Gần đây, có
sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư
tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ
thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có
gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy
chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công
khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh
đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những
quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác,
ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh
đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH.
Chủ nghĩa
xét lại có hai khuynh hướng chính: chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” và chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh”. Và dù theo khuynh hướng nào, ngụy trang
dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ nghĩa xét lại
cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng của giai cấp
công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH.
Vì mang
tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu chủ trong điều
kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt nên chủ nghĩa
xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó khăn, phức tạp,
thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình hình mới dẫn đến
phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại thường không đủ khả
năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những thay đổi trong sách
lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững vàng.
Khi Liên Xô
và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới thoái trào, những người
mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn,
khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ
nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Có người thì quay ra
phụ họa với các luận điệu công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm
chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con
đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”,
“hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo trộn về tư tưởng.
Ở Việt
Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt,
chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu
khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng
chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành
động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây
nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi
cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra dao động trước sức
mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không kiên định với đường
lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường chung sống hòa bình.
Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản suy
thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc, một số người bắt
đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào con đường đi lên CNXH.
Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ, cần phải thực hiện đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương
Tây, phi chính trị hóa quân đội...
Đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống
còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo đà
phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản
thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã
từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan
trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng
đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời
đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là
vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính
nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong
xuôi” hay “nhất thành bất biến”.
Chính vì
thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với
tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên,
dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những
nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì
chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ
nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không
phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện
nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp
phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để
dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền
tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng.
Bên cạnh
yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải
nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên
định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu
không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ
nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét
lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên
trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp
đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều,
chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc
nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới.
Đây là
việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó
khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới,
phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và
động cơ trong sáng vì nước, vì dân.
Sau 35 năm
đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở
thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông
sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước
đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm
chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự
chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh
hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động
đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn
có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng
định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn
có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam” đến khắp nơi
trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng
đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng
định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân
tộc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét