Trước, trong và sau khi Đại hội lần thứ XIII của Đảng thành công tốt đẹp,
các thế lực thù địch và những phần tử phản động càng đẩy mạnh thực hiện chiến
lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một
trong những luận điệu đó là phủ nhận cụm từ “phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa” trong dự thảo văn kiện đại hội. Họ cố tình "nhắm
mắt" trước thực tiễn 35 năm đổi mới đã khẳng định phát triển kinh tế thị
trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là sự lựa chọn đúng đắn của
Việt Nam.
Cách đây mấy năm, một số người tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa
học”, “nhà dân chủ” đã phát biểu trên một số tờ báo nước ngoài, trang mạng
xã hội rằng “KTTT" và XHCN khác nhau như nước với lửa, như ngày với đêm,
hoàn toàn đối lập nhau”; “KTTT là phủ định của XHCN và ngược lại”...
Trước khi khai mạc Đại hội XIII, những người này lên diễn đàn “góp ý” vào dự
thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cũng vẫn luận điệu ấy nhưng lại “bổ sung
thêm vấn đề mang tính lý luận” rằng "KTTT định hướng XHCN là khái niệm mơ
hồ” vì thế họ “kiến nghị không nên để cụm từ KTTT định hướng XHCN trong văn
kiện Đại hội XIII”. Không hiểu những người nói trên “nghiên cứu” những gì nhưng
xem họ phát biểu thì những người có hiểu biết chút ít về kinh tế thì cũng cảm
nhận được sự mơ hồ của họ. Bởi lẽ KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ
nghĩa tư bản đã lấy KTTT làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình.
KTTT đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi thăng trầm, tiến hóa theo thời gian
cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế, dưới tác
động của cách mạng khoa học-kỹ thuật. Trong những năm gần đây, dựa theo những
nét khác biệt và tương đồng, người ta đã chia các mô hình kinh tế thị trường
đang vận hành trên thế giới thành nhiều nhóm, tiêu biểu là mô hình thể
chế KTTT tự do (Mỹ, Anh...); mô hình thể chế KTTT xã hội (Đức, Thụy Điển ...);
mô hình thể chế KTTT nhà nước phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc...); mô hình thể
chế KTTT định hướng XHCN như ở Việt Nam....
Tại Việt Nam, khái
niệm KTTT định hướng XHCN được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đại hội IX
của Đảng (tháng 4-2001); theo đó, “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện
nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN, đó chính là nền KTTT định hướng XHCN”. Đại hội lần thứ XII của Đảng
(tháng 1-2016) tiếp tục bổ sung, phát triển: “Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam
là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng thời
bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó
là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền
XHCN”.
Báo cáo Chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp
tục làm rõ thêm khái niệm KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của
nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội
nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản
lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm
định hướng XHCN vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền KTTT định
hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong
đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác
không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan
trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát
triển. Như vậy không thể coi “KTTT định hướng XHCN” là khái niệm mơ hồ.
Cũng phải nói thêm rằng, trong thời gian gần đây ở các nước tư bản phát triển,
dù ở mức độ khác nhau, nhưng KTTT đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng
tiến bộ, là những mầm mống của CNXH trong lòng chủ nghĩa tư bản. Do tính chất
của thời đại, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển
TBCN, cũng có thể quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô
hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước này, sử dụng cả KTTT và
cả kinh tế TBCN để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho CNXH.
Trong “bầu trời u ám”
kinh tế thế giới năm 2020, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận và
tự hào. Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91% so với năm
trước, Việt Nam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Trong bối
cảnh đại dịch Covid-19 và thiên tai gây hậu quả nặng nề thì đây là thành công
lớn của Việt Nam. Lý giải nguyên nhân dẫn đến thành công này, nhiều chuyên gia
kinh tế cho rằng, có nguyên nhân quan trọng từ mô hình thể chế KTTT định hướng
XHCN. Mô hình này tỏ rõ hiệu quả về khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính
sách và phản ứng thị trường đồng bộ. Cùng với đó là sức chống chịu và thành
công trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch Covid-19. Với nguyên tắc quyền
lực Nhà nước là tập trung, thống nhất đã giúp cho chính quyền Trung ương có đủ
sức mạnh và có đủ thẩm quyền để ban hành quyết định nhanh chóng cho toàn hệ
thống. Đây là một ưu thế rất lớn trong cuộc chiến chống dịch khi chính quyền
Trung ương được điều hành bởi những người có năng lực và quyết đoán. Mô hình
phân quyền của một số nước cho thấy việc ban hành các quyết định cần thiết đã
bị chậm trễ hơn nhiều. Mà chậm một ngày thôi dịch bệnh đã có thể lây lan ra
cộng đồng và vượt tầm kiểm soát. Chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế để
bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là quan điểm nhất quán của Chính phủ
Việt Nam. “Chúng ta đã thảo luận, cơ bản thống nhất: Chống dịch đồng bộ, quyết
liệt để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhưng phải
thúc đẩy, giữ vững phát triển kinh tế, giữ ổn định xã hội, kinh tế vĩ mô, bảo
đảm quốc phòng, an ninh”-Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu như vậy tại
phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 1-2020. Có thể nói thể chế KTTT định
hướng XHCN đã là cơ sở để Việt Nam hoàn thành mục tiêu “kép”, vừa phòng, chống
dịch thành công, vừa tập trung nguồn lực phát triển kinh tế. Định hướng XHCN
của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính
sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công
khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững.
Đài BBC, hãng thông
tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ngày 12-1-2021 đã
khẳng định: “Việt Nam đã xử lý kiên quyết, chặt chẽ và ngay từ đầu với đại dịch
Covid-19, nhờ đó hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Như là một thắng lợi kép,
Việt Nam đã phát triển kinh tế trở lại trong khi thế giới còn đầy rẫy khó khăn.
Kết quả là, Việt Nam vượt qua Singapore và Malaysia để vào tốp 4 nền kinh tế
hàng đầu Đông Nam Á, thậm chí Quỹ Tiền tệ quốc tế còn cho rằng Việt Nam đã ở
trong tốp 3, vượt qua Philippines về mức độ thịnh vượng, và cả về tổng sản phẩm
quốc nội thu nhập tính theo đầu người... Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản
(JCER) còn dự báo với khả năng hồi phục và bật dậy nhanh chóng sau dịch
Covid-19, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2023 và
là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia vào năm 2035. Cũng là thời
điểm Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan, theo JCER. Đấy không phải là sự so sánh quá
lạc quan. Điều mà chúng tôi thấy được là Việt Nam đã không bị hụt hơi do hoàn
cảnh và đó là tin tốt đối với một nền kinh tế vốn và vẫn còn đang ở trình độ
thấp”. Nhờ phát triển KTTT định hướng XHCN mà từ một nền kinh tế nông nghiệp,
lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỷ USD và GDP bình quân đầu người chỉ
khoảng 250USD trong những năm đầu đổi mới, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng
đói nghèo, chuyển sang thực hiện và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, các
cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện đáng kể. Chất lượng tăng trưởng được
cải thiện. Thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định. Tỷ trọng giá trị xuất
khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19%
năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp
(TFP) vào tăng trưởng tính chung 10 năm 2011-2020 đạt 39,0%. Tốc độ tăng năng
suất lao động bình quân giai đoạn 2016-2020 là 5,8%/năm. Lạm phát cơ bản giảm
từ 13,6% năm 2011 xuống khoảng 2,5% năm 2020. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu
hàng hóa tăng 3,6 lần, từ 157,1 tỷ USD năm 2010 lên 543,9 tỷ USD năm
2020... Những nhận định đánh giá của các tổ chức quốc tế, cơ quan thông tấn
quốc tế và các con số thống kê nói trên đã minh chứng cho hiệu quả của việc
phát triển KTTT định hướng XHCN của Việt Nam và khẳng định “lời khuyên” của
những người muốn Việt Nam đi chệch đường là không có cơ sở về thực tiễn và luôn
ảo tưởng.
Thực ra không phải bây
giờ mà từ nhiều năm trước, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị
ở cả trong nước và nước ngoài thường xuyên chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc
đổi mới, sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN của nhân dân ta. Chúng
vẫn xuyên tạc rằng, không có nền kinh tế nào là nền KTTT định hướng XHCN; KTTT,
các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ
nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không
có cơ sở khoa học. Có người còn “kiến nghị”: “Nếu bỏ, không có cái đuôi
“định hướng XHCN” thì kinh tế đất nước sẽ phát triển nhanh hơn”... Những
luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân
dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư
tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà
nước, vào con đường đi lên CNXH; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cần phải được
đấu tranh, phản bác.
Để đấu tranh có hiệu
quả trước những luận điệu sai trái nói trên, một mặt chúng ta vẫn tiếp tục hoàn
thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Trong đó cần ưu tiên xây dựng các cơ chế,
chính sách, quy định pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, ổn định, cụ
thể, minh bạch gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Phát
triển đầy đủ và đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là các thị trường
quyền sử dụng đất và thị trường khoa học-công nghệ. Mặt khác cũng cần phải kiên
quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai lầm của các thế lực thù địch.
Mỗi cán bộ, đảng viên
và nhân dân cần có quan điểm vững vàng, kỹ năng tiếp nhận, xử lý thông tin một
cách khoa học trong thời đại bùng nổ thông tin; kiên định, tỉnh táo, không chia
sẻ, bình luận những loại thông tin xấu độc, xây dựng cho được “hệ miễn dịch”
trước thông tin xấu độc. Đồng thời, cần chủ động hơn trong đấu tranh, ngăn
chặn, đẩy lùi loại thông tin này, như giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XII) đã chỉ ra: "Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể,
sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả
đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch,
phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối
đại đoàn kết toàn dân tộc". "Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn
đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với
nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo,
dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, tán phát
tài liệu sai trái...".
Đối với các cơ quan
pháp luật, phải chủ động, thường xuyên, kiên quyết, kịp thời, hiệu quả trong
phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, nhất là các đối
tượng tạo lập, tán phát thông tin xấu độc, lợi dụng thông tin xấu độc để chống
phá Đảng, Nhà nước, chính quyền, nhân dân và xử lý nghiêm minh theo đúng quy
định của pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét