“Người ta gọi là giai
cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một
hê thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ
của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa
nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của ho trong tổ chức lao động
xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã
hội ít hoặc nhiều mà họ đươc hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập
đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn
đó có địa vị khác nhau trong một chế
độ kinh tế - xã hội nhất định”[1].
Theo định nghĩa trên,
giai cấp có đặc trưng cơ bản sau:
+ Giai cấp là những tập đoàn người
to lớn có lợi ích cơ bản gắn bó
chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, giai cấp chủ nô, giai cấp nô lệ trong xã hội
chiếm hữu nô lệ; giai cấp địa chủ phong kiến và nông nô trong xã hội phong
kiến; giai cấp tư sản và vô sản trong xã hội tư bản.
+ Giai cấp là những tập
đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định.
Trong mỗi hệ thống sản
xuất xã hội có giai cấp thống trị, bóc lột, có giai cấp bị trị, bị bóc lột. Sự
khác nhau về địa vị của mỗi giai cấp do sự khác nhau trên ba phương diện cơ bản:
khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất; khác nhau về vai trò trong tổ
chức lao động, trong tổ chức quản lý sản xuất; khác nhau về cách thức và quy mô
thu nhập của cải xã hội. Trong đó, sự khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản
xuất đóng vai trò quyết định địa vị giai cấp trong hệ thống sản xuất xã hội.
+ Do sự khác nhau về địa
vị kinh tế dẫn đến tình trạng tập đoàn này chiếm đoạt lao động của tập đoàn
khác. Điều đó nói lên rằng, sự đối lập về lợi ích căn bản do sự khác nhau về
địa vị kinh tế và tình trạng chiếm đoạt lao động giữa các tập đoàn người sẽ dẫn
đến tính đối kháng trong quan hệ giai cấp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét