Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng, cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có "mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
Trải qua
35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tư duy lý luận, nhận thức
và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
XHCN đã phát triển toàn diện, sâu sắc hơn, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới giành
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đất nước
ta đang bước vào giai đoạn tiếp tục đổi mới cả về chiều rộng và chiều sâu mạnh
mẽ hơn, toàn diện, triệt để hơn và hội nhập sâu rộng hơn, ở một tầm cao có tính
bước ngoặt nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh
hội nhập quốc tế, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và đang đặt ra những yêu cầu
mới và đứng trước không ít khó khăn, thách thức cả về kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng và an ninh, đối ngoại.
Để tiếp tục
nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, cần phải nắm vững và thực hiện tốt
những vấn đề chủ yếu sau đây:
Một là,
tiếp tục nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa
hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Khi đất nước đang hội nhập
quốc tế sâu rộng thì mối quan hệ giữa đối tác-đối tượng càng trở nên đa dạng,
phức tạp và có những hình thức thể hiện mới trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Cần có cách nhìn biện chứng về đối tác-đối tượng để xác định những hình thức
thích hợp trong hợp tác và đấu tranh. Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác
vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh
hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu về kinh tế, chính trị,
quân sự, ngoại giao. Thực hiện nền quốc phòng hòa bình, tự vệ theo nguyên tắc
“4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không đi theo nước này chống nước
khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước ta; không sử dụng
vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.
Hai là, kết
hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường quốc phòng, an
ninh (QPAN). Thực hiện kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với QPAN trong từng chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của cả nước và trên từng địa phương, chú
trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc
phòng trong việc quy hoạch và phát triển các vùng kinh tế, các ngành công nghiệp,
lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm QPAN làm cơ sở cho những chủ
trương cụ thể. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót đã từng xảy ra trong
việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội và tăng cường QPAN tại một số địa bàn,
nhất là địa bàn chiến lược, trọng yếu về QPAN.
Thực hiện
đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền
đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định
để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội
nhập kinh tế quốc tế mới. Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội
nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được
với những biến động kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh
kinh tế, giữ định hướng XHCN.
Ba là, kết
hợp chặt chẽ QPAN và đối ngoại. Tiếp tục hiện thực hóa tư duy mới của Đảng về mối
quan hệ giữa QPAN và đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ hoạt động đối ngoại trong tình hình mới.
Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục
tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì
đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Tuân thủ các cam kết
quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và
tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của
các cấu trúc khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác
trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực
và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Bốn là, kịp
thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc cho phù hợp với bối cảnh mới của hội nhập quốc tế. Để hiện thực hóa quan
điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện
hội nhập quốc tế, một trong những vấn đề đặt ra là thể chế hóa quan điểm của Đảng
về mối quan hệ này thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, chế tài phù hợp nhằm
giải quyết đúng đắn mối quan hệ này. Xây dựng cơ chế phù hợp để các ngành, các
cấp, mọi tổ chức, lực lượng thực hiện hiệu quả việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh
tế với QPAN và QPAN với kinh tế.
Tiếp tục
quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quân
sự, chiến lược quốc phòng, chiến lược an ninh và các chiến lược chuyên ngành
khác nhằm bảo vệ đất nước; giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, bằng
sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Xây dựng,
củng cố lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước
lớn, bạn bè truyền thống, tạo thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, xuyên suốt
quá trình cách mạng Việt Nam, là vấn đề có tính quy luật của sự tồn tại và phát
triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, nắm vững và
xử lý tốt mối quan hệ lớn này có ý nghĩa định hướng cho việc xử lý các mối quan
hệ khác nhằm đưa đất nước trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét