sử cũng như những hạn chế của tư tưởng và nguyên nhân hạn chế của nó. Điều này giúp cho chủ thể nghiên cứu tránh được sự nhìn nhận máy móc, xơ cứng, phiến diện; đồng thời, bao quát nội dung tư tưởng một cách trọn vẹn cả quá trình từ quá khứ đến hiện tại và xu hướng tới tương lai.

Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 


Đây là một trong những thành quả lý luận lớn nhất của quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học từ năm 1991đến nay. Trong đó, có những đóng góp nổi bật của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1978 đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hình thành, phát triển hệ thống lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, đã trả lời một cách khoa học hàng loạt vấn đề cơ bản về chủ nghĩa xã hội là gì; lộ trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng đảng, phát triển đảng trong tình hình mới; kiên trì và phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc; xây dựng cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa; làm thế nào xây dựng chính đảng cách mạng cầm quyền lâu dài.

Qua các kỳ đại hội đảng, nhất là từ Đại hội XIX (2017), Đại hội XX (2022) đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổng kết những thành tựu lý luận, thực tiễn cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong những năm qua, từ đó hình thành, xây dựng hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Lý luận chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc có nội dung toàn diện, trong đó nhấn mạnh 08 nhiệm vụ, 14 điều cần làm rõ, 10 kiên trì của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 100 năm qua. Những sáng tạo lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc rất phong phú trên các phương diện, như kiên trì và hoàn thiện thể chế lãnh đạo của Đảng, chế độ nhân dân làm chủ, hệ thống pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, văn minh sinh thái, tiếp tục thúc đẩy hiện đại hóa kiểu Trung Quốc, phấn đấu thực hiện mục tiêu “100 năm thứ hai” - xây dựng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa và tươi đẹp.

Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có đóng góp quan trọng trong phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, đặc biệt là nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với nhận thức chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện và hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như: lý luận về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lý luận về xây dựng đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; đã luận giải chủ nghĩa xã hội là gì, vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam... Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”[1].

Từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Cuba cũng có những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, nhất là tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII. Tại Đại hội VIII (tháng 4 năm 2021), với chủ đề “Đại hội của sự tiếp nối lịch sử cách mạng”, Đảng Cộng sản Cuba đều khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Cuba; xây dựng một quốc gia có chủ quyền, độc lập, xã hội chủ nghĩa, phồn vinh và bền vững; xác định các trụ cột chiến lược và động lực cho chiến lược phát triển, gồm: xây dựng một chính phủ hiệu quả, tạo ra chuyển biến mạnh trong sản xuất và hội nhập quốc tế; phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, sáng tạo; bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường; thúc đẩy phát triển con người, công bằng xã hội.

Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cũng có nhiều đổi mới về tư duy, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, là quá trình bổ sung và hoàn thiện đường lối đổi mới đất nước. Trong quá trình đổi mới, Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiếp tục khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Cayxỏn Phômvihản và truyền thống tốt đẹp của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào làm nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho việc tổ chức và hoạt động của Đảng; kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, tại Đại hội XI (2021), Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tiếp tục khẳng định thực hiện tốt các nhiệm vụ chiến lược, đó là bảo vệ vững chắc Tổ quốc và giữ vững thành quả cách mạng, xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội đoàn kết, thống nhất, dân chủ, công bằng và văn minh.

Bên cạnh đó, vào những năm đầu của thế kỷ XXI, đã xuất hiện những tìm tòi về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của phong trào cánh tả Mỹ La tinh với mô hình “Chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI”. Trong giai đoạn phát triển mạnh, phong trào cánh tả Mỹ La tinh là một nhân tố mới tác động tích cực đến cục diện khu vực và thế giới, tạo thuận lợi cho sự phục hồi và phát triển các đảng cộng sản và công nhân ở khu vực cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình khu vực Mỹ La tinh cũng như thế giới diễn ra nhanh chóng, phức tạp với rất nhiều biến động, tạo ra những thách thức lớn về chính trị, kinh tế và xã hội đối với nhiều nước, cho dù là do chính phủ cánh tả hay cánh hữu cầm quyền. Cuộc đấu tranh kiên định của phong trào cánh tả ở khu vực này vẫn tiến tục và duy trì sức ảnh hưởng mang tính đối trọng ở khu vực.

Điểm nổi bật trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay là khẳng định tính phổ biến, đặc thù về mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các đảng cộng sản đều nhấn mạnh, để xây dựng chủ nghĩa xã hội phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài với những hình thức, bước đi phù hợp cho từng giai đoạn cụ thể của mỗi nước. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của mình, tuy có sự khác biệt về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, song sự phát triển lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại cũng có những nét tương đồng. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nước đều phải xây dựng nền kinh tế thị trường, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là ba trụ cột của chủ nghĩa xã hội hiện thực giai đoạn hiện nay. Hoàn thiện ba trụ cột này, vì mục tiêu con người, là con đường xây dựng, hoàn thiện chủ nghĩa xã hội để tiến lên giai đoạn cao hơn. Tính phổ biến là như vậy, song xây dựng và hoàn thiện ba trụ cột ấy lại có tính đặc thù, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử và chính trị mỗi nước, của khu vực và thế giới. Trong đó, điều kiện có ý nghĩa quyết định là giữ vững và tăng cường sư lãnh đạ của đảng cộng sản đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên tất cả các mặt.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 25

 

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Khi đã đề cập mối quan hệ của bất kì yếu tố nào trong xã hội (con người với con người, con người với tự nhiên, con người với tổ chức, các tổ chức với nhau...) trước hết cần nhận rõ những yếu tố có tính độc lập của từng yếu tố khách quan về: chức năng, nguồn gốc, xuất xứ, cơ chế tác động, mục đích tổ chức (chỉ có trong các yếu tố chủ quan), cơ sở hình thành mối quan hệ...

Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước ở Việt Nam thuộc loại quan hệ giữa đảng chính trị với bộ máy công quyền. Đảng là tổ chức của một lực lượng trong một quốc gia (với một số người trong dân cư). Hiện chưa có đảng chính trị nào mà toàn bộ dân cư nước đó đều là đảng viên của đảng đó cả. Và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu, tác giả nào dự báo rằng có thể xảy ra tình trạng là có bao nhiêu dân cư trong một nước thì bấy nhiêu người đều là đảng viên của một đảng chính trị. Thực tiễn 95 năm ra đời và phát triển cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không có tham vọng như thế trong khi rất có nhu cầu và mở rộng điều kiện, sao cho có ngày càng nhiều người muốn tham gia trong hàng ngũ của Đảng.

Trong quá trình ra đời, hình thành và phát triển, quan điểm của Đảng cũng đã nhấn mạnh sự khác biệt này ở nhiều giác độ khác nhau. Trong văn kiện của qua các lần Đại hội Đảng đã nhấn mạnh và khẳng định: Đảng cầm quyền, còn nhà nước quản lý (trực tiếp); Đảng không làm thay nhà nước...

Hơn nữa nếu còn có sự chưa phân định rõ, minh bạch trong mối quan hệ đương nhiên là vẫn còn. Mà đã còn thì sẽ chưa khoa học về thể chế, chưa minh định được chức năng của mỗi chủ thể. Hậu quả xã hội (kinh tế, chính trị, xã hội, quốc tế ...) đương nhiên sẽ xuất hiện và cần phải nhận thức và khắc phục. Ví dụ như văn kiện Đảng đã chỉ rõ được là ''...Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về Đảng cầm quyền”.

Theo đó, để làm sáng tỏ hơn những vấn đề chưa rõ, những nội dung chưa thật sự phù hợp, cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu – Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò trách nhiệm của mỗi đảng viên cần phải phát huy.

 

Tình hình phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn 1991 đến nay

 


 Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thóai trào. Các thế lực thù địch đẩy mạnh cuộc tiến công toàn diện vào chủ nghĩa xã hội khoa học. Chúng ra sức xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, tìm cách chứng minh cho sự “lỗi thời”, “sự cáo chung” của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chúng ra sức truyền bá các quan điểm tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xã hội dân chủ và các quan điểm sai trái; đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các đảng cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, hòng làm tan rã hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thống trị của của hệ tư tưởng tư sản, chế độ tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Bởi vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng trở nên quyết liệt, phức tạp.

Hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nhất và là lực lượng chính trị quan trọng đang tiếp tục kiên trì cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại không những trụ vững trước những thử thách khắc nghiệt, mà còn lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại là một thực tế sinh động chứng minh cho sức sống và khả năng tự đổi mới của chủ nghĩa xã hội, là đóng góp quan trọng đối với việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện lịch sử mới. Cùng với đó, phong trào cộng sản và công nhân ở các khu vực khác trên thế giới cũng có những chuyển biến tích cực, từng bước lấy lại uy tín, ảnh hưởng trong đời sống chính trị - xã hội các nước.

Thực tiễn trên tác động nhiều chiều đến quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là cơ sở rất quan trọng để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới.